Người theo dõi

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

MUÁ GẬY VƯỜN HOANG - CHƯƠNG 1 -

MUÁ GẬY VƯỜN HOANG
CHƯƠNG 1

MỘT THOÁNG LƠ MƠ VỀ CỔ SỬ ĐỂ TÌM THƠ

            A. Những giòng sử về thời kỳ dựng nước cùng với những tên người, địa danh khó chấp nhận.
           a1. Theo sử cũ. Tục truyền rằng vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc Hồ Nam Trung Quốc) gặp một nàng tiên, lấy nhau và sinh ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho Đế Nghi làm vua phương bắc và phong cho Lọc Tục làm vua phương nam, Xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi của Xích Quỷ bấy giờ, phía bắc giáp Động Đình Hồ, phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía tây giáp Đông Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm Tuất (279tcn?) và lấy con gái Động Đình Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ ra một bọc trăm trứng, nở được một trăm con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: T giòng dõi Long Quân, nhà người giòng dõi thần tiên, ăn ở lâu không được; nay được nmột trăm đứa con thì nhà ngươi đem năm mươi đứa lên núi, còn năm mươi đứa thì ta mang về biển Đông.


            a2. Gốc tích này có lẽ từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước nhỏ gọi là Bách Việt. Lạc Long Quân phong người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước văn Lang chia ra 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa, Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên, Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng YênNam Đinh, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan ( Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Hưng Yên) đặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua là Quan Lang, con gái vua là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là phụ đạo.
(VNSL của Trần Trọng Kim)
---------------
         a3. Những Biến Đổi Đầu Tiên Của Đất Nước Xưa, Hoàng Đế dựng nên muôn nước (!? Nv), thấy Giao Chỉ xa xôi, ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc tây nam, có 15 bộ lạc là: 1) Giao Chỉ, 2) Việt Thường Thị, 3) Vũ Ninh, 4) Quân Ninh, 5) Gia Ninh, 6) Ninh Hải, 7) Lục Hải, 8) Thanh Tuyền, 9) Tân Xương, 10) Bình Văn, 11) Văn Lang, 12) Cửu Châu, 13) Nhật Nam, 14) Hoài Nam, 15) Cửu Đức2
.
Những bộ lạc này đều không thấy đề cập đến trong thiên Vũ cống3. Đến đời Thành Vương nhà Chu 4 Việt Thường Thị mới đem dâng chim bạch trĩ, sách Xuân Thu gọi là khuyết địa 5, sách Đái ký 6  gọi là Điêu đề 7
.
Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên-ND) 8 ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật qui phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút. Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương. (Đại Viêt Sử Lược. Khuyết Danh. Dịch giả: Nguyễn Gia Tường 1972. Nhà xuất bản: Nhà xuất bản TP HCM)

Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua Chuyên-Húc, phía bắc đi tới U-Lăng, phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai Hy Hoà qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam yên-vỗ Giao-Chỉ. Qua đời Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ Việt-Thường qua chín lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có gió bảo, không mưa dầm, ngoài biển không nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao chẳng tới chầu?". Lúc bấy giờ, Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ Việt-Thường tới chầu: "Ô hi ta ta! Phi Đán chi lực,
Văn-Vương chi đức", nghĩa là: ôi ôi! vui thay, cảnh-tượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của Chu-Công) mà là nhờ đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửu-Châu, ở phía nam GiaoChỉ.
Quyển Hán-Quan-Nghi của  Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc mở mang từ "sóc" (phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ" _____(cái nền) là viết sai.
(An Nam Chí Lược. Lê Tắc. 1334. Cao văn Luận dịch. 1960)

a4. Hùng Vương. Dựng nước gọi là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu
Hồng Bàng thị. Đầu là Kinh Dương Vương, tương truyền là vua trước tiên của nước Việt ta. Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân. Hùng Vương là con Lạc Long Quân.
Nguyên xưa, Đế Minh, cháu ba đời Viêm đế Thần Nông thị, đi tuần sang Nam, đến Ngũ Lĩnh2, lấy Vụ tiên nữ, sinh con là Lộc Tục có đức tính hoàn toàn. Đế Minh yêu Lộc Tục lắm, muốn truyền ngôi cho, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi. Bấy giờ mới lập Đế Nghi làm vua nối ngôi, thống trị phương Bắc (Trung Quốc), phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, thống trị phương Nam.
Kinh Dương Vương sinh con là Sùng Lãm, gọi là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh trăm con trai. Ấy là tổ tiên của Bách Việt3, suy tôn người trưởng lên làm Hùng Vương, nối ngôi vua, dựng nước gọi là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu; truyền nối mười tám đời đều gọi là Hùng Vương.
Thời bấy giờ, cư dân khi xuống nước, hay bị loài giao long làm hại, Hùng Vương dạy dân lấy mực vẽ hình loài thủy quái xăm vào mình. Từ đó mới tránh khỏi nạn. Nước ta cái tục xăm mình có lẽ bắt đầu từ đấy.
Lời cẩn án - Phong Châu: Sử cũ chua "tức là Bạch Hạc". Đường thư Địa lý chí chép: "Phong Châu thống lĩnh năm huyện". Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử triều Tống chép: "Quận Thừa Hóa Phong Châu xưa là nước Văn Lang". Như thế thì Phong Châu tức là địa hạt phủ Vĩnh Tường và phủ Lâm Thao thuộc tỉnh Sơn Tây bây giờ. Vả  lại, còn bằng cứ là huyện Sơn Vi có núi Hùng Vương và đền Hùng Vương, vậy không thể riêng chỉ Bạch Hạc được. Còn Đế Minh chưa từng đi tuần sang Nam, việc bảo là lấy vợ tiên nữ thì thật là quái lạ lắm. Nhưng hẵn cứ chép lại để truyền nghi.
Lời chua - Sinh trăm con trai: Sử cũ chép Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, con gái Đế Lai, sinh được trăm con trai; tục truyền đẻ ra trăm trứng. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: "Ta là loài rồng, mình là giống tiên, một người mình thủy, một người mình hỏa, xung khắc nhau, khó ở chung mãi với nhau được". Hai người bèn từ biệt nhau, chia năm mươi con theo mẹ về miền núi, chia năm mươi con theo cha về miền Nam, suy tôn người con trưởng lên làm Hùng Vương nối ngôi vua.
Truyền mười tám đời: An Nam chí nguyên  của Cao Hùng Trưng chép. "Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hậu, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám đời". (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. QSQ Triều Nguyễn)

          a5. Dân tiền sử Đông Nam Á sống thiên về hái lượm cây, trái, đào củ và săn, bắt, bẫy các loài thú nhỏ hơn là thú lớn như dân xứ lạnh Ấu châu (bò rừng, tuần lộc...), nên không cần dùng khí giới lao, cung với lưỡi ngọn lao, mũi tên làm bằng đá đẽo. Họ săn heo rừng, khỉ, nai, nhím, chim... bằng cung nỏ với tên tre chuốc nhọn hay bằng ống thổi (blow-pipe) với mũi tên (là) gân lá tẩm thuốc độc, như dân các bộ lạc miền núi Việt Nam và trong rừng Indonesia ngày nay. Trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, rừng nhiều cây lá, nếu cần che thân, sử dụng vỏ cây hay lá cây thì mát mẻ, dễ chịu và tiện lợi hơn da thú ; và vì không cần da thú nên họ không cần công cụ đá để nạo da thú như người tiền sử Ấu châu; họ bắt cá, săn thú, xẻ thịt, với các cạm bẫy, dao chế biến từ tre, lá, như thổ dân trên đảo Mentawai xứ Indonesia ngày nay. Nói chung những bộ lạc miền nhiệt đới chưa "văn minh" hiện nay vẫn chế tạo rất nhiều đồ dùng từ tre, mây, gỗ, lá. Đó là dấu vết kinh nghiệm cư dân cổ bản địa truyền lại. (về nguồn gốc dân tộc việt nam và  "địa đàng phương đông"của oppenheimer nguyễn quang trọng Trich từ :

Trong những thông tin mà các nhà viết sử xưa nay để lại, đã cung cấp cho chúng ta một số thông tin rất thú vị, nhưng rất mơ hồ, mang đầy tính huyền thoại
Nhưng tôi thì… tôi không chịu vì những thông tin  ấy vì những lý do sau đây:
- Thứ nhất: Một triều đại có một thời gian tồn tại hơn 2000 năm và phát triển về lãnh thồ và văn hóa trải dài từ bờ nam sông Trường Giang đến miền bắc Trung Bộ hiện nay hốt nhiên thu gọn lại còn 1/5 mà không có một biến động nào (?!). Mà chỉ là do sự tác động một cách nhẹ nhàng của các ông vua Tàu
- Thứ hai: Tên gọi các địa danh bổng nhiên toàn là âm Hán Việt, trong khi ngôn ngữ thường dùng trong sinh hoạt và lao động sản xuất thì hoàn toàn thuần Việt và vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay. Chúng ta có thể nhận ra điều này khi lật ra bất cứ cuốn từ điển nào cũng không tìm ra những tên Hán Việt cho các dụng cụ được sử dụng trong nghề trồng lúa, tên các dụng cụ xài trong nhà hàng ngày, tên các loài thú được thuần dưỡng và gần như tên làng xã đều là tiếng thuần Việt, tên Hán Việt chỉ được sử dụng trên giấy tờ công văn như: Làng Mái (làng làm tranh Đông Hồ), làng Bùng (Phùng Xá, quê hương Phùng Khắc Khoan) Làng Nghè (Trung Nha), làng Tân (Tiên Thượng) làng Bạc (Thượng Thụy) làng Sù (Phú Xá) Làng Sét (Thịnh Liệt), làng Gióng ( Phù Đổng), làng Mía (Đường Lâm),làng Nàng (Phù Ninh), làng Báng (Đình Bảng), làng Trèm (Từ Liêm), Kẻ Chợ (Hà Nội) … và cả tên sông, tên núi cũng vậy Đèo Ngang (Hoành Sơn), Ba Vì (Tản Viên), sông Đuống (Thiên Đức) sông Luộc (Phú Nông) Sông Cả (Lam Giang)…  và sau này trên bước đường Nam Tiến khuynh hướng này vẫn lưu giữ, người dân đặt tên trước chính quyền Việt Hán hóa sau: Sài Gòn (Gia Định) Huế (Thuận Hóa), Rạch Sỏi (Kiên Giang) Rạch Giá (Giá Khê) Cái Bần (Thủy Liễu) Miệt Thứ (An Biên) Cái Mới (Thới An). Trong quá trình VH hóa này thường thì có liên hệ với nhau về ý nghĩa như làng Mía (Đường Lâm), Kẻ Chợ (Hà Nội), Cái Bần (Thủy Liễu),  Rạch Sỏi (Kiên Giang) Rạch Giá (Giá Khê) hoặc chẳng liên hệ gì như Đà Lạt (Tuyên Đức)… hoặc chỉ là một ý chí nào đó được gói ghém trong tên VH mà chẳng liên hệ gì đế tên Nôm như: Miệt Thứ (An Biên) Cái Mới (Thới An), Cái Nước (Đông Yên), Cà Mau (An Xuyên) hay chỉ là phiên âm như Tà Ten (Hà Tiên) , Blao (Lâm Đồng)… Nhưng trong cuộc sống hàng ngày thì người dân Việt vẫn thích cái tên Nôm hơn. Nguyên nhân này ban đầu xuất phát từ chỗ tính thuần Viêt của người Việt và trong suốt quá trình bị áp đặt văn hóa Hán.
Thứ ba: Từ Lạc có một nguồn gốc và một ý nghĩa rất đặc biệt, nhưng không một ai chú ý. Thực ra đây là phiên âm từ Nác (nước). Người Hán đã lấy một chữ Lạc (Long Quân) (貉龍君) là tên một loài thú ăn côn trùng (Bố láo) để phiên âm. Nghĩa gốc của chữ Nác là nước. Hiện nay vẫn còn một số vùng ở Bắc Trung bộ còn sử dụng:
Hởi o sương nác (tát nước) bên đàng
Sao o múc ánh trăng vàng đổ đi
Trong ngành Nông nghiệp (và cả trong đời sống) yếu tố cơ bản đầu tiên mà người làm nông (trồng trọt, chăn nuôi) không thể nào quên: Nước, phân bón (có trong thổ nhưỡng hoặc do người cung ứng), siêng năng và giống. (Một nước, hai phân, ba siêng, bốn giống).
Do đó Vua Lạc phải được hiểu là Vua Nước, có lẽ vì thế mà dân Việt là một dân tộc duy nhất trên thế giới gọi lãnh thổ quốc gia là nước: Nước Việt Nam. Lạc hầu, Lạc tướng là những phụ giúp vua Nước lo việc nước nôi để trồng trọt chăn nuôi và theo thời gian vua nước mới mang ý nghĩa người lãnh đạo quốc gia. Con chim Lạc (có thể là sếu đầu đỏ và các loài tương cận) là một loài chim thường thiên di về phương Nam để tìm thực phẩm (mầm chồi của năn, đưng, lác… sống và sinh trưởng ở các đầm lầy)
Thứ tư: Mãi đến cuối thế kỷ thứ IItcn, Người Việt mới thật sự tiếp xúc với văn hóa Hán vào thời Triệu Đà và lúc đó kết quả của cuộc tiếp xúc văn hóa này mới lác đác nãy sinh ra âm Hán Việt và cuối thế kỷ thứ III scn, sự áp đặt văn hóa Hán vào Đại Việt mới thật sự bắt đầu từ bởi tay trùm xâm lược Sĩ Nhiếp.
Thứ năm: có một ý kiến rất đáng lưu ý của Nguyễn Nguyên “Đặc biệt 18 đời vua Hồng Bàng Việt Nam, rập y khuôn 18 đời vua nhà Hạ, triều đại hồng bàng ở bên Tàu. Để ý rất nhiều bài viết trong vài thập kỷ qua ưa liệt kê danh sách các đời vua Hùng. Khổ nỗi tất cả đều viết tên hiệu bằng…chữ Hán ròng. Thí dụ, Hùng Huệ Vương, Hùng Tấn Vương, v.v. Y như là cái nước của mấy ông vua Hùng giống như mấy cái nước chư hầu ở đời nhà Châu phía bắc sông Dương Tử, thời Xuân Thu Chiến quốc. Và những vua Hùng này có lẽ nói với thần dân của các ông bằng tiếng Tàu, trước khi người Tàu đến nước đó cả ngàn năm.”
Thứ Sáu: Việc Tổ phụ Lạc Long Quân (貉龍君)  và Tổ Mẫu Âu Cơ (甌貉) chia tay mỗi người dẫn 50 người con, kẻ lên rừng, người xuống biển muốn nói lên điều gì. Có thể đây là một truyền thuyết ly hôn duy nhất về lịch sử loài người. Để giải thích vấn đề này cần phải có những lý giải thấu đáo, trong khi hiện nay những tư liệu về giai đoạn lịch sử này chưa được thu thập đầy đủ. Và tôi không tin như thế
Thứ bảy: Những tư liệu trên hầu hết đều xuất xứ từ Trung Quốc (dù do người Hán hay người Việt viết cũng vậy) một đất nước của các chuyên gia bậc thầy về hàng giả, hàng nhái.
Từ những lý do trên mà người viết mạo muội hình dung ra giai đoạn lịch sử này như sau:

B. Ông Cả Nước.
Ông này sống trước tôi lâu lắm, khoảng hơn 4.000 năm, nhưng phải nhận là ông thiệt hay. Tôi kể các bạn nghe nhé.
Một ngày, ông ngồi trên núi nhìn mọi người tất bật đi tuốt những hạt lúa trời nhỏ xíu. Đã từ lâu ông ngẫm nghĩ., cái thứ này không mấy gì ngon nhưng được cái chắc bụng và nó mọc tràn lan mỗi khi trời mưa xuống và chín vàng khi nắng về. Nhưng người càng lúc càng đông nên hai cánh đồng bạt ngàn những lúa trời kia cũng không đủ cho họ ăn, nên thường xuyên xãy ra những cuộc giành giựt đánh nhau, có lắm anh, lắm chị bưu đầu sứt trán và nhiều thứ lôm côm nữa như đi hái lượm trái trong rừng rồi bị rắn rít hay thú dữ tấn công. Phải có cách gì đó để làm cho lúa nhiều thêm và…. Cách thì có cách nhưng vẫn còn lờ mờ vì những thứ lu bu nên râu tóc ông càng lúc càng dài ra rồi từ từ ngã sang màu trắng, dù ông chưa phải gìa cho lắm. Bà vợ ông thấy tội tội cho ông. Thương chồng nên bà cứ loanh quanh lẩn quẩn theo ông. Hôm nay, cũng như mọi khi, bà nhóm bếp nấu cho ông một nồi nước để ông uống cho ấm bụng và cũng nhờ ánh lửa sẽ xua đi cái lạnh khi sương chiều phủ xuống. Bà nhóm bếp cũng khá cực khổ, những nhánh cây khô đẫm ướt sương chiều làm như không muốn bén lửa, đã vậy gió cứ phần phật từng cơn, Khi ánh lửa hồng lên thành ngọn thì người bà cũng tươm tướp mồ hôi, và ông thì vẫn cứ vô tư, im lìm trong ngẫm nghĩ. Khi nước đã sôi, bà sẽ sàng rót ra cái chén gỗ mun thì trời đang chập choạng, bà thoáng nhận ra một mùi thơm dìu dịu và thật nhẹ, nhưng cũng chẳng để ý làm gì mà mang chén nước đến cho ông và ông hớp cái ngụm nuớc ấm áp và thơm thơm ấy, bổng nhiên trong cái chập choạng vào đêm của trời đất và của cái đầu ông như lóe lên một ánh chớp sáng loáng và rực rỡ như ánh trăng đang vươn lên khỏi chóp núi, những ngẫm nghĩ lờ mờ quấn quýt trong đầu ông dưng không trở ên rõ ràng và đi vào lớp lang. Khi tự rà soát lại nhiều lần và biết chắc là nó đã ngay ngắn có thứ có lớp, lúc ấy, ông mới nhớ ra chén nước vợ đưa cho, còn lại một ít vừa đủ một ngụm. Ông hớp lấy và cảm nhận cái mùi vị của nó; thơm thơm, ấm ấm, chát chát, ngòn ngọt. tất cả tan vào đầu lưỡi…. rồi tất cả hòa vào người ông nhẹ hều như cơn gió. Ông lẩm bẩm:
- Cái bà này, nấu cái gì vậy ta. Lắm chuyện.
Thay vì hỏi vợ, ông lại đến bên bếp lửa và nhìn vào nồi nước. Lúc này trăng đã sáng, ánh trăng như lọt thỏm vào nồi nước trong suốt, ánh lên một màu xanh trong suốt và bên dưới là một chiếc lá màu xanh thẩm. Ông hỏi bà:
- Mình ơi. Mình bỏ cái là gì trong nồi nước vậy?
Vaø oâng ñeán beân beáp nhìn vaøo noài nöôùc. Luùc naøy traêng ñaõ saùng, aùnh traêng nhö loït thoûm vaøo trong noài nöôùc trong suoát, aùnh leân moät maøu xanh maø oâng chöa thaáy bao giôø vaø beân döôùi lôø môø moät chieác laù maø xanh thaåm. OÂng baûo baø:
Bà thì đang tựa vào gốc cây ngủ gà, ngủ gật nghe ông hỏi giật mình trả lời bâng quơ:
- Ông nói cái gì?.
- Tôi hỏi mình bỏ cái lá gì trong nồi nước?
- Đâu mà có.
- Mình lại xem nè.
Bà bước đến, trăng càng cao càng, cả hai ông bà nhìn vào nồi nước. Chiếc lá lấp lánh ánh trăng, lượn lờ trong làn nước trong veo xanh ngát. Nước vẫn còn nóng và tỏa một làn khói mỏng, thơm, Ông nhẹ nhàng rót ra chén rồi đưa cho bà:
- Bà uống thử xem.
Bà hớp lấy một ngụm và...
Ánh duốc được khơi sáng thêm và hai ông bà săm soi và nếm thử từng chiếc lá của từng loại cây quanh đó, cả hai nhanh chóng nhận ra. Để chắc ăn, hai ông bà nấu lại một nồi nước mới và bỏ vào ấy vài chiếc lá. Khi nếm thử thì cả hai cùng kêu lên:
- Chà. Ngon quá. Đúng là nó rồi.
Sau đó, bà từ từ nhớ lại, khi nhóm lửa nấu nước cho ông, lúc đó gió rất mạnh, chắc là chiếc lá bị gió bứt ra và rơi vào nồi nước. Và… cả hai cùng đến làm dấu trên lên cây mà hai ông bà vừ hái lá cho vào nồi nước.
Đầu óc nhẹ tênh và trong veo như ánh trăng khuya vằng vặc trên đỉnh đồi. Hai ông bà nhìn nhau và quyết định không về lều mà cùng nằm xuống để lắng nghe và cảm nhận những cảm giác mới mẻ do chén nước mang lại và họ chìm vào trong giấc ngũ nhẹ tênh.
Khi sương đã nhiều và trăng đã xế, những đứa con của họ mới hay ba mẹ của họ suốt đêm không về, chúng nháo nhác đi tìmvà họ đã nhìn thấy ba mẹ mình nằm bên nhau trên đỉnh đồi trong giấc ngủ yên bình.Và họ se sẽ ngồi chờ ba mẹ mình thức giấc khi nắng đã hừng đông.
Khi về đến lều, ông sai con đi mời các ông bạn gait đến lều và bà thì tất bật với lùi khoai và ấm nước nấu bằng những chiếc lá mới mang về.
Sau khi ăn những củ khoai lùi thơm phức, thì những chén nước ấm mauxanh ngắt với những sợi khói thơm lừng đượng chuyền tay từng người. Ai cũng ngạc nhiên và khoan khoái kêu lên:
- Chà. Đã quá!
- Chà. Ngon quá!
- Chà. Khoái quá!
- Chà. Sướng quá!
- Chà. Thơm quá!
... !!!
Và ông bắt đầu nói lên một cách rõ ràng cái ý của mình một cách tuần tự là mọi người tự trồng lấy những hạt lúa ma, những loại cây trái để không cần phải đi hái lượm, tranh giành nhau nữa. Mọi người cùng gật gù và đưa ra những ý cũng rất xác đáng và cùng vạch ra một cách thức thực hiện, rồi giao cho nhau phần việc ai thì người ấy làm. Và cái loại lá tạo ra chén nước ấy được một ai đó đặt cho một cái tên rất hình tượng “Chà”
Từ đó, bà thì vẫn căm cụi đi hái lá Chà và cặm cụi nấu cho các ông bàn tán sau một ngày bày trò này trò nọ trên những vạt đất ở sườn núi, ven sông
Phần các ông thì, người đếm nắng, kẻ ghi mưa, ông này nếm nước, ông móc đất… thay phiên nhau làm lắm thứ hằm bà rằn, rồi khi mệt thì túm tụm với nhau quanh chén Chà xanh bàn ra tán vào toàn những chuyện gì đâu, rồi sau đó là làm những chuyện gì đâu.
Bọn trẻ thì cứ cằn nhằn cửi nhửi khi bị sai làm chuyện này chuyện nó, mà chúng cũng chả biết làm vậy để làm gì? Những tay xồn xồn thì cứ tò mò ngắm ngó, thấy hay hay rồi cũng góp tay vào. Nhưng có một thứ mà chẳng ai chê; nước Chà. Từ nơi bàn Chà ấy người càng lúc càng đông. Cứ như thế gần mấy chục lượt trăng đi trăng đế, hết khuyết đến tròn, những vạt lúa nho nhỏ theo mưa đến thì xanh rờn rợn, khi chướng về thì gã sang vàng để nắng ươm dần cho vàng rực, hạt lúa mẫy hơn trên những bông lúa cong oằn. Rồi  tiếp theo bao nhiêu lượt mưa về nắng đến, những vạt lúa con con cứ phình ra và vươn dài trên những sườn đồi, ven sông.
Cuộc sống càng ngày càng yên ả, tốt đẹp hơn, những bộ tộc chung quanh tìm đến học hỏi, sống chung, góp cùng công sức và cùng nhau làm những chuyện gì đâu. Rồi vật dụng, cây cối, súc vật… càng lúc càng nhiều, tiếng cười cứ râm ra từ sáng đến chiều từ trong nhà ra ngoài ngõ.
Gần mấy chục lượt trăng, hết tròn rồi khuyết trôi qua, một mảnh đất nhỏ xanh rờn lúa trời, rồi mưa dứt, nắng đến, chướng về, vạt lúa bắt đầu vàng rượm những bông lúa cong oằn, hạt to và mẫy hơn lúa tự mọc, kèm theo đó là những cội Chà xanh mướt rượt trước mỗi căn lều cho những búp non mà chỉ mới dòm thôi thì đã mát cả miệng. Và ngôi nhà lều của ông thì ngổn ngang những thứ hằm bà rằn, sau này người ta gọi là cày, bừa, len, cuốc, xuổng... và hai con bò vàng óng mà hiền như ông già, thỉnh thoảng còn ồ, è mấy tiếng gì đâu, chỉ vậy thôi chớ không hung sùng như thời còn ở trong rừng. Những thứ đó là kết quả của những ngày ngẫm nghĩ và làm toàn những chuyện gì đâu. Ngày tước lúa lần đầu,  mọi người xúm nhau tước lúa, vọt gạo, nấu cơm và nấu Chà. Khi mọi người đã ngồi yên trước chén cơm bốc khói và chén trà thơm phức. Ông cả Ruộng bắt đầu nói về cái việc làm gì đâu của mình và mong mọi người cùng làm như thế để khỏi phải đi giành giật lúa trời. Mọi người ồn ào vâng dạ. Bổng nhiên có một giọng từ tốn vang lên: “ Đúng là cái khó nó ló cái khôn”. Mọi người lại cười lên vui vẻ.  Từ đó người ta gọi ông là ông cả Ruộng, có nghĩa là ông đầu têu của việc làm Ruộng. Cái tiếng Ruộng nghe rất là mát cái lỗ tai, nó là một thứ tiếng phát ra khi người ta lội xuống nước pha trộn bùn non, là thứ tiếng phát ra khi gió đùa trên mặt lúa... là một thứ tiếng vừa thoang thoảng vừa ầm ào vậy mà làm cho lòng người yên ắng. Từ đó, ông cả Ruộng nói gì ai cũng nghe, sai gì ai cũng làm. Có những lúc ông hăng quá chỉ biết công chuyện mà thôi nên chẳng để ý gì tới ai già ai trẻ, ai yếu ai mạnh, ai khỏe ai đau... Thế là bà lại nấu chà mang đến cho ông, ngồi bên ông nhìn ông uống chà rồi tỉ tê điều này điều nọ. Ông nghe ra và thấy mình cũng đôi khi trớt quớt. Từ đó về sau, trước khi sai ai đi làm gì ông cũng hỏi “nhắm làm được không, có khỏe không”. Rôi dưng không, ngoài việc nấu Chà và chăm sóc ông, bà lại có thêm cái chuyện phải làm là chỉ cho mấy bà cái chuyện phải làm thế này, thế nọ mà những cái thế này thế nọ ấy chẳng qua là cái thế này thế nọ mà bà làm cho ông. Nhưng rồi bà cũng lây vào cái tật của ông, cứ nhìn mọi người rồi ngẫm nghĩ gì đâu, càng ngẫm nghĩ, tay chân càng ngứa ngáy. Thế là bà đi hỏi người này, người khác về cỏ cây, hoa lá... không phải để trồng hay để ngắm mà là tìm ra rồi gom góp những gì đã biết qua như ăn thứ gì để hết đau bụng, thứ gì để khỏi nóng sốt, đắp thứ gì để mau lành những vết trầy xước... Căn lều của bà càng lúc càng rộng ra, dầy ra những sợi dây thắt nút treo lủng lẳng, mà chỉ có bà mới hiểu là thắt như vậy để ghi nhớ cái gì? Lâu dần bà trở thành một bà thầy thuốc. Cũng có lắm lần bà phải mướt mồ hôi và tuôn nước mắt vì... trật.
Ông đã ngó trời, xem đất, bây giờ thì lại ngẫm nghĩ chuyện chung quanh, chuyện người với người, người với chung quanh, tập tành cho cháu con cùng làm như nhế và biết ra nhiều thứ nhiều điều. Những thứ đó theo lòng người mà ươm thành câu hát cho dễ nghe dễ nhớ  như;
Kiến đen tha trứng lên cao
Thế nào mưa cũng ầm ào, nước lên
Đôi khi cũng có người khoái chí rồi bất ngờ hát lên:
Ruộng vườn mặc sức chim bay
Biển hồ lai láng cho bầy cá đua
Hay
Ai về  sao được mà về
Mặt trăng còn sáng, lời thề còn đây
Từ đó, mọi thứ mỗi lúc nhiều, chuyện làm, chuyện ăn, cả chuyện chơi nữa... những câu hát như thế cũng nhiều hơn, lan tỏa, chuyền từ miệng người này, qua tai người khác. Bởi vì ông và nhóm của ông vẫn tiếp tục làm những chuyện gì đâu cho hết cuộc đời mình.
Lời nói sau cùng của ông để lại là “ Mọi người hãy nghe cho nhiều, nhìn ngó cho kỷ, nghĩ cho sâu, và làm cho tới nơi tới chốn những thứ gì mà mình nghĩ ra được, có khi trúng có khi trật, trúng thì hay còn trật thì tránh. Nhớ đấy”. Rồi ông bình thản ra đi sau khi ăn lưng bát cơm lúa trồng và một ngụm Chà xanh.
Viết tới hai tiếng Chà xanh, cái tật lơ thơ mơ của tôi trổi dậy và kềm mãi không được. Thôi thì để nó bật ra vậy.
cuộc đời lắm thứ cực lòng ta
thôi nhẹ nhàng nâng một chén Chà
sống chết cả hai đều tuyệt hảo
ngoài sân thơm ngát một cành hoa
Viết thế, nhưng sống và chết của tôi có ngon cơm như ông cả Ruộng không thì chưa biết. Bởi vì tôi có lắm thứ cực lòng, chớ ông thì có cực lòng đâu. Cứ ngẫm nghĩ, cứ làm, được cũng vui mà không được thì cũng vui luôn.

C. Chuyến Hành Phương Nam không mong muốn và những giòng sông nước đỏ:
 Nhưng trời đất thì cũng lắm trớ trêu, lòng người càng lúc càng sáng ra nhưng cũng thêm nhiều gút mắc. Những người từ phương Bắc tới, họ được mời ăn cơm, mời uống chà. Họ khoái quá, nhưng thay vì học làm những chuyện gì đâu ấy thì họ mua, họ đổi những thứ mà nơi họ có, cũng hay. Nhưng dần dần họ thấy mắc công. Họ kéo đàn kéo lũ đến giựt lấy, chẳng những lúa, chà và cả người. Sự giựt dọc bắt đầu cho cho cái mà bây giờ gọi là “ý đồ bành trướng lãnh thổ”. Máu của những con người hiền lành đã đổ, cuộc sống thong dong đã mất đi, những câu hát chừng như nghẹn lại và... một trận đánh cướp của đám bên bờ Bắc tràn qua vào mùa thu hoạch, chúng đông như kiến cỏ, còn ông và bầy trai tráng từ nào tới giờ có biết đánh đấm gì đâu nên thua liểng xiểng. Dù vậy, thua thì thua chớ không bỏ chạy và có một thằng nhóc con nửa đêm thức dậy nấu nước pha trà mà quên dập lửa, lửa lan qua những đống rơm qua các vệt gốc rạ khô dòn vì nắng, bọn giặc cướp chưa từng thấy lửa nhiều như thế nên đứng ngây người ra trố mắt dòm và khi biết ra cái thì cái nóng đã hun sát vào người bèn co giò phóng chạy, con cháu ông thấy vậy cầm đuốc rượt theo đánh một trận đúng là tưng bừng khói lửa. Chúng kinh hoàng chạy về bờ bắc và tôn xưng ông cả Ruộng làm Viêm Đế, gọi đất phương Nam là xứ Quỷ Đỏ (Xích Quỷ)
Khi ông mất, con cháu ông lúc càng đông, làng xóm của ông càng dầy. Những ngẫm nghĩ gì đâu, những công chuyện gì đâu càng lúc càng có nhiều người tham dự. Những vườn cây mướt xanh, những bầy gà tíu tít, những con heo ủn ỉnh, những con bò, con trâu nghé ngọ..., những căn lều càng thêm ấm cúng, những đồ dùng càng lúc càng nhiều... những người sống ở ven sông thì có chiếc thuyền nan, thuyền thúng, người ở núi cao thì có thêm con dê, con ngựa có khi còn cả những con voi. Tất cả đều xuất phát từ những ngẫm nghĩ gì đâu, những việc làm gì đâu. Những bụi lúa trời, lúa ma thưa dần. Những vạt lúa cứ mưa thì xanh mượt, nắng thì vàng óng cứ theo gió mà đong đưa. Đã tự làm ra được cái ăn thì cũng không thể không có cái mặc, cái chơi, những câu cười, giọng nói từ từ trở thành lời ca tiếng hát, cũng lại những ngẫm nghĩ gì đâu để trở nên càng lúc càng nhiều những câu nói gì đâu... Họ vui đùa cười nói, cùng ăn cùng làm. Già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, con trai con gái, người yếu người mạnh, sức nào công việc nấy.
Ơn trời mưa nắng phải thì
Lung thì cày cạn, gò thì cày sâu
Công lênh chẳng quản mau lâu
Ngày nay nước bạc ngày sau lúa vàng.

Nhưng rồi, bọn cướp bên bờ Bắc sau một trận te tua, chúng lại dòm dõ bờ Nam. Phải nói là loài ăn thịt quen hơi nên chúng rất có đánh giết rất thạo, con cháu ông thì quen sống hiền hòa như cây cỏ, lời nói nhẹ nhàng ít thói hơn thua. Trước những phân vân kẻ muốn đi, người đành ở lại thì hai ngưới cháu ba đời của ông vua Nác cũng lại phân vân. Cuối cùng người anh dẫn dắt người ở lại, người em dẫn đầu nhóm người ra đi, dắt díu nhau theo hướng bay của chim Nác, loại chim thường bay về nam tìm thức ăn mỗi khi mùa mưa đến, xuôi về nơi có nắng có mưa, họ đi từng đàn mang theo trên vai cội Chà, túi lúa và mang trong đầu những ngẫm nghĩ gì đâu và phải làm những chuyện gì đâu để sống thoải mái, yên lành. Thực sự tôi nóng mặt, nhưng khi lắng lòng, tôi mới hiểu tại sao họ như thế. Thì ra ông bà tôi luôn luôn có lý.
Cuộc ra đi cứ dài theo năm tháng, qua nhiều đời, rất nhiều đời, họ đã qua nhiều vùng đất mới và lạ, những xác thân để lại và cả những con người còn thiếu một tấm lòng.  Đoàn người dắt díu nhau đi tìm nơi sông sâu đồng trủng,  rồi cùng người ở đó họ cùng chia sẻ mọi điều, cùng sống chan hòa với nhau lập thôn xóm mới, phát cỏ làm ruộng, khơi nương trồng chà, nuôi bầy gà, chăn dắt đám bò, trồng thêm giàn bầu, gieo thêm hạt bí… rồi lại ra đi để tránh quân cướp bóc. Bản tính hiền hòa lại thích làm theo những gì mình nghĩ ra mà không muốn ai nói ra nói vào. Những con người ấy lại lên đường với những bàn chân mới cũng ngần ấy những thứ cầm được trên tay, vác được trên vai, mang được trong đầu. Nhẹ tênh mà vững chải. Và trong từng nhóm người ấy, nhóm trước, nhóm sau, nhóm đi cách này, nhóm đi kiểu khác... Không biết rằng khi buộc phải ra đi và trong cuộc chuyến đi ấy có xảy ra những cuộc cự cãi, ạch đụi nào không? Chắc có lẽ là có, nhưng không hề là một cuộc đánh nhau, như sau này họ gặp phải.
Cho đến một ngày, sau bảy lượt lập làng lập xóm, bảy lượt ra đi, họ đến một nơi nắng ấm, mưa nhuần với mênh mang những cánh đồng đầy cỏ dại cá tôm và những giòng sông mênh mông đỏ quạch phù sa, cũng không hề vắng bóng những cánh chim sống theo con nước. Họ giờ là tập hợp những con người miền núi, miền xuôi đan quyện lấy nhau trong tiếng nói, trong cách sống sống, cách ăn, kiểu làm và những hiểu biết thêm sau mỗi đợi thiên di, sau mỗi lần dừng lại. Những khoảng cách về ngày tháng và nhiều thứ khác không làm cho họ khó khăn khi nhận ra nhau, bởi vì sự tựa nương nhau để sống chung, sống cùng trong vui vẻ. Những cội trà (bắt đầu từ đây tôi gọi là trà cho nó tiện) lại được ươm làm xanh ngát đồi núi, những hạt lúa được gieo và những cái đầu vẫn đầy ắp những ngẫm nghĩ gì đâu lại để cho đôi bàn tay cần cù làm những chuyện gì đâu. Họ cùng người đến trước, cùng kẻ đến sau chia sẻ với nhau những gì mình có, kể cả những điều mà sau này con cháu họ gọi là tình yêu, (hổng biết lúc đó gọi là gì vậy ta, chắc là thương nhau hay mí nhau nhỉ?). Những chiếc riều, lưỡi cày bằng đá lại xuất hiện, những nồi sành, thạp gốm thô sơ ra đời và tiếp theo là những làng xóm vươn dài theo những cánh đồng mút mắt của hai bờ của những giòng sông nước Đỏ mênh mang.
Trong khi những người ở lại đang cố gắng giữ gìn hình ảnh của cả Ruộng, nhưng rồi chính hình ảnh ấy cũng bị bắc hóa, sự chiếm đoạt khởi đầu cho ý đồ mà người phương bắc gọi là “dĩ Hạ biến Di”. Những ngẫm nghĩ gì đâu, những việc làm gì đâu ấy được biến thành tên gọi thật kêu: Tư duy, Phát minh nghe mà sởn gáy. Và ông cả Ruộng lại hốt nhiên biến thành ông Thần Nông với mặt mũi dữ dằn dị hợm và được phong khi thì làm Hoàng, lúc thì làm Đế. Thậm chí có lúc bị truất phế đi đâu cũng không rõ. Ông bị bứt ra khỏi cháu con mình rồi chăng? (tôi không dám tả lại chân dung các tranh tượng Thần Nông không phải vì không biết hay không dám mà vì không đành làm vậy, suy cho cùng ông cả Ruộng thì đẹp trai và... rất nhà quê. Làm ruộng mà)
Không. Ở đây, nơi vùng đất mới hình ảnh cả Ruộng càng ngày được những kẻ ra đi vẫn giữ lấy hình ảnh hiền hoà của ông được tôn tạo và làm thật tốt những điều ông để lại với những vạt lúa vàng ươm mùa thu hoạch vươn đến tận chân trời của những rặng cây xanh, với những vườn trà mút mắt lục non, ruộng bậc thang ở núi, ở non; ruộng chiêm, ruộng trủng ở cánh đồng ven sông và khi mồ hôi được đổ ra, thì cuộc sống thêm xanh tươi với vườn cau, nọc trầu, vườn cây ăn trái, Nhưng cái giàn được dựng bên lều, để những dây bầu dây bí mới gieo có chỗ mà leo hòa quyện lấy nhau, những manh giấy được hình thành mang trên mình những nét chữ ban đầu, những cục đường phèn làm ngọt thêm giọng nói... những cánh đồng trồng lúa ấy gọi chung là ruộng Nác (nác/lạc/nước), những người dân này gọi là dân Nác, có nghĩa những người sống nhờ nước. Nước là đích cuối cùng của họ, là một nơi có nước để làm ruộng, dù họ không cùng giòng máu, không cùng bộ tộc. Và dần dà Nác (nước) trở thành nơi để sống, sống an lành. Nơi ấy gọi là nước Văn Lang.
Rồi một ngày, trên ngọn đồi bên bờ Đông của giòng sông Ngựa Chạy, những người dân nấu nước uống trà, khi tắt bếp để phòng cháy rừng họ khám phá ra có một thỏi đá màu ruộm vàng như vỏ trấu lấp lánh đưới ánh nắng, cứ gần như hai ba bếp thì họ gặp một cục như thế. Tính tò mò họ biết rằng đó không phải là đá vì nó dày mỏng, tròn dẹp khác nhau, rồi trong một lúc vô tinh, họ nhận ra tính năng của nó, rồi những cái đầu quen thói ngẫm nghĩ những chuyện gì đâu đã làm ra những vật dụng nho nhỏ trông như cái phểu có thể đựng được dầu thông, nhựa cây dầu thắp sáng đêm đêm trong những căn lều, chẳng mấy chốc khắp cả làng xa xóm gần của của dân Nác, mỗi khi chiều vừa buông xuống lấp loáng ánh đèn thay cho ánh đuốc. Để mấy trăm mùa trăng tới trăng đi, những tiếng trống lại lên hòa nhịp cùng cuộc sống với lời ca tiếng hát
Hởi o xương nác bên đàng
Sao cô múc bóng trăng vàng đổ đi.
Những cuộc tình nãy ra càng lúc càng nhiều đã cho cuộc sống càng thêm gũi gần, khắn khít. Nhóm đến trước giúp nhóm đến sau, ruộng Nác càng ngày càng nhiều, xóm làng càng lúc càng đông. Và để cho cái chuổi làng xóm ấy mãi mãi yên vui họ đã chuyền vào miệng nhau câu hát khi đón người mới đến:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Dẫu rằng khác giống nhưng chung một giàn
Cuộc sống cần cù và nương theo mưa nắng, đất trời cùng mọi thứ xung quanh, cùng với những cái đầu luôn làm chuyện gì đâu đã dần đưa tới những ngẫm nghĩ về một cuộc sống cùng lớn lao hơn như đồ thờ cúng hay cái nồi nấu cơm, cái thạp đựng tro cốt hay nắm xương người đã khuất và cuối cùng là cái trống bằng đồng để thay thế những cái trống da, gióng giả lên khi sáng đến chiều về hoạc khi tu tập nhau ca hát, hoặc là để báo tin mưa về, nắng đến
Thế là những tiếng trống đồng đơn lẻ, dần dà cùng vang lên cùng nhịp điệu, một chuổi xóm làng mới cáu được dựng lên trên vùng sông nước mang tên Nác. Một trong những người cháu giỏi giang của ông cả Ruộng đươc tôn làm cả Nác, rồi cưới một nàng con gái đẹp như tiên của chuổi làng trên vùng rừng núi mông mênh là nàng Gò. Thế là cái chuổi làng xóm ấy nối dài thêm ra để có  núi, có sông, có biển có rừng. Mà có rừng thì phải có non, có sông biển thì tất nhiên có nước. Một non nước đã hình thành. Một núi sông đà định dạng
Giòng nước ấy luôn luôn chứa đựng ánh trăng để vang lên những câu hát nhẹ nhàng
Hởi o xương nác bên đàng
Sao o múc bóng trăng vàng đổ đi
...
Những ngọn núi cũng được vầng trăng soi sáng và những câu hát cũng theo đó ngân nga.
Vừng trăng soi sáng núi non
Cây còn xanh lá, núi còn đợi trăng
Sự sống chung, ở cùng làm tiếng nói trở nên nhiều hơn và nhẹ nhàng hơn để tránh những um sùm cự cãi, y chang như cái mênh mông của núi rừng, rộng rạt của cánh đồng, bảng lãng của trời xanh, róc rách không cùng của giòng sông, con suối, những thì thầm của nồm nam, chướng bấc đi qua những mảnh vườn, vạt lúa mang theo hường của hoa của lá... Mọi thứ đã tạo nên một tiếng nói dịu dàng êm ru như hát, mà con cháu sau này mới nhận ra đó là một thứ tiếng nói nhẹ nhàng mà có đến 6 thanh. Một thứ tiếng của tình người và người và những thứ chung quanh.
Và họ đã cùng hát với nhau:
Trông trời, trông đất, trông mây, 
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm, 
Trời im bể lặng mới im tấm lòng.
Và không biết tự lúc nào, ông Bụt xuất hiện với nụ cười yên tĩnh, mang theo lời kinh tiếng kệ nhanh chóng hòa vào cuộc sống một cách nhẹ nhàng. Những làn khói mỏng manh thoang thoảng mùi trà giờ đây hòa quyện thêm cả mùi hương trầm làm cuộc sống vốn đã hiền hòa có thêm phần thanh thoát. Làn hương ấy bay suốt chiều dài của lịch sử đầy những đổi thay với những niềm vui, nỗi buồn, khổ đau và hạnh phúc. Cõi diệu hữu vô thường thơm ngát gió không buồn. Cái kiểu cách ở đời bằng lắng nghe (văn), bằng ngẫm nghĩ cho đúng (tư), rồi làm cho tinh tươm (tu) hoàn toàn phù hợp với loài dặn dò của ông cả Ruộng trước khi về với ông bà.
Tôi viết đoạn trên với một thứ tiếng rất nhà quê, bằng cách rất ít xài những tiếng có gốc Tàu, là bởi vì tôi nghĩ ông bà tôi cũng nhà quê như tôi vậy. Và tôi cố được có bấy nhiêu. Còn những giòng tiếp theo thì đành chịu. Ôi, giá như mà tôi được nghe lại những lời ăn, tiếng nói của thời hồi đó
(Những giòng trên đây từ cảm hứng khi đọc cuốn sách "CỔ SỬ VIỆT NAM. Một Cách Tiếp Cận Vấn Đề" và những bài viết rất thú vị của tác giả Trương Thái Du. NXB Lao Động 2007)

D. Múa Gây Vườn Hoang và cái mà hôm nay gọi là tự do
1. Múa Gậy Vườn Hoang
Một câu thành ngữ quen thuộc của người Việt. Không ai biết, nó xuất hiện từ bao giờ và trong trường hợp nào, nhưng hiện nay người ta hiểu và sử dụng nó để phê phán những hành vi tùy tiện, không theo bất cứ một quy tắc nào, nó có nghĩa tương đương với câu “coi trời bằng vung”, nhưng nhẹ nhàng hơn vì không xúc phạm và gây tác hại cho ai. Nó đồng nghĩa vì nó là con đẻ của những ngẫm nghĩ gì đâu và làm những chuyện gì đâu, nhưng lại hơi nghiêng về phần hành động.
Một câu nói luôn luôn được hiểu và sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng trường hợp và tùy theo cả một thời mà người dùng nó đang sống. Vì vậy, ngữ nghĩa của nó luôn luôn biến thiên theo thời gian, cũng không thể loại trừ cái tính chất không hoàn thiện của ngôn ngữ, cách sử dụng của người nói, kiểu tiếp nhận của người nghe. Thử làm một cuộc phân tích tự loại; múa là một kiểu cách biểu lộ cảm xúc bằng chân tay có thể tác động đến người khác, múa gậy tức là biểu lộ một cảm xúc của mình với cây gậy, thì có thể gây tác động đến người khác ở mức độ cao hơn; vườn là nơi trồng cây, là một nơi có người làm chủ, hoang tức là để mặc cho cây cối sanh sôi, nãy nở, bệnh tật và lụi tàn theo tự nhiên không cần chăm sóc vì không có chủ. Tố từ “hoang” mang tính thiên nhiên một cách tuyệt đối, do vậy thành ngữ “múa gậy vườn hoang” đã xác định được sự quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và con người mà không có bất cứ một định chế, một sản phẩm của con người, nào ràng buộc.
Nếu như vậy, “múa gậy vườn hoang” chính xác là một hành vi hoàn toàn tự do luôn luôn phù hợp với quy luật thiên nhiên và không bao giờ gây bất cứ một tổn hại nào cho những định chế xã hội loài người. Còn người múa gậy vườn hoang thì sẽ tự nhận xét những đúng sai, tự ngẫm nghĩ và hoàn thiện điệu múa mà không cần bài bản gì sất, không cần phải nhận lời khen, không cần phải sợ lời chê, không làm phiền lòng, tổn hại một ai. Hệ quả của việc làm này tự anh ta nhận biết và tự chịu trách nhiệm với chính anh ta. Anh ta hoàn toàn tự do. Tuyệt đối tự do. Nghĩa là anh ta múa gậy vườn hoang tức là làm những làm chuyện gì đâu, không ích lợi gì (?!) và chỉ có riêng anh ta biết
2. Những Khái Niệm Về Tự Do.
Nhưng cuộc sống, không biết tự bao giờ, đã nãy sinh khái niệm tự do, mà khái niệm thì chưa bao giờ trở nên hành vi cụ thể. Và trong từng phạm trù khác nhau thì khái niệm ấy lại khác nhau. Thậm chí khác nhau đến độ không còn có điểm gì chung, dù rằng cùng mang tên tự do.
a. Với tôn giáo, trừ đạo Bụt, tự do nằm trong khuôn khổ của đức tin và những giáo điều.
b. Với các thể chế chính trị, thì sự tự do được hô hào rất mạnh mẽ, nhưng thực ra thì không có một chút tự do nào. Tự do có nghĩa là phải làm theo ý sếp.
c. Với luật pháp thì tự do là một công cụ được sử dụng để hạn chế, chế tài những hành vi không đúng với những điều khoản khá rạch ròi. Nhưng có lắm khi không được rạch ròi lắm. Bởi vì sự tự do chỉ có ở người làm luật pháp. Mà người làm luật là ai thì... không biết.
d. Với các nhà triết học thì sự tự do nằm trong những cuốn sách. Mà đọc những sách triết học thì… mất hết tự do.
e. Với một cá nhân thì tự do có nghĩa là làm theo ý thích. Điều này thì đúng nhưng lại làm cho nhiều thứ trở nên lu bu nên mới nãy sinh ra… mất tự do
Thành ra, tự do là một khái niệm rất lu bu. Và người ta tha hồ mà lợi dụng nó để làm theo ý mình. Rốt cục, từ người kêu gọi tự do đến người bị nghe tự do, được nghe tự do chẳng có ai có một chút tự do nào. Rốt cục cái tự do ấy là một hiểm họa. Cái tự do thực thì không ai biết, cái tự do dỏm thì đầy ràng buộc.
Ấy vậy mà trong cuộc sống thì cái sự gọi là tự do được thể hiện khá cụ thể trong thái độ của người sử dụng nó. Và nó đụng chạm tùm lum tà la, giữa cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác. Rồi giành giựt, cãi cọ, ạch đụi nhau tùm lum tà la. Rốt cục, người có điều kiện vật chất và quyền lực thì cho là mình có tự do, còn trái lại thì không có.
Nếu bạn ở trong ngôi nhà mình mà không bị ràng buộc bởi chính nó và những thứ mà bạn có thì đó là tự do. Nếu bạn bước ra đường mà không phải né tránh ai và không gặp sự cố gì thì đó là tự do. Một thứ tự do giản đơn như múa gậy vườn hoang mà không ai làm được.
Múa gậy vườn hoang không có một hệ thống nào, khái niệm nào cũng không cần sự giải thích. Bởi vì có giải thích tức là có khái niệm, có hệ thống. Mà như vậy thì không thể nào mà múa gậy vườn hoang. Nói theo như lời Bụt thì tự do là “không thể nghĩ bàn” (bất khả tư nghì)
Do vậy, tự do không có nghĩa là không bị ràng buộc bởi định chế cộng đồng, định luật của thiên nhiên. Mà tự do chính là nương theo, chứ không phải là nghiêm túc tuân theo. Như là...
Ai ơi, nên nhớ câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua.
Hay là:
Trời mưa thì mặc trời mưa
Ta không có nón trời chừa ta ra.

Thử đưa ra vài giả du mang tính hiện đại:
Giả dụ 1; hai người tham gia giao thông đều dừng lại khi gặp đèn đỏ: người thứ nhất không bất cứ một biểu hiện gì, cứ dừng và chờ đèn xanh; người thứ hai thì biểu lộ sự bực bội, nôn nóng. Tự do của người thứ nhất tồn tại, tự do của người thứ hai bị định chế giao thông tước đoạt.
Giả dụ 2: Khi bạn phải tránh mặt một người mà bạn không ưa, tức là bạn không còn tự do nữa.
Trong trường hợp bị áp bức hay câu thúc thân thể cũng không có nghĩa là bị mất tự do. Nhưng bạn sử dụng lợi thế, sức mạnh, quyền lực hay phương tiện nào đó để áp bức hay câu thúc thân thể ai đó thì chính bạn là người bị mất tự do. Do vậy, tự do là thái độ bên trong chứ không phải là hành vi bên ngoài. Trên con đường của mình, đạo Bụt luôn luôn kêu gọi các con của Bụt phải từ bỏ tham, sân, si. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tự tình dân tộc. Tham lam là nguồn gốc của mọi tội ác, nó làm cho sân hận phát sinh và để cho si mê làm mờ mắt và tự do sẽ bị tước đoạt. Hiểu tự do là như thế mới có thể tìm thấy một sự tự do tuyệt đối. Nhưng trên hết, tự do tuyệt đối là thuận theo lòng của đất, ý của trời. (không phải là ông  trời có râu dài và bà vợ là Tây Vương mẫu, mà là nhân duyên)
Bạn thực sự là người có tự do hay không? Điều đó được khẳng định ngay trong cuộc sống của bạn hàng ngày. Bạn cắm cỗ chạy theo quyền lực, danh vọng, tiền tài và bạn đạt được và bạn cho đó là tự do. Nhưng thật sự không phải thế. Khi bạn có những thứ ấy, bạn phải lo gìn giữ nó, phải sống cho đúng tầm với nó, một thứ tầm của khái niệm, một thứ rất mơ hồ. Bạn không thể đến nơi bạn muốn đến, ăn những thứ cơ thể bạn thèm và cả giấc ngủ của bạn cũng không thể êm đềm dù bạn đang ở trong một căn phòng với đầy đủ tiện nghi. Bạn đang trải qua những thứ đó từng giờ từng phút. Nhưng bạn không nhìn thấy. Tại sao bạn không để những thứ đó; quyền lực, danh vọng và tiền tài tự tìm đến bạn. Bạn chắc sẽ phì cười, nhưng có đấy. Bạn thử gẫm xem về câu chuyện cổ tích Mai An Tiêm và trái dưa hấu và nhiều truyện cổ của dân tộc Việt đã dược ghi lại trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh. Những thứ gọi là phương tiện để sống thì bạn phải làm chủ nó, nó là của bạn, nhưng khi bạn xem nó là của cải thì bạn là của nó. (Từ cải trong của cải có cái âm na ná như cự cãi, cãi lộn. Hay là hồi xưa ông bà ta nghĩ muốn có của thì phải cãi, nên gọi là của cãi, rồi sau này khi làm cuốn Quốc Âm Tự Vị , Ông Huình Tịnh Của viết thành của cải. Cũng dám vậy lắm à nghe)
Nhờ nó mà ông cả Ruộng tìm ra trà và lúa gạo... rồi các đời sau từng bước tìm tòi, làm nên những vật dụng cần cho cuộc sống mà sau này người ta gọi là dụng cụ, phương tiện, văn hóa, nghệ thuật…;  An Tiêm với trái dưa hấu, Lang Liêu với cái bánh dầy bánh chưng, những cái trống đồng…, chiếc thuyền độc mộc… Âu Lạc tiến hành cuộc chiến vệ quốc đầu tiên làm cho Đồ Thư, Sử Lộc bại vong mà không hề biết địch thủ mình là ai... Đó là những ngẫm nghĩ gì đâu để làm những chuyện gì đâu, nghĩa là múa gậy vườn hoang thôi.
Và đó là tư tưởng ban đầu của Âu Lạc xuyên suốt đến hôm nay. Sự xuất hiện của tư tưởng đạo Bụt chỉ là sự tương hợp đã làm giàu có và tôn tạo thêm những gía trị thực tiển và giá trị tâm linh. Tất cả đã nhanh chóng nhập vào một cách nhẹ nhàng thanh thoát, những ngẫm nghĩ gì đâu dần dần dần được xác định. Tất cả do tâm tạo ra. Và cây thiền trượng của các nhà sư đã in dấu khắp non sông mà không hề làm vỡ một hạt bụi mà lại làm mạnh mẽ thêm, trong sáng thêm những tấm lòng vốn đã trong suốt như chén trà xanh. Những ầm ào của thiên nhiên trong quá trình nâng đỡ sự sống như mây mưa sấm chớp là những hiện tượng như những ông thần uy mãnh trở thành hiền hòa Bụt Mây (Pháp Vân), Bụt Mưa (Pháp Vũ), Bụt Sấm (Pháp Lôi), Bụt Chớp (Pháp Điển)
Nhân dân Âu Lạc đã lặng lẽ củng cố vững chắc những truyền thống không gì lay chuyển nổi. Sau Nam Việt là hàng loạt những cuộc kháng chiến nổi lên, dù chưa đủ sức để giành lại một quốc gia, nhưng lại khẳng định sự trưởng thành của một bản lĩnh dân tộc. Và song song theo đó là những truyền thuyết được căn cứ vào một phần sự thật của lịch sử dân tộc được tạo dựng và lưu truyền. Trong những truyền thuyết ấy mang đậm tính tự do từ trong tình yêu và cuộc sống mà không cần có Nho gia. Những nhân vật, những sự kiện xuất hiện trong truyền thuyết lại không mang tính thần thoại mà chỉ là những con người bình thường, thật bình thường dù cho đó là vua, quan, hoàng tử, công chúa và cả là thần linh như Sơn Tinh, Thủy Tinh hay một cậu bé thánh Gióng, một anh dân chài khố rách áo ôm Chử Đồng Tử và Tiên Dung không phải là tự do thì là gì, hoặc một mối tình tay ba của anh em Tân và Lang trong sự tích trầu cau như là sự cảnh tỉnh về nòi giống. Lá trầu, miếng cau luôn luôn hiện diện trong giao tiếp, trong các đám cưới như là một lời nhắc nhở. Trời đất dù cao rộng uy nghiêm và đầy bí mật cũng trở nên gần gũi, ngọt ngào như cái bánh dày, bánh chưng của hoàng tử Lang Liêu, hay trái dưa hấu của Mai An Tiêm là sự biểu hiện cho tính tương thuộc giữa con người và vạn vật…  Sự uy linh của trời đất dưới cái nhìn của nhân dân Âu Lạc bổng trở nên hiền hòa. Tất cả đều nương theo sự vận hành thực tế của tự nhiên để sinh tồn và phát triển. Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý điều này, những truyền thuyết ấy dường như trước khi tư tưởng đạo Bụt xuất hiện, nhưng lại rất Bụt khi mà cốt lõi của nột dung truyền thuyết lại dựa vào sự thật, một sự thật mà những người con dân Âu Lạc, những người con của Bụt luôn luôn tôn trọng, như vậy cũng có nghĩa là những cú múa gậy vườn hoang ấy tưởng chừng như không bài bản gì thì ra cũng có cái để nương vào, đó là sự thật. Người con của Bụt chân chính không nói dối. Trong quá trình phát triển của mình đạo Bụt có thể siêu việt hóa, nhưng suy cho cho cùng thì cũng chẳng siêu việt gì, cái diệu hữu được hình thành bởi trùng trùng duyên khởi, nên bất ngờ một con người tí tẹo gặp phải cái gì mình chưa gặp thì cho là siêu việt. Và ông cả Ruộng và con cháu ông làm nên mọi thứ thì cũng siêu việt vậy thôi. Cứ để mọi thứ xảy ra như tự nhiên, nương theo để đi cho hết một khúc nhân gian mà mình tham dự một cách bình yên. Nhưng mấy ông Trung Quốc cho đó là Thánh, là Thần. Và sáng tạo ra ông Ngọc Hoàng với đầy đủ cung điện, quan bé quan to cai quản khắp chín phương (của) trời, (nhưng cũng phải không bao la vô cùng vô tận như mười phương Bụt) cộng thêm một bầy tiên đồng ngọc nữ và bà vợ hay ghen (Tây Vương Mẫu) (mọi thứ do nghĩ mà ra, nhất thiết duy tâm tạo). Bởi vì đó là một điều không có mà nói có là nói dối. Nếu những thần thánh hóa xuất hiện trong đạo Bụt là khi Phật Giáo tiếp xúc và hòa nhập vào xã hội Trung Quốc, nhưng ở Âu Lạc thì không. Do vậy trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Ở Việt Nam có rất ít những chuyện thần thông quảng đại, bởi vì một những chuyện như vậy không bao giờ có. Kể cả chuyện Thánh Gióng, một cậu bé lớn nhanh như thổi cho kịp thời cơ đánh đánh đuổi quân xâm lược với con ngựa mình đồng da sắt và vũ khí thì không phải một loại gươm giáo gì đó chém sắt như chém bùn mà là một cây tre chỉ có thể làm cho họ nhụt chí chiến đấu chứ không cần thiết phải sát thương đến máu chảy thành sông. Một truyền thuyết oai hùng và là biểu tượng của tính nhân văn. Đó là một biểu hiện của Âu Lạc, tư tưởng múa gậy vườn hoang. Trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh cũng thế, thậm chí tính bao dung lại rộng hơn, trùm khắp đến muôn loài. Một cuộc chiến long trời lở đất ấy, binh tôm tướng cá, nguyên soái hùm beo, sĩ tốt hưu nai vẫn an toàn trong cuộc chiến dù phần thắng nghiêng về ai. Không sát sinh, không nói dối, không tà dâm… Và năm điều đó được thực hiện một cách an nhiên tự tại chứ không là ràng buộc, là giáo điều. Ngũ giới cấm của đạo Bụt hoàn toàn phù hợp với tư tưởng tự do của cư dân Âu Lạc với mục đích ban đầu là bảo vệ cho sự sống của bản thân và của muôn loài. Tư tưởng muá gậy vườn hoang. (bắt đầu từ đây tôi sử dụng từ Tự Do Âu Lạc theo tinh thần múa gậy vườn hoang và đạo Bụt),
Những điều tôi nhận ra về buổi hừng đông của dân tộc chỉ là như vậy. Tôi không cần phải tìm hiểu những điều đó có thật hay không. Bởi vì nếu không có thật thì tại sao vẫn tồn tại hơn mấy ngàn năm. Còn giả như đòi hỏi chứng cớ thì tìm nó ở đâu và tìm để làm gì?
Nhưng có một điều tôi không tin, không bao giờ tin. Đó là những cái tên sao mà rặc Tàu đến thế. Cội nguồn của tôi không thể đặt ra rồi xưng lên một cái tên như vậy với một lý do rất dễ hiểu, họ không biết tiếng... Tàu. Có thể sau này khi cái bọn Đại Hán “dĩ Hạ biến Di” đã áp đặt một nền văn hóa nô địch, triệt tiêu chữ viết của ông bà ta, rồi khi các sử gia chúng ta sử dụng chữ Tàu, căn cứ tư liệu Tàu để viết sử mới nãy sinh ra hai cái tên nước kỳ cục Xích Quỷ và Văn Lang:
- Xích Quỷ (quỷ đỏ). Sử Trung Quốc trước khi tôn ông cả Ruộng làm Thần Nông thì gọi ông là Viêm Đế là ông vua xứ nóng và đã từng cho ông Hiên Viên tưởng tượng của đánh nhau với Viêm Đế một trận ra trò ở Trác Lộc, trong lúc đánh nhau thì gọi ông là vua nước Xích Quỷ, rồi không hiểu căn cứ vào đâu và nghĩ gì mà mấy ông nho Ta lấy cái tên Xích Quỷ làm tên nước của ông Đế Minh là cháu ba đời của ông Cả Ruộng.
- Văn Lang (người con trai vằn vện/người con trai có văn hóa). Hiểu theo vế nào đây? Chắc là họ nghĩ theo vế đầu rồi vì thấy ông bà ta thời ấy có tục vẽ mình. Làm sao họ có đủ khiêm tốn để mà gọi với cái nghĩa sau, dù rằng cái nghĩa này xứng đáng biết bao nhiêu.  Rồi phong cho cả Nác làm vua mà viết sai chữ Lạc (nước) thành Hùng (Hùng Vương), nàng Gò thành Âu Cơ họ lấy chữ u () là cái chậu ghép với chữ ngõa () là ngói (những sản phẩm từ những vùng đất gò cao) thành chữ Âu ()... Đả vậy cộng thêm mười lăm vùng đất mang tên Tàu. Còn cái biển Đông của Âu Lạc thì đúng quá rồi, tại sao lại là Nam Hải. Thâm độc thiệt. Và không hiểu sao những ông Nho ta khi viết sử lại bê nguyên xi những tư liệu của kẻ xâm lược mà không tìm hiểu một cách thấu đáo.
Và bây giờ dù muốn dù không con cháu cũng phải chấp nhận một thứ chữ nửa Tàu nửa Ta để mà giải thích, học tập và tôn tạo một nền tảng văn hoá không có Tàu. Ngoại trừ mấy thằng Việt dỏm có cái đầu Tàu Khựa đang làm hao mòn dần đất nước.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét