Người theo dõi

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

CUỘC HÀNH HƯƠNG ĐẦY BI PHẨN CỦA THẨM THUYÊN KỲ

Thẩm Thuyên Kỳ (655?-712?) là một nhân vật khá đặc biệt. Ông tự Vân Khanh, người Nội Hoàng, Tương Châu nay thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc, đỗ tiến sĩ  năm 675 đời Đường Cao Tôn. Ông là người cùng Tống Chi Vấn (656?-710) làm cho luật thơ Đường trở nên hoàn chỉnh. Vào khoảng những năm 684-704, tình hình ở Trung Quốc khá phức tạp. Võ Tắc Thiên khuynh loát nhà Đường rồi lên ngôi Hoàng Đế lập nhà Đại Chu (690-705) ông bị vướng vào những cuộc tranh chấp quyền lực trong cung đình. Phe của ông thất thế nên bị tù và bị đày về Lĩnh Nam cùng với Đỗ Thẩm Ngôn (thân phụ của Đỗ Phủ), Tống Chi Vấn, Vương Vô Cạnh, Diêm Triều Ẩn. Nhưng chỉ có ông và Đỗ Thẩm Ngôn là bị đày đi sâu vào Việt Nam. Đỗ Thẩm Ngôn về Châu Phong (Vĩnh Yên, Phú Thọ). Còn ông thì đến tận Châu Hoan (Thanh, Nghệ, Tĩnh).


Tình hình Âu Lạc trong thời gian này khá yên ắng, nhưng dư âm của cuộc khởi nghĩa của Đinh Kiến và Lý Tự Tiên năm 687 vẫn còn. Trong cuộc hành trình ấy ông đã để lại những bài thơ mà chúng ta có thể sắp xếp theo trình tự thời gian khá hoàn chỉnh theo thứ tự sau:
- Nhập Quỷ Môn quan
- Độ An Hải nhập Long Biên
- Sơ đạt Hoan Châu
- Hoan châu Nam đình dạ vọng
- Thiệu Long tự
- Cửu Chân sơn. Tĩnh Cư tự. Yết Vô Ngại Thượng Nhan
 Chúng ta hãy đi theo những bước chân của Thẩm Thuyên Kỳ trong cuộc hành trình này (để tránh độ dài không cần thiết, tui không post phần nguyên văn chữ Hán)
Nhập Quỷ Môn quan
Tích truyền Chướng Giang lộ
Kim đáo Quỷ Môn quan.
Thổ địa vô nhân lão,
Lưu di kỷ khách hoàn.
Tự tòng biệt kinh Lạc,
Ðồi mấn dữ suy nhan.
Tịch túc hàm sa lý,
Thần hành cương lộ gian.
Mã nguy thiên nhận cốc,
Châu hiểm vạn trùng loan.
Vấn ngã đầu hà địa,
Tây nam tận bách man !
Vào ải Quỷ.
Từng nghe sông Chướng hiểm nguy
Nay qua ải Quỷ vào nơi lưu đày
Người già không thấy ở đây
Người đi đày được mấy ai trở về
Từ ngày rời khỏi kinh đô
Bạc tươm món tóc, lờ đờ dung nhan
Đêm nằm ngủ bãi cát hoang
Ngày thì vượt núi băng ngàn mà đi
Lưng đèo ngựa cóng chân khuy
Thuyền qua vụng hiểm sóng ì ầm reo
Người hỏi rằng ta đi đâu
Tây nam. Bách Việt mịt mù đường xa.
           Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Con đường đi lưu đày tất nhiên không phải là đi du lịch, cuộc hành trình đầy hiểm nguy qua một vùng đất xa lạ với những phương tiện thô sơ và với sự kèm cặp của quan sai, cai tù quả là điều quá sức chịu đựng của một ông tiến sĩ vốn quen ăn trên ngồi trốc.
Ðộ An Hải nhập Long Biên
Thường văn Giao Chỉ quận
Nam dữ quán hung liên
Tứ khí phân hàn thiểu,
Tam quang trí nhật thiên
Úy Ðà tằng ngự quốc,
Ông Trọng cựu du tuyền.
Ấp ốc liên mang tại,
Ngư diêm cựu sản truyền.
Việt nhân dao phủng địch,
Hán tướng hạ khan diên,
Bắc Ðẩu sùng sơn quải,
Nam phong trướng hải khiên.
Biệt ly tần phá nguyệt,
Dung mấn sậu kinh niên.
Côn đệ tồi do mệnh,
Thê noa cát phó duyên.
Mộng lai hồn thượng nhiễu,
Sầu ủy bệnh không triền.
Hư đạo băng thành lệ,
Minh tâm bất ứng thiên.
Vượt biển An Hải vào Long Biên
Quận xa Giao Chỉ nghe đồn
Người Nam liền dạ chung lòng với nhau **
Bốn mùa mát chẳng là bao
Quanh năm nóng bức nắng chiều xiên xiên
Úy Đà dựng một cõi riêng
Lý ông Trọng cũng du tuyền đã lâu
Xóm làng nhà nối tiếp nhau
Lưới chài, khô mắm nối bao nhiêu đời
Người giắt lông trĩ múa chơi
Tướng Tàu ngắm cánh diều rơi bóng chiều
Núi cao sao Bắc đẩu treo
Liu hiu ngọn gió sóng trèo bờ cao
Xa nhà thì cũng đã lâu
Đầu bù tóc rối dãi dầu quanh năm
Anh em thì cũng mù tăm
Vợ con xa cách nhân duyên giao trời
Trong mơ màng cũng rồi bời
Sầu thời không dứt, bệnh thời không tha
Thành sầu nước mắt tuôn sa
Tầm lòng trong sáng trời mà thấu chăng?
            Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Dù đã nghe nói, và tìm hiểu khá kỷ về Giao Châu, nhưng sau cuộc hành trình khủng khiếp, lại đối diện với một cảnh quan xa lạ, gặp những người chưa từng quen biết cộng thêm nỗi thương nhớ người thân, bè bạn. Thẩm Thuyên Kỳ gần như kiệt sức. Dù nhận ra cái khác lạ rất dễ chịu, từ cảnh quan, con người và phong tục,  của nơi ông đã đi qua, Thẩm Thuyên Kỳ cũng không còn sức lực và tâm trí đâu mà mở lòng ra cảm nhận những vẻ đẹp mới mẻ ấy. Chẳng những thế ông còn có đôi phần ác cảm với nơi mình phải đến. Tuy vậy, với tư cách là một nhà thơ ông vẫn còn đủ tỉnh táo để ghi nhận một cách khá trung thực những hình ảnh sinh hoạt của nhân dân Âu Lạc.
Sơ đạt Hoan Châu
Lưu tử nhất thập bát
Mạng dư thiên bất ngẫu
Phối viễn thiên toại cùng
Đáo trì nhật toái hậu
Thủy hành Đàm Nhĩ quốc
Lục bộ Điêu Đề lũ ***
Hồn phách du quỷ môn
Hài cốt di kình khẩu
Dạ tắc nhẫn cơ ngọa
Triêu tắc bảo bệnh tẩu
Tao thủ hướng Nam hoang
Thí lệ khán Bắc Đẩu
Hà niên xá thư lai
Trùng ẩm Lạc Dương tửu
Vừa đến Hoan Châu
Mười tám thằng tù bị đày
Hốt nhiên bị tách riêng đi một mình
Trời xa tiếp bước lênh đênh
Ngày như chậm hết lềnh bềnh bước đi
Biển Đàm Nhĩ mịt mù khơi
Điêu Đề truông hiểm rụng rời cẳng chân
Liêu xiêu hồn phách từng cơn
Tưởng như xương cốt ròn tan miệng kình
Đêm ôm bụng đói nằm rên
Sáng mang thân bệnh lênh đênh con đường
Cõi Nam bức tóc ngắm suông
Đêm nhìn sao Đẩu mặc giòng lệ rơi
Năm nào thư xá đến chơi
Lạc Dương chén rượu. Xa rồi, thật xa
       Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Đói khát, bệnh tật lại bị bọn cai tù o ép, câu thúc. Cộng thêm việc bị tách khỏi người bạn văn thơ Đỗ Thẩm Ngôn đã đẩy nỗi bi phẩn của ông lên đến cùng cực, thậm chí nó còn đưa ông đến một vọng tưởng được ơn vua tha thứ (?) và ông tự an ủi bằng những hoài niệm về những ngày xênh xang cùng bạn bè chè chén ở Lạc Dương.
Đã biết bao đêm nằm trong lao lý mà rơi nước mắt, nhớ gia đình, nhớ những ngày hoan lạc trong cảnh chức trọng quyền cao. Nhớ đến đỗi nhìn bóng xuân qua màn lệ.
Hoan châu Nam đình dạ vọng
Tạc dạ Nam đình vọng,
Phân minh mộng Lạc trung.
Thất gia thùy đạo biệt,
Nhi nữ yến thường đồng.
Hốt giác do ngôn thị,
Trầm tư thủy ngộ không,
Can trường dư kỷ thốn,
Thức lệ toạ xuân phong.
Đêm châu Hoan ngồi ở đình Nam
Đình Nam bóng tối đã ùa qua.
Giấc mộng Lạc Dương thấy cảnh nhà.
Lối cũ vườn xưa đà biệt vụt,
Con thơ vợ yếu cũng mù xa.
Dưng không tiếng nói như văng vẳng,
Tỉnh lại ngùi trông đã nhạt nhòa.
Ruột thắt gan bào ai thấu nỗi…
Lệ nhòe mờ mịt gió xuân qua.
         Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Nhưng rồi con người tài hoa ấy dần dần nhận ra, ông được đất phương Nam đón nhận bằng một hình thái yên ả, bằng lòng người bao dung. Khung cảnh chùa Thiệu Long * (卲隆), như là cái tên của nó, là một điểm nhấn cuối cùng của một nhân duyên mà ông sẽ gặp. Một nhân duyên thật an lạc, tĩnh lặng.
Thiệu Long tự
Ngô tùng Thích Ca cửu
Vô thượng sư Nát Bàn
Thám đạo thập tam tải
Đắc đạo thiên nam đoan
Phi thắng thích thù phương
Khởi huyên quý lý nạn
Phóng khí nãi lương duyên
Thế lự bất tằng can
Hương giới oanh bắc chữ
Hoa kham ẩn nam loan
Nguy ngang giai hạ thạch
Diễn dạng đàm trung lan
Vân cái kháng mộc tú
Thiên không kiến đắng ban
Xử tục lạc yến tọa
Cư bần nghiệp hạnh đàn
Thí tương hữu lậu khứ
Liêu tác vô sinh quan
Liễu nhiên cứu chư phẩm
Dĩ giác tĩnh giả an
Chùa Thiệu Long
Nương theo bóng Bụt từ lâu
Thầy vô thượng ở trên cao. Nát Bàn
Ba mươi năm một con đường
Nào ngờ thấy đạo Nam phương sáng ngời
Đường không may đến xứ người
Khi về nguyện trọn một đời không quên
Duyên trong khổ ải mà nên
Chưa từng nghĩ có ở trên đời này
Cõi thơm bến bắc quanh đây
Chùm hoa khép nép nở đầy sườn Nam
Lăng tăng nhịp sóng hồ lam
Nhấp nhô bao lớp đá thềm rêu xanh
Hơi sương ủ ấp cây cành
Khung trời trong suốt yên lành bóng mây
Tĩnh tâm mà ngồi xuống đây
Giữ tròn sáu hạnh sống đời đơn sơ
Bỏ thân ngu tối ngày xưa
Dựng lều an trú tâm vừa không sinh
Tận tường câu chú lời kinh
Cho tâm tĩnh lặng để thành ra an
       Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Qua bài thơ trên chúng ta thấy tâm trạng của Thẩm Thuyên Kỳ gần như thay đổi một cách tích cực. Những thứ mà ông đã từng một thời cho là sướng khổ bổng dưng trôi tuột, cái còn lại trong ông bây giờ chỉ còn là sự an lạc.
Những kinh sách mà ông đã đọc trong ba mươi năm chỉ là đọc để hiểu chớ không phải đọc để biết. để hôm nay trong ngôi chùa tĩnh lặng này, ông đọc lại, đọc cho đến khi những thứ bên ngoài ông, mà ông tưởng là của ông, hoàn toàn biến mất. Đó là lúc ông biết rằng “Dĩ giác tĩnh giả an”
Ngôi chùa với khung cảnh an tĩnh thanh thoát ấy đã đưa Thẩm Thuyên Kỳ ra khỏi những cái bung xung còn vướng víu trong đầu ông. Cảnh trí thế nào, con người như thế đó. Không phải cảnh tác động người hay ngược lại mà cảnh và người đã hòa nhập vào nhau và trở thành nhất thể. Viết đến đây, tôi bổng nhớ là mình được nghe kể lại sự nhận xét của thiền sư Thích Nhất Hạnh khi ông đến thăm Trung Quốc và thiền sư trả lời khi được hỏi về sự khác biệt của những ngôi chùa ở Việt Nam và Trung Quốc “Chùa ở Trung Quốc đẹp và sang trọng như một cung điện. Chùa ở Việt Nam không được như thế nhưng có rất nhiều cây xanh” Hình ảnh mà thiền sư Nhất Hạnh nhận xét cách xa thời của Thẩm Thuyên Kỳ gần 15 thế kỷ, nhưng vẫn không sai khác mấy. Dù không được nhìn thấy nhưng qua sách vở mô tả thì hầu như các chùa của Trung Quốc thời nhà Đường đều lộng lẫy như một hoàng cung. Vâng những ngôi chùa ở Việt Nam ngày nào là như thế đó, hòa quyện với thiên nhiên, với con người trở nên nhất thể bất khả tư nghì.
Trước khi đến với bài thơ cuối cùng, thử nhìn lại những ghi nhận của Thẩm Thuyên Kỳ về đất nước Âu Lạc khi đặt chân đến Quỷ Môn quan. Trong suốt cuộc hành trình Thẩm Thuyên Kỳ đã cực tả những hiểm nguy và gian nan mà ông nếm trải, nhưng tuyệt đối không nhìn thấy bất cứ một sự đố kỵ nào mà người Âu Lạc dành cho ông. Một vài hình ảnh sinh hoạt của cư dân địa phương được chấm phá bằng những đường nét hiền hòa dung dị như là để tôn tạo một tấm lòng bao dung ở những nơi mà bước chân lưu đày của ông phải bước qua, hoàn toàn khác biệt với một xã hội đầy nhốn nháo bung xung vì tranh danh đoạt lợi từ thượng tầng chóp bu đến tận hang cùng ngõ hẽm, và chính cái đó đã đẩy ông vào cảnh lưu đày.
Sự khó khăn nguy hiểm của thiên nhiên vẫn còn đó, nhưng sự đe dọa, sự sợ hãi đã vơi dần trên con đường mà ông không ngờ tới.
Cái thú vị là trong những bài thơ ông viết chỉ có một lần duy nhất ông sử dụng từ man để chỉ về vùng đất này. “Tây nam tận bách man! ” trong bài thơ đầu tiên khi mới bước vào biên giới Âu Lạc “Nhập Quỷ Môn quan”. Ngữ cảnh của bài thơ cũng cho ta thấy ông sử dụng như thế là do theo vận và thói quen chớ không có mục đích khinh thường nào. Còn lại khi nói về con người và vùng đất này thì Thẩm Thuyên Kỳ sử dụng những từ khác thận trong hơn, nếu không muốn nói là trân trọng hơn. Như “Nam dữ quán hung liên” “Việt nhân dao phủng địch “ trong bài Độ An Hải nhập Long Biên và toàn bộ bài Thiệu Long tự.
Và khi bước chân vào Thiệu Long tự, ông đã biết, chớ không phải là hiểu. Sự thanh thoát của ngôi chùa, đại diện tiêu biểu cho cảnh quan Âu Lạc, đã làm dịu dần những khổ ải khắc nghiệt mà ông đã gặp. Sự đau khổ mà con người nhận lấy thường được cho là từ cuộc sống đưa tới, thậm chí còn cho là của thiên nhiên đưa tới. Nhưng ít ai biết chính nó lại xuất phát từ bên trong của chính mình. Thẩm Thuyên Kỳ cũng không ngoại lệ. Ông nhận ra điều đó khi cảnh quan và con người ông hòa quyện vào nhau. Những trang kinh ông đọc suốt ba mươi năm được cảnh quan chùa Thiệu Long chú giải một cách rành mạch, rốt ráo.
Và bước chân lưu đày trở nên thanh thoát hơn và dẫn ông đến nơi khai ngộ.
Cửu Chân Sơn , Tĩnh Cư tự
Yết Vô Ngại Thượng Nhân ****
Đại sĩ sinh Thiên Trúc
Phân thân hóa Nhật Nam
Nhân trung xuất phiền não
Sơn hạ tức già lam
Tiểu giản hương vi sái
Nguy phong thạch tác am
Hậu thiền sinh cáp nhủ
Khuy giảng bạch viên tham
Đằng ái vân gian bích
Hoa lân thạch hạ đàm
Tuyền hành u cung hảo
Lâm quải dục y kham
Đệ tử vô ai thức
Y vương tích vị đàm
Cơ nghi văn bất nhị
Mộng muội tức triều tam
Dữu cức nhân duyên lý
Liêu khuyên phóng khí tà
Siêu nhiên hổ khe tích
Song thụ hạ hư lam
Hầu chuyện Thượng Nhân Vô Ngại
ở chùa Tĩnh Cư. Núi Cửu Chân.
Người sinh ở nơi đất Bụt
Nay hóa thân về Nhật Nam
Giữa đời mà không phiền lụy
Non xanh nương bóng già lam
Suối nhỏ hương đưa thoang thoảng
Cao vời vách đá che am
Chầu thiền, cánh chim xanh chớp
Giảnh kinh, mắt vượn trắng dòm
Mây cùng dây xanh quấn vách
Hoa bên đá thỏng xuống đầm
Trôi suốt trong veo nước suối
Rừng phơi lất phất áo lam
Học trò buồn vì chưa hiểu
Tiếc không được lời Y vương
Lòng ngờ khi nghe bất nhị
Chưa thông nên xin quy tam
Kíp dẫn về nhân duyên lý
Bao nhiêu tà niệm rời xa
Tích xưa dừng chân khe Hỗ
Cửa không nương gậy bước qua
       Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Qua bài thơ này cho chúng ta biết Thẩm Thuyên Kỳ đã được Vô Ngại Thượng Nhân giải tỏa một cách rốt ráo những vướng mắc và ông đã xin quy y tam bảo. Con người tài hoa ấy chẳng những nhận ra chân lý mà còn nhận ra một điều nữa. Những bước chân lưu đày của ông là những bước chân của một kẻ hành hương.
Thiên ký sự chấm dứt bằng một điển tích rất thú vị về thiền sư Huệ Viễn 慧遠(334-416) như là một sự kính ngưỡng tuyệt đối mà ông dành cho Vô Ngại Thượng Nhân.
"Hơn ba mươi năm ở Lô Sơn, sư Huệ Viễn không bước ra khỏi núi, sư từ tạ mọi sự tiếp xúc không cần thiết với đời. Khách đến viếng, lúc ra về, thường sư chỉ tiễn chân tới cầu suối Hổ Khê trước chùa rồi trở vào. Có một lần, hai danh nhân là nho sĩ Đào Uyên Minh và đạo gia Lục Tu Tĩnh tìm đến. Vì say sưa đàm luận, khi đưa khách ra về, bất giác Đại Sư bước ra khỏi cầu suối hồi nào không hay. Vừa lúc ấy, bóng tà dương rọi đến, in bóng người bên vách núi. Cả ba như bừng tỉnh, đứng lại nhìn nhau cả cười, rồi chia tay tạm biệt.”
Câu thơ cuối cùng “Song thụ hạ hư lam” như là một sự đoạn tuyệt với cái quá khứ phù hoa đầy đau khổ hay chính xác hơn là sự giác ngộ. Chắc có lẽ khi kết thúc chuyến hành hương về phương Nam. Thẩm Thuyên Kỳ phải tự hỏi “Tại sao người Hán của mình lại gọi vùng đất này và những con người thấu tình đạt lý này là man di được nhỉ? Tại sao không gọi là người phương Nam cho lịch sự. Chẳng lẽ cái thái độ ngạo mạn như vậy gọi là văn minh, là trung tâm của trời đất sao ta? Ôi ta cũng đã từng như thế”.
******
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ SỰ KIỆN NÀY
Qua cuộc hành trình của Thẩm Thuyên Kỳ. Chúng ta nhận ra được điều gì đã xãy ra trên đất nước ta trong thời kỳ này, một thời kỳ mà các nhà sử học gọi bằng một thuật ngữ rất vô duyên “Thời kỳ Bắc thuộc”.  Hơn một ngàn năm ấy Âu Lạc chưa hề thuộc vào ai, ngoài chính dân tộc đã cư trú ở đó. Họ có khó khăn đó và cả những nguy nan, nhưng họ vẫn là họ, nếu có đổi thay thì cũng là sự đổi thay cho chính họ và nơi họ sống. Đọc lại những trang sử cũ đươc ghi bằng những niên đại các triều đại của Tàu mà bực mình, thậm chí khi đã có chính quyền, có niên đại riêng cũng vẫn còn một cái thứ “thuộc Tàu” đến nóng mặt. Đất nước thì vẫn luôn luôn thuộc về dân tộc Việt Nam chớ không thuộc vào ai cho đến tận bây giờ và đến mãi mãi mai sau.
So về danh tiếng thì Vô Ngại Thượng Nhân chắc hẵn không là gì so với những nhà sư Trung Quốc lẫy lừng cùng thời như Ngọc Tuyền Thần Tú (605 -706), Hà Trạch Thần Hội (686-760). Thanh Nguyên Hành Tư (660-140), Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744)… Đặc biệt là Thần Tú và Thần Hội có quan hệ mật thiết với chính quyền đương thời thì sự ảnh hưởng của các nhà sư này làm gì không tác động tới Thẩm Thuyên Kỳ.
Là một quan lại cao cấp xuất thân với học vị Tiến Sĩ, kiến thức của Thẩm Thuyên Kỳ là không thể xem thường. Ông là người đã cùng Tống Chi Vấn (656-710) san định lại Luật Thơ Đường mà người đương thời gọi là luật thơ Thẩm Tống. Con người tài hoa và cao ngạo này không dễ dàng bị khuất phục. Sự gian nan trên con đường lưu đày chỉ làm cho lo sợ, bi phẩn chớ không cam lòng. Nhưng cảnh quan và con người Âu Lạc, ngôi chùa Thiệu Long, cuối cùng là Vô Ngại Thượng Nhân tuần tự xuất hiện trước mắt của Thẩm Thuyên Kỳ như là một con đường dẫn về chân lý. Sự ngưỡng phục của Thẩm Thuyên Kỳ đối với Vô Ngại Thượng Nhân không hẵn là một quan hệ cá nhân mà còn là sự ngưỡng phục của hệ thống tư tưởng của dân tộc này dành cho một dân tộc khác. Là một Phật tử với ba mươi năm kinh kệ mà chỉ hiểu chớ không biết, mà phải đợi đến cái thực tại Âu Lạc mới xác định được chân lý. Điều này rõ ràng là văn hóa Âu Lạc và văn hóa Trung Quốc có sự khác biệt lớn và chênh lệch khá xa. Khác biệt thì đã rõ, nhưng chênh lệch theo hướng nào thì qua sự kiện của Thẩm Thuyên Kỳ chính là câu trả lời.
Ngoài sự kiện Thẩm Thuyên Kỳ, trong giai đoạn này còn có biết bao nhiêu sự kiện rất đáng tự hào, nhưng không hiểu sao các nhà sử học của chúng ta quên lửng?! Cũng có một vài sự kiện đã ghi lại trong sử sách thì thấy nó hơi bị… khó nói. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa bị chìm trong quên lãng hoặc bị ghi nhận một cách méo mó.  Vai trò của các nhà lãnh đạo tinh thần bị lãng quên, ôm đồm vào cái học thuyết Nho Lão một cách mù quáng và khiên cưỡng.
Từ năm 111tcn, khi nhà nước Nam Việt của nhà Triệu chấm dứt, toàn bộ đất nước gần như không có chính quyền và dân tộc Âu Lạc phải bước vào những cuộc đấu tranh quyết liệt để chống lại một cuộc xâm lược tàn độc hơn cả gươm giáo, xâm lược văn hóa. Chữ viết bị xóa sổ, các phong tục tập quán tốt đẹp bị xâm hại, dân tộc bị trấn áp và đè nén.  Các cuộc kháng chiến vũ lực liên tục nổ ra và thường thì gặp thất bại. Nhưng cuộc kháng chiến bền bỉ nhất, dai dẳng nhất và cũng thành công nhất chính là cuộc kháng chiến chống nô dịch gần như xuyên suốt không hề lụi tàn mà càng lúc càng tạo ra những thành công vững chắc.
Sự du nhập một cách hòa bình tư tưởng đạo Bụt khế hợp một cách toàn vẹn với tính cách hiền hòa và tự do của giống nòi Âu Lạc càng lúc càng phát huy tác dụng. Nhưng viên sỏi hòa bình chẳng mấy chốc xóa sạch cây cột đồng Mã Viện, tiêu biểu cho sự hãnh tiến bạo tàn. Chấp nhận Hán tự, không có nghĩa là chấp nhận tư tưởng “Đại Hán dĩ hạ biến di” mà là để khẳng định “Đất Hán không phải là trung tâm của trời đất” (Hán địa vị tất vi thiên trung giả = 漢地未必為天中也Mâu Tử. Lý Hoặc Luận). Tiếp theo là những cuộc hành trình ngược lên phương Bắc của các thiền sư như Khương Tăng Hội, Huệ Thắng, Đạo Thiền, Nhật Nam Tăng, Duy Giám, Định Không… để hóa giải những cái đầu hiếu chiến.  Đi về phương Tây như Khuy Xung, Đại Thừa Đăng, Huệ Diệm, Trí Hành, Giải Thoát Thiên… để tôn tạo bản sắc bản lĩnh dân tộc. Tiếp nhận trên tinh thần dung thông, các thiền sư từ các nơi khác đến như Chi Cương Lương Tiếp, Đạt Ma Đề Bà, Huệ Lâm, Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và có thể cả Lục Tổ Huệ Năng… và cùng nhau hoằng dương đạo pháp, tôn tạo tình người, phát triển văn hóa, kiên định tư tưởng. Còn ở trong nước thì các thiền sư, mặc nhiên trở thành những người lãnh đạo trên mọi lĩnh vực của đời sống. Tiếng nói càng lúc càng phong phú và chuẩn mực hơn, những giòng chảy của ca dao càng lúc càng mượt mà và sâu lắng hơn để trở thành nền tảng cho các loại hình văn hóa. Và thi ca đã đường hoàng đỉnh đạc từ thiền viện bước ra và cùng ca dao hòa vào đời sống.
Ở một phương diện khác, với nhiều lý do khác nhau mà sự giao tiếp giữa các trí thức Nam Bắc càng lúc càng dày hơn, mà phần được trân trọng thì hầu hết đều thuộc về phương Nam.
Sau sự kiện Thẩm Thuyên Kỳ. Các thiền sư Việt Nam Duy Giám, Nhật Nam Tăng, Định Không lại trở ngược lên phương bắc dịch kinh, thậm chí vào tận cung vua để giảng cho giai cấp thống trị Hán tộc về cái đạo từ bi, chung sống hòa bình, và Trương Tịch, Dương Cự Nguyên, Giả Đảo phải dành các thiền sư một sự ngưỡng phục. Sau nữa là Lý Giác và thiền sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu và Đỗ Pháp Thuận, và Lý Giác buột phải thốt lên lời khẳng định:
Ngoài trời còn có trời soi rạng
(Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu).
Hơn một ngàn năm, trong qua trình giao tiếp ấy đã có rất nhiều con dân Hán Tộc đã trở thành người Việt và toàn tâm toàn ý cống hiến cho một đất nước này và dân tộc này như Mâu Tử, Lý Bôn, Tinh Thiều, Nguyễn Phu, Lý Trường Hưng, Lý Thúc Hiến… và cả những tên quan lại sừng sỏ như Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp, Đào Hoàng, Triệu Xương… phải nghiêng mình chấp nhận.
Đã có rất nhiều những tư liệu được các nhà sử học công bố rất thú vị như Nguyễn thị Thanh, Lê Mạnh Thát, Trương Thái Du… nhưng  chỉ là những tiếng nói đơn lẽ. Người đồng tình thì không ít. Nhưng tính chính thống thì vẫn chưa hình thành.
Lịch sử đạo Bụt ở Việt Nam chưa bao giờ là một lịch sử riêng của một tôn giáo mà là lịch sử của cả một dân tộc. Một sự khế hợp tuyệt diệu giữa đạo và đời.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của một dân tộc, sự giao lưu văn hóa, du nhập các tôn giáo, các luồng tư tưởng từ bên ngoài là một điều cần thiết, kể cả không du nhập và bị áp đặt cũng không phải là một điều xấu xa gì. Cái quan trọng là cách tiếp nhận. Sự tiếp nhận một cách mù quáng, đi ngược lại tự tình dân tộc được xem như là phản bội đất nước, phản bội dân tộc. Sự khinh xuất của vua Lê Thánh Tông trong việc bê nguyên xi cái văn hóa Nho Giáo áp đạt lên mọi giá trị tinh thần dân tộc đã gây nên một hậu quả nghiêm trọng mà đến hôm nay vẫn còn chưa khắc phục nổi.
Văn hóa, tôn giáo và tư tưởng bản thân không sắt máu. Nhưng trong quá trình lịch sử của đất nước có bao nhiêu nền văn hóa khác, tư tưởng khác, tôn giáo khác (ngoài đạo Bụt) vào Việt Nam mà không bước theo sau gươm súng? Hỏi tức là đã trả lời.
Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết, cũng như khả năng của người viết, không thể trình bày một cách tương đối đầy đủ và đúng mực một giai đoạn thật dài của lịch sử. Nhắc lại sự kiện Thẩm Thuyên Kỳ không ngoài mục đích quay đầu nhìn lại quá khứ để tìm ra một bài học và cả hành động đúng đắn cho chính hôm nay. Nếu như, giai đoạn lịch sử này được nghiên cứu nghiêm túc, được nhìn nhận một cách đúng mực và chính thống thì mới trả lời được câu hỏi “Tại sao Việt Nam luôn luôn đứng vững trước một anh láng giềng hùng mạnh mà xấu tính?” và đập tan cái tư tưởng  “sợ Tàu, thuộc Tàu” vô cùng hèn mạt, đang từng lúc 
Hiện nay, Chủ Nghĩa Cộng Sản đang từng phút, từng giờ hủy hoại tình tự dân tộc, thu hẹp nước nước non, GHPGVN bị khuynh loát và nãy sinh không ít những ma tăng làm cho Phật pháp suy đồi. Chúng bẻ cong lịch sử, nô lệ ngoại bang (Tàu Cộng) từ tư tưởng, văn hóa đến mọi bình diện khác của đất nước, thui chột tinh thần văn hóa dân tộc và làm hao mòn đất nước. 
                                                         (trích Múa Gậy Vườn Hoang Chương 14)
                                                         Quán Tâm Nguyễn Hiên Nhu. Xuân 2014

* Thiệu Long(卲隆)có nghĩa là làm cho những điều cao quý càng lúc càng nhiều hơn.
 ** Nam dữ quán hung liên (南與貫胸連).Câu này Hồ Bạch Thảo dịch là Người Nam có tục lấy dùi xuyên hông  (!?). Ở VN không nghe nói có tộc người nào có tục này.
Trong bản phiên âm của Lê Mạnh Thát ghi là “Nam dự Quán Hung liên”, nên ông dịch là “ Nam giáp Xuyên Hông liền”. Quán Hung trở thành một địa danh
- Từ Quán ()có nhiều nghĩa như sau: xuyên qua, thông suốt, nối đuôi nhau, xâu lại thành một chuổi, xâu tiền. quê quán, hiểu thấu… Nói chung là dùng để chỉ một sự liên kết cộng đồng. Ngoài ra công đồng cư dân Việt Nam có một cách thiết lập làng xóm dọc theo các trục giao thông thủy bộ, nhà cất xoay mặt ra bờ sông hoặc mặt đường như là một đặc trưng. Tình hình ấy càng lúc càng phổ biến khắp từ bắc chí nam. Các làng xã nối tiếp nhau và ranh giới thường được ấn định bằng một con lạch nhỏ,con đường mòn,  một bờ tre hay thậm chí chỉ là một hàng rào dâm bụt giữa hai mảnh vườn. Cách thiết lập làng xóm theo kiểu này là đáp ứng yêu cầu gia tăng nhân số, kinh tế giao thông, sự tương trợ. Do vậy tôi hiếu “quán hung liên”là hông liền hông.
Do vậy trong ngữ cảnh này tôi dịch như trên.
*** (雕題)Điêu Đề là một tộc người có phong tục vẻ chàm xanh lên trán.
**** Vô Ngại Thượng Nhân là một thiền sư sống và tu hành ở chùa Tĩnh Cư (Thanh Nghệ Tĩnh) vào cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VIII. Cho đến nay vẫn chưa có thông tin gì về nhân thân và hành trạng của Người.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét