Người theo dõi

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

MÚA GẬY VƯỜN HOANG - CHƯƠNG 2a -




Ca dao và Thơ

A. Những ngẫm nghĩ về ca dao
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ… Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?
Nguyễn Duy

Tiếng nói tuyệt diệu để thể hiện tư tưởng t do Âu Lạc là... Ca Dao hay chính xác là Thơ. 
Ký ức không cho tôi nhớ lại những lời mẹ tôi ru trong những ngày đầu đời, nhưng tôi đã thẩm thấu được sự ngọt ngào trong những lời ru ấy. Khi đã lớn khôn rồi gặp khó khăn trong cuộc sống tôi lại về với mẹ hoặc khi cảm sốt mà có mẹ gần bên, tôi có cảm giác như nghe lại được lời ru ấy. Trong cuộc sống, khi đi đó đi đây tôi nghe ai đó ru cháu, ru con, ru em, tôi cũng có cảm giác như mẹ ru mình. Tôi không nhớ hết được, thậm chí gần như không nhớ gì nội dung những lời ru ấy. Nhưng giọng ru của mẹ tôi thì không bao giờ tôi quên được. Tất nhiên là lời mẹ tôi ru những đứa em tôi. Bây giờ thì mẹ tôi đã mất rồi, nhưng giọng ru ấy thì vẫn còn đây, khi tôi nhớ mẹ và cả khi viết những giòng này.


Lớn lên một chút, tôi sống với ông nội. Những đêm trời trong gió mát hay những buổi trưa hanh nắng tôi lại nghe ông nội nói thơ, thỉnh thoảng ông lại hát hay hò thơ… Bạch Viên Tôn Các, Lục Vân Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn …
Tôi đến trường năm tôi năm tuổi, không phải đến bằng con đường đàng hoàng như người ta. Tôi đến trường vì sự nghịch ngợm làm ông nội chịu hết xiết, nên ông đem tôi gởi cho ông thầy giáo quen, lúc thầy đang dạy một lớp học trong làng mà học trò đâu chừng hơn một chục và kẻ lớn, người nhỏ chẳng đều nhau. Và khi tôi yên vị ở dãy bàn cuối lớp mà chẳng có cuốn tập cây viết nào. Tôi được nghe thầy giảng hai câu:
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Dẫu rằng khác giống nhưng chung một giàn…
Thầy giảng, tôi dỏng tai nghe. Kết quả là tôi không hiểu gì ráo. Nhưng hai câu đó tôi nhớ như in.
Rồi khi lớn lên một chút, thay vì loăng quăng với những trò chơi con nít thì tôi lại bắt đầu bằng một thứ trò chơi không giống ai, đi theo một ông cụ hàng xóm chăm chút những dây bầu dây bí, những khóm bông mười giờ, bông móng tay… và… những bài học thuộc lòng với những câu thơ ngăn ngắn. Màu xanh cây lá, màu lục của các chồi non, những giòng thơ êm êm mở ra những khung trời mộng mơ bé xíu.
Thế rồi… con đường học hành của tôi là con đường… lu bu cùng với thơ. Tôi tập làm thơ. Tập gần hết cuộc đời mình, từ một tên lu bu, tôi trở thành kẻ lơ mơ và bây giờ ngồi viết những giòng cũng rất lơ mơ. Thực tình tôi viết những giòng này cũng không biết để làm chi. Thôi cứ gọi là một lời tâm sự gởi đến người thân và bạn bè. Con đường tôi đi nó chông chênh thế ấy, mơ màng thế ấy và vì thế luôn luôn đối diện với khó khăn, thiếu thốn. Tôi không thể nào làm gì được khi mà không có thơ người, không có thơ tôi. Tôi dốt toán, cộng trừ nhân chia lam nham thì được, tính lời, tính lỗ thì thua. Thôi thì nghe lời Cụ Tiên Điền vậy:
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao. (Kiều)
Hai số phận ấy; phong trần và thanh cao, tôi chẳng biết cái nào hay cái nào dở. Bởi vì phong trần thì tôi biết quá rành, nghĩa là cứ lu bu lang bang suốt thì không gió bụi là gì. Còn thanh cao thì chưa bao giờ nghe ai nói tôi là thanh cao, mà có nói thì tôi cũng chẳng biết thanh cao là cái quái gì. Thành ra vô phương so sánh. Hổng biết nên trách hay cám ơn ông trời đây ta.
Có nhiều lúc, tôi ngồi nhớ lại mọi chuyện đã xảy ra trong đời mình, từ những xúc cảm đến những hình ảnh đã từng lướt qua trước mắt, cả những việc làm đầy những trúng trật, đúng sai của mình. Có những thứ trở thành kỷ niệm, có những chuyện muốn quên đi và cả những điều tưởng chừng chìm đâu mất, bổng dưng hiển hiện trở về, lúc đó, những khái niệm đúng sai, trúng trật đều không còn nữa. Tất cả làm cho tâm hồn lắng xuống rồi gợi thành những ước vọng của ngày mai, ngày mốt hay xa hơn. Thậm chí, còn mường tượng ra cái ngày mình ngủm nó ra làm sao nữa. Không hiểu người khác có như thế không? Nhưng tôi thì là vậy. Cứ tưởng là khi tâm hồn lắng xuống là như giòng sông phẳng lặng. Nhưng không phải thế, vẫn còn đó những ngọn sóng, chẳng qua là nó êm đềm hơn hay là chìm xuống và chờ một cơn gió. Đúng là cái đầu lu bu.
Từ những lần như thế, càng lúc nó càng dẫn dắt những hiểu biết còm cõi của tôi lang thang vào một nơi mà tôi thích nhất. Những vần điệu êm đềm. Thơ.
Ai đó, thích một cái gì, dù tốt hay xấu cũng đem hết đời mình mà lăn vào. Thậm chí còn lăn qua lộn lại trăm bề. Và cái không khí họ thở luôn luôn đậm cái mùi mà họ thích; Không khí của nhà kinh doanh, nhà tài chính luôn luôn đậm đặc hơi tiền. Của nhà hóa học thì đầy mùi hóa chất. Của tay nghiện rượu thì nồng nặc hơi men. Của nhà khảo cổ thì chỉ là mùi ẩm mốc, rêu phong. Của nhà đạo đức hay những anh công an, cảnh sát thì ngửi ở đâu cũng có mùi tội lỗi… Tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng không khí của tôi thì rất mơ hồ, chừng như có, chừng như không, như mơ mơ, như thật thật. Cái không khí ấy gần như trùm phủ lấy mọi người, dù người đó không thích thơ, chẳng biết trên đời này có thơ. Tôi không nói quá đâu? Một Chí Phèo, một Thị Nở và cả một ai đó mà bị cuộc sống xô vào nơi dung tục, nói năng bạt mạng, không một chữ lộn lưng. Nhưng khi mà họ thấy lòng mình rung cảm trước một điều gì đó. Xin thưa, đó là tô cháo hành, là rung cảm, là thơ. Nói một cách rõ ràng hơn, sự rung cảm của con người trước sự việc, sự vật và trước một người nào đó, có thể là cả những con vật, cội cây nào đó, đều rất đáng để nên… thơ. Có điều là họ không viết ra thôi, có thể vì họ không viết được hay không thích hoặc đang bận buông mình vào thứ khác, nhưng trong lòng họ đang thì thầm, miệng họ có khi còn lẩm bẩm. Chính cái đó làm cho con người sống, vì những thứ đó là thơ. Nói tóm lại “…thơ là vần điệu của ngôn ngữ, nhưng trước nhất phải là vần điệu của tấm lòng…” Có thể muôn loài cũng vậy. Chẳng qua là chúng ta không hiểu được đấy thôi.
Đường xanh chi bấy cỏ ven bờ.
Cho bước chân về chớm ngẩn ngơ.
Chó vện gọi bồ ủng ẳng,
Gà con lạc má lơ ngơ.
Dưới  sông con cá long rong ruổi,
Trong nắng chuồn chuồn lất phất phơ.
Ai đó kèm nhèm hai mắt ngó,
Nghe buồng phổi nhẹ một hơi thơ.
Tôi đã từng viết như vậy, xin đừng hiểu lầm là tôi biết rõ tâm tình của vạn vật. Chẳng qua là vạn vật tặng tôi thơ. Chỉ có vậy.
Nhưng biết đâu những tiếng thì thào của cành lá, rì rào của sóng nước, tiếng tí tách của mưa rơi, những long lanh của nắng ban mai, trầm tư của ráng chiều… cả tiếng lào xào của sỏi đá. Những âm thanh, dáng vẻ của tạo vật đang chuyển tải đến lòng ta những rung cảm của sự cộng sinh. Sẽ cảm nhận được mà, nhất là những con người có tấm lòng hiền như… thơ. Có ai mà không từng rung động trước âm thanh ấy, dáng vẻ ấy và cả những tiếng chim hót, vịt kêu, gà gáy, chó sủa, heo la, con trâu, con bò nghé ngọ… và cuối cùng là giọng nói nhỏ nhẻ của cô hàng xóm. Tất cả những thứ đó cho ta êm đềm, dù có lắm lúc chói tai. Nhưng đó là cảm xúc chủ quan của ta, mà chúng ta thấy khi thì rất thơ mà cũng có lúc lại không thơ. Nhưng khi đã khách quan hơn thì đó là vần điệu của tạo hóa, trong đó có vần điệu của loài người và có thể là vần điệu của muôn loài. Bây giờ khi chúng ta được cổ nhân truyền lại một sản phẩm vô giá đó là chữ viết. Chữ viết ghi lại những vần điệu của lòng ta và ta gọi những là thơ, là nhạc. Nhưng trước khi trở thành thơ thành nhạc thì đó là… Ca Dao.

a1: Ca Dao Xuất Hiện Từ Lúc Nào
Khi chưa tự tạo ra cho mình một nguồn thực phẩm để sống, chỉ hái trên cây, nhặt dưới đất những thứ có thể ăn được, và hái nhặt một trái hay một thứ gì ăn được và đưa cho một người khác, hành động đó biểu hiện cho tình cảm, trước nhất là tình cảm huyết thống, kế đến tình cảm giới tính, và cuối cùng là tình cảm cộng đồng. Những sợi dây tình cảm mong manh ấy lần lần thoát ra khỏi quán tính. Khi tình cảm đã xuất hiện và ca dao xuất hiện theo. Như vậy thì ca dao đã có mặt từ trước khi ông cả Ruộng (Thần Nông) tìm ra cách trồng lúa.
Không biết các dân tộc khác thì ra sao? Chớ dânViệt Nam mình thì là như vậy.
1- Trời mưa nước chảy sông Đoài
Cỏ lên đè lúa, cá trôi lềnh bềnh
2- Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cùng qua
3 - Thương chồng nên phải gắng công
Nào ai xương sắt da đồng chi đây.
4 - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
5 - Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Giả dụ như năm câu ca dao trên là cổ nhất thì lúc nó xuất hiện là lúc nào. Có trời mà biết. Có thể nghĩ là khi mà yêu cầu cuộc sống cần có sự nhận xét, cần có tình yêu, sự tương trợ, đùm bọc lẫn nhau thì đã có những câu như thế rồi. Bởi vì khi cái nhu cầu ấy thực sự làm cho cõi lòng xao động, dù bất cứ trạng thái nào, yêu, thương, giận, ghét..., thì ca dao xuất hiện để mà giải bày, thể hiện. Cách nói có thể khác, ngôn ngữ có thể khác, dù rằng chỉ là tiếng Việt mà thôi. Nhưng khi cần đến thì tùy theo thời điểm mà người ta nói ra, mỗi lần khác đi một ít do sự biến đổi của ngôn ngữ, môi trường sống, do cần thiết của âm điệu và do cả sự đáp ứng nhu cầu của tâm hồn và cả của sự thẩm thấu đương đại mà đến hôm nay nó có một hình thức như thế và cũng kể luôn cái việc tam sao thất bản hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là biến tấu, là thay thế một vài từ hay nhiều từ, có khi là cả một câu cho phù hợp với tình cảm hay bất cứ một điều gì đó cho phù hợp, kể cả ngôn ngữ. Lần hồi thì cái ý ban đầu còn đó, nhưng câu nói ban đầu, nếu có cách nào đó mà ta nghe lại được, thì có lẽ cứ như là nghe tiếng… nước ngoài. Vì vậy, ca dao thì rất cũ, nhưng luôn luôn mới. Thành ra ông Lê văn Siêu nghi ngờ về việc hai câu 5 xuất hiện từ thời Hai Bà Trưng. Ông nghi ngờ cũng đúng. Vì làm sao mà thời đó có những câu lục bát gẫy gọn trơn tru đến thế? Làm gì có nhiễu điều, gía gương (!?). Nhưng ông lại quên là nhân dân Âu Lạc lúc này đang trong thời kỳ văn minh đồ đồng. Trống đồng, thạp đồng mũi tên đồng và cả chiếc thuyền cũng bằng đồng thì cái gương đồng chắc có lẽ phải xuất hiện rất lâu trong đời sống. Còn phủ nhận ư? Chắc cũng không có một lý do nào xác đáng. Vì vậy, có một điều cần lưu ý. Hai câu 1 có thể ước tính là xuất hiện khi dân tộc đã đi vào thời kỳ văn minh lúa nước.
1. Trời mưa nước chảy sông Đoài
Cỏ lên đè lúa, cá trôi lềnh bềnh
Thiên nhiên đôi khi cũng ác. Nhưng có lẽ không phải vậy. Chẳng qua là chúng ta không biết cách để nương theo. Hoặc thậm chí là cho rằng quá khôn nên kênh lại.
Hai câu 2 thì có lẽ là sớm nhất khi mà quan hệ tính giao thoát ra khỏi quán tính, người ta tìm đến nhau mà bất chấp hiểm nguy, cách trở là vì yêu cầu của tình yêu chớ không phải vì yêu cầu của tính giao (dù rằng nhu cầu này luôn luôn thôi thúc).
2. Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Hay
Ai về cho em về theo
Ngó truông truông rậm, ngó đèo đèo cao
Hồi đó muốn đến với người yêu thì phải đi… bộ. Vậy mà cũng tới với tình vẫn ở lại với tình rồi không đi đâu nữa, có lẽ vì sợ mỏi chân. Bây giờ thì đi xe, đi tàu, đi cả máy bay siêu thanh, có lẽ vì vậy mà lắm khi đi… huốt
Hai câu 3 phải xuất hiện trong hoặc sau thời kỳ đồ sắt, đồ đồng.
3. Thương chồng nên phải gắng công
Nào ai xương sắt da đồng chi đây.
 Hai câu 4 thì ít ra phải xuất hiện khi mà con người biết gây gỗ, ạch đụi nhau, nên mới kêu gọi…
4. Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Và hai câu cuối cùng thì chỉ xuất hiện khi mà con người có khái niệm về quốc gia.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Và cũng có thể cần một sự liên kết ban đầu nào đó giữa người và người sẽ nãy sinh;
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây dụm lại nên hòn núi cao
Nhưng giọng điệu ban đầu của nó thì có thánh cũng không biết. Có điều chắc chắn là khi đọc lên nghe cũng phải êm tai cái đã. Và chính vì cái êm tai đó mà nó biến đổi, thậm chí biến đổi đến độ không quan tâm đến những nghịch lý. Như hai câu 4. Không biết lúc nó xuất hiện thì trái bí ra làm sao. Chớ trái bí bây giờ dù là bí rợ hay bí đao mà trồng có giàn như bầu, khổ qua, su hào, mướp thì giàn nào mà chịu nổi. Hay đó là trái mướp. Tôi thiên về trái mướp mà tôi không dám sửa, không phải vì ngán công ước Bern, với lại đối với ca dao thì công ước Bern vô hiệu, mà tại vì tôi không biết trái bí thời câu ca dao đó xuất hiện nó bao lớn, người trồng thả dây cho bò lang trên mặt đất hay làm giàn, có thể vì lúc đó rừng thì mênh mông, cây cối thì bạt ngàn, thành ra còn khối cây để mà làm giàn. Ngoại trừ mấy anh làm biếng.
- Ru con con ngủ cho lành
Mẹ đi gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Có thể xem bốn câu trên được xuất hiện vào thế kỷ thứ III không? Chắc chắn rồi, làm sao mà gọi là có thể cho được.
Hay như hai câu dưới đây thì chắc chắn là hiện đại, nó nãy sinh từ khi loại vé số năm con tăng lên sáu con cho giải đặc biệt;
Vé số sáu con khó dò
Đất lung bán trước, đất gò bán sau
Không thể nào biết đích xác ai là tác giả, nhưng biết chắc là tay nhà thơ ngang xương chắc cũng chẳng văn chương chữ nghĩa gì đâu, nhưng lại xúc cảnh sinh tình trước cảnh te tua vì chơi vé số.
Cứ như thế có thể xem xét sự xuất hiện của từng câu ca dao qua nội dung để khớp vào những giai đoạn lịch sử của dân tộc. Có khiên cưỡng không? Có thể bạn không đồng ý với tôi. Nhưng cả tôi và bạn cùng có thể mĩm cười với ý kiến của mình khi nhớ lại cái “có quyền” của Trung Niên Thi Sĩ. Hay nói khác hơn là như tôi vậy. Múa gậy vườn hoang.
Khi ông cả Ruộng và nhóm của ông thực hiện việc đem lúa trời về ruộng, chắc chắn sẽ phát sinh câu ca dao dưới đây:
Đêm trời tang, trăng soi không rõ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi
Đêm nào sao sáng xanh trời
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày
Những ai chăm việc cấy cày
Điềm trời trông đó, liệu xoay việc làm
Hoặc là
Mây kéo đàng Đông vừa trông vừa chạy
Mây kéo đàng Nam vừa làm vừa chơi
Nhìn ngắm thiên nhiên, nương theo mưa nắng để mà sống là lẽ đương nhiên. Những kinh nghiệm được tích lũy phải truyền lại đời sau như thế nào cho dễ nhớ, tất nhiên không thể nói vòng vo được mà phải gọn và êm
Hễ mà cây trái được mùa
Nhờ sông đầy nước nhờ mưa đầy trời
Ai ơi nên nhớ lấy lời
Xem trời, coi đất liệu thời làm ăn
Hoặc đi sâu vào chi tiết bằng cách nhìn và nắm bắt những phản ứng của động thực vật trước những đổi thay của thời tiết để mần ruộng, đi đứng;
- Én bay thấp mưa ngập bờ ao
Én bay cao mưa rào lại tạnh
- Những người đi biển làm nghề
Thấy giòng nước nóng thì về đừng đi
Sóng lừng bụng biển ầm ì
Bão giông sắp tới chớ hề ra khơi.
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
Chà đây là hai câu mà tôi rất khoái. Bởi vì hồi mới lớn lên tôi thường hay áp dụng cái câu này để mà chuẩn bị cho những cuộc hò hẹn của mình, mà đã khoái thì phải ăn theo.

      Bước ra ngoài phố chợt buồn,
Tìm không thấy bóng con chuồn chuồn bay.
      Nắng mưa dự đoán sao đây,
Để mà chuẩn bị phút giây hẹn hò.
      “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm”.
      Giờ đây phố xá ầm ầm,
Cây xanh thưa thớt lầm lầm bụi bay.
      Người ta xả rác luôn tay,
Con chuồn chuồn bỏ chốn này ra đi.
      Còn anh thì cứ loay hoay,
Mưa bay tưởng nắng, nắng đầy tưởng mưa.
      Lắm phen trớt quớt hẹn hò,
Em hờn giận để câu thơ anh buồn.
     Anh không nở giận chuồn chuồn
Bèn quạu phố bẩn, bèn buồn phố dơ

Rồi khi thấy mình có một chút khôn khôn bèn tác động vào thiên nhiên thì có ngay lời cảnh báo
Nước non là nước non trời
Ai phân được nước ai dời được non.
Nhưng đôi khi cũng phải cần một chút mạo hiểm
Ra khơi mới biết cạn sâu
Ở trong lạch hói biết đâu mà dò
Rồi cả những kinh nghiệm gieo trồng tùy theo thế đất với những so sánh sát sườn và... thú vị
- Cơm ăn một bát sao no
Ruộng cày một bận sao cho đành lòng
Lung cấy lúa, gò gieo bông
Không ươm được đậu thì trồng ngô khoai
Và dạy cả những cách chế tạo nông cụ
- Gỗ kiền thì để đóng cày
Gỗ lim gỗ sến đóng ngay cây bừa
Lưỡi đừng nhỏ cũng đừng to
Tùy theo thế đất cho vừa cạn sâu
Tất nhiên không có gì để khẳng định hay phủ nhận những câu ca dao trên là xuất hiện sớm nhất cũng như có thể xác định chính xác thời điểm xuất hiện. Đây chỉ là giả dụ. Trong “Giao Châu ký” của Lưu Hân Kỳ được viết vào khoảng những năm 380-420 có đoạn như sau “Phong tục Giao Châu thích đánh trống gảy đàn, những đứa mục đồng cưỡi trâu ở đồng lạch cũng hát nghêu ngao những bài ca xa xa, trẻ con nhóm lại dưới trăng, vỗ tay tạo nhịp rầm rộ để khiến cho bài ca hay…”. Như vậy thì ca dao phải xuất hiện từ lâu lắm để trở thành văn hóa. Có lẽ, đây chưa phải là một văn bản xưa nhất nói về ca dao của dân ta từ thời nước Việt bị mang tên Giao Chỉ. Nếu thế thì ca dao xuất hiện trước nữa rồi. Bởi vì, Khổng Tử có nói rằng “Dân Bách Việt rất thích ca múa, vừa làm việc vừa ca vè...” và ông “khinh bỉ ?!” mà cho rằng: “xướng ca vô loại, chẳng nên ca múa như dân nam man” . Nghe mà buồn cười. Thôi thì ghé mắt lan man qua Luận ngữ một tí: - Phu tử ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào đi phúng điếu về thi cả ngày không ca hát” (Tử thực hữu tang giả chi trắc, vị thường bảo dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca). - “Phu tử lúc ở nước Tề, học nhạc Thiều ba tháng, ăn không biết mùi thịt. Ông nói rằng: Chẳng ngờ học nhạc vui đến thế” (Tử tại Tề, văn thiều tam nguyệt bất tri nhục vị. Viết: bất đồ vi nhạc chi chí ư tư dã) – “Phu tử đàn hát với ai, người ta hát câu nào hay, thì bắt hát lại để người họa theo”  (Tử dữ nhân ca nhi thiện, tất sử phản chi, nhi hậu họa chi” (Thuật Nhi VII)
Ngộ nghe. Thôi mặc ai nói gì thì nói. Người Âu Lạc cứ hát cứ hò với ca dao để cho thằng chệt Khổng từ có cái mà bắt chước
Ông Lê văn Siêu viết “Lời nói muốn lọt vào tai người nghe, trước hết phải là một lời thơ.” Và ông còn giải thích thêm “Lời thơ muốn được truyền từ người này qua người nọ trước hết phải hợp với nhịp sống nội tâm cũng như ở ngoại cảnh” (VNVHS. Tr 16. Nxb Văn Học năm 2006). Đến trang 22, sau khi phủ nhận những chứng tích cụ thể, vì không thể tìm được, thì ông lại viết một câu thật cảm động “ ...Song với sự suy nghĩ kỹ càng của chúng ta bây giờ thì chứng tích cụ thể của nền cổ văn học ấy đã có ngay trong tiếng nói, ngay trong âm thanh, ngay trong khả năng tạo thêm tiếng mới để diễn dịch tâm tình và tư tưởng, và thêm nữa ở ngay trong phong tục hát ví giữa trai gái các thôn ấp trong những dịp hội hè về mùa Xuân”. Điều này hoàn toàn đúng. Không riêng bất cứ một dân tộc nào, mà tất cả muốn tiến bộ, muốn tồn tại thì sự phát triển ngôn ngữ bao giờ cũng là một điều kiện tất yếu.  Không biết các dân tộc khác thì sao. Nhưng với dân tộc Việt Nam, tiếng Việt phát triển được là nhờ một phần rất lớn của Ca dao. Có phải đó là đặc trưng của ngôn ngữ Việt. Nếu thế thì dân tộc Việt đều là thi sĩ hết ư? Có lẽ vậy, nếu không thì tại sao chúng ta lại có một kho tàng ca dao khổng lồ đến thế.

a2: Sự Thay Đổi Ngôn Ngữ Của Ca Dao
Biến thiên của lịch sử, thay đổi môi trường sống, điều kiện sống làm cho ngôn ngữ thay đổi, bớt đi từ này không còn phù hợp, thêm những tiếng kia để cho sự diễn đạt được tinh tươm, đáp ứng những yêu cầu đương đại và ca dao thì cũng thế. Và còn có cả những giao lưu văn hóa của các bộ tộc, dân tộc lân cận. Do đó, cùng là ngôn ngữ, nhưng xưa khác, nay khác, vùng này không giống vùng kia. (Vâng, dợ, dạ / cái, o, cô / u. mệ, má/ như thế, như rứa, như vậy bắc, trung, nam)… – cóc ngõ, nhẫn, sảy, lểu đểu, chăng, mạc, dầu, bui… (thời Trần, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay trước nữa) hiểu biết, cho đến, mất, lảo đảo, không, vẻ, gì, chỉ… (hiện đang sử dụng). Cũng chẳng biết tiếng Việt chúng ta thời nay giống thời Âu Lạc được mấy phần, chắc là khác nhau nhiều lắm. Nếu như có ai đã từng đọc được những tác phẩm xưa như bản dịch của Tuệ Tĩnh diễn nôm Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục của Trần Thái Tôn hay Cư Trần Lạc Đạo phú của Trần Nhân Tôn, thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc sẽ gặp rất nhiều những từ vựng mà ngày nay không còn thông dụng nữa. Và lắm khi chúng ta không thể nào hiểu được tiền nhân muốn nói gì. Dù vẫn còn lác đác đó đây những từ Việt cổ trong ca dao nhưng hầu hết đều được thay đổi. Không thay đổi tiếng thì thay đổi nghĩa.
Hiểu sao đây khi người Hà Nội vào Huế, người Sài Gòn ra đất Thần Kinh nghe câu hò thế này.
Hởi o xương nác bên đàng,
Sao o múc ánh trăng vàng đổ đi.
(Hởi cô tát nước bên đàng,
Sao  múc ánh trăng vàng đổ đi.).
Có lạ lùng lắm không. Điều kiện giao thông bây giờ làm cho con người gần gũi lại, sự giao lưu rộng ra, nên sẽ hiểu ngay và cảm nhận tức khắc. Nhưng cách đây một trăm năm, người Sài Gòn, người Hà Nội sẽ điếc ngay. Tôi nhớ năm tôi hai mươi tuổi (1967), lần đầu tiên đến Huế. Tôi có quen một cô, chúng tôi có một thứ tình cảm được gọi là trên bạn bè một tí, tôi nghĩ thế và khi thời cơ đến tôi nắm nay cô ấy toan thổ lộ lòng mình. Cô gạt tay ra, rồi cau mày nói một câu mà tôi nghe như chim hót và không hiểu gì ráo “Ni, ni cái anh ni tề. Anh mần chi mô mà dị rứa?”. Và chính vì cái không hiểu ấy mà cái công tò vè hơn một tháng của tôi đi đứt. Ca dao là thế, sử dụng thứ tiếng mà mình đang dùng, mọi người cùng hiểu để biểu lộ một tình cảm, giải tỏa một nỗi buồn hay đem đến một niềm vui, sự khoái chí hoặc phê phán một điều gì đó. Người ta ngâm nga. Hay dở, đúng sai không cần. Hãy nói ra cái đã, những câu nói ấy là sự rung cảm của chính mình bật ra có vần có điệu, có thể là sản phẩm của mình hay mình đã nghe của ai đó, cũng có thể là mới hoặc từ xưa để lại, mà bản thân người đó được thẩm thấu từ lời ru của bà, của mẹ, của chị hay nghe ở đâu đó vào một thời điểm mà lòng ta dễ rung động nhất, được pha chế thêm cho phù hợp với hoàn cảnh, mục đích và bằng ngôn ngữ mang tính đương đại hay địa phương. Bởi thế, ca dao xuất hiện từ rất xưa, và liên tục xuất hiện theo yêu cầu của cuộc sống. nhưng luôn luôn được thể hiện bằng một loại ngôn ngữ mới toanh. Nếu còn chăng là cái nền không bao giờ suy suyển, đó là cái hồn người. Nhưng bây giờ ít ai biết đến ca dao, nên nếu bất chợt nghe thấy thì gọi đó là quê mùa. Một cách hiểu dốt nát, kỳ cục. Nhưng thực ra thì không phải vậy. Và có lẽ cũng nên đọc lại và tìm hiểu thêm tại sao đại thi hào  Nguyễn Du lại kết thúc danh tác Kim Vân Kiều bằng hai câu:
Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Lời quê là lời nói chân tình, mộc mạc được góp nhặt trên cả một đất nước quê hương để mà mang đến niềm vui trong một vài trống canh nhàn rỗi (tất nhiên trong ngôi vườn ngôn ngữ của cụ Tiên Điền ken đầy hoa dại ấy cũng vẫn chen lẫn lác đác đó đây những hồng cúc lan đào… kiêu sa hương sắc hay thược dược mẫu đơn… vương giả)
Một thay đổi nhỏ trong câu chữ cũng làm thay đổi rất nhiều thứ. Ca dao là một sáng tác mang tính tập thể, người sử dụng tùy theo nhu cầu tình cảm của mình hoặc vì một lý do nào đó, đôi khi còn có cả tính cách của người sử dụng, thành ra sẽ không lạ gì khi mà nhìn thấy có nhiều câu có nội dung na ná như nhau, nhưng ý nghĩa thì khác đi khá xa. Thời tôi còn con nít, tôi còn chứng kiến những câu hò câu hát bâng quơ trên đồng lúa, hoặc chuyên chở trên những chiếc ghe, chiếc xuồng trôi suốt những giòng sông, kinh, rạch, hoặc những câu hò đối đáp trong những dịp kỳ yên, hội hè hoạc trên những cánh đồng, những mảnh vườn mùa gieo trồng, thu hoạch rất ấn tượng.
Nữ:
Hò hơ… sẩy chân em té xuống bùn,
Cái dây lưng em đứt hỏi anh hun chỗ nào?
Mèn ơi. Một cái câu hỏi như trời giáng. Đưa ra sự kiện đứt giây lưng rồi hỏi hun chỗ nào thì quả là trớ trêu.
Nam:
Hò hơ… em ơi đừng hỏi thấp cao,
Đứt hay không đứt ờ hơ… thì chỉ má đào… anh mới…ờ ớ hun.
Chà anh này có vẻ rất nghiêm túc đây. Tất nhiên cũng có anh chàng nào hơi cà khịa (hay thật thà) một chút, nhắm ai kịp bụm miệng anh ta khi anh ta thay câu thứ hai bằng một câu như thế này.
Hò hơ… em ơi đừng hỏi thấp cao,
Đứt hay không đứt ờ hơ…thì chỗ nào… anh cũng…ờ ớ hun.
Có sao đâu? Câu hỏi đã oái oăm rồi mà… Với lại, khi thương nhau thì hun hít tùm lum tà la, đâu có ai rảnh hơi mà nghĩ ngợi chỗ nào nên hun, chỗ nào không nên hun. Hơn nữa, trên thân thể người mình yêu thì chỗ nào mà không thơm. Mà đã thơm thì hun, thì hít là lẽ tự nhiên.
Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết thế, dạy tôi biết thế và tôi chẳng lý do gì mà không làm một bài thơ nhái theo ca dao. Ai cấm tôi nào? Múa gậy vườn hoang mà.

LÝ CHIM QUYÊN
     “Chim quyên ăn trái nhản lòng,
Thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi.”
     Khi  em  thoang thoảng  mồ  hôi,
Thêm mùi lá bưởi, cộng mùi hoa chanh.
     Đã  làm  cho  đắm  say  anh,
Cái hương quê ấy thị thành cũng thua.
     Ai  xui  hay  tại  lơ  ngơ ?
Choáng hơi hướm lạ giở trò tham sang.
     Không quen, nên quá ngở ngàng,
Cũng may hương cũ không sang mũi người.
     Hết hồn. Từ đó đành thôi
Để trăm năm đắm đuối mùi hương em.
Cái mùi mồ hôi là một thứ nước hoa mà tạo hóa ban cho muôn loài. Nhưng cuộc sống hiện đại, có rất nhiều người chê. Tội nghiệp, người ta chạy theo những mùi thơm giả tạo, nên dần quên những thứ mà thiên nhiên ban tặng, tất nhiên quên luôn cách sử dụng để làm cho cuộc sống luôn khỏe mạnh, thăng hoa. Họ quên mất khái niệm “vợ chồng quen hơi“. Hình như “hơi vợ chồng” thời hiện đại cứ thay đổi xoành xoạch theo các nhản hiệu nước hoa, hóa mỹ phẩm. Cho nên cái hơi vợ chồng thường xảy ra ở một nơi … trớt quớt. Con người đồ vật hóa bản thân mình. Tôi có nghe một ai đó nói với tôi về mồ hôi như thế này “Mồ hôi của người khỏe mạnh và sạch sẽ là hương thơm, của người bệnh thì tanh, của người bầy hầy thì hôi…”. Hai vế sau thì tôi đồng ý ngay, nhưng vế đầu thì… rất, rất lâu khi mà tôi đã quen hơi, tôi mới cho là đúng. Và có lẽ, nếu chẳng có cái hơi thì chắc cú là không có cái hun. Tất nhiên cái hơi ấy chắc chắc không phải do hóa mỹ phẩm. Tôi không dám cho những câu thơ vỏ vẻ của tôi như là ca dao, nhưng nếu không có ca dao thì nó chẳng có gì để mà ăn theo.
Vô hình chung ca dao trở thành một kho kinh nghiệm sống, và gần với ca dao lại có những hình thức khác gọi là cách ngôn, tục ngữ, những thứ này trở thành một cái kim chỉ nam để luôn luôn điều chỉnh cho con người được sống một cách thực nhất, hồn nhiên nhất và hữu hiệu hơn nhiều giữa những giáo điều mang tên đạo đức. Cũng phải thôi, bởi vì nó luôn luôn biến hóa và thể hiện đúng mực những vần điệu của tấm lòng của một thời đương đại. Chính những thay đổi đó, biến tấu đó làm ca dao sống và ca dao luôn luôn mới, luôn luôn thay đổi. Có một biến tấu rất thú vị. Cái khó nó  cái khôn và Cái khó nó  cái khôn. Hai câu chỉ khác nhau có một cái ngéo của chữ “b”. nhưng ý nghĩ hoàn toàn khác, từ tích cực chuyển sang tiêu cực, giống y cái móc ngoéo của quan tham với chef trong thời hiện đại. Cái khó khăn trong công việc làm cho người ló cái khôn ra. Sự khó nghèo trong cuộc sống làm cho cái khôn bị bó chặt, không thực hiện được làm cho người ta bỏ mặc, buông xuôi.
Đi vào thế giới của ca dao, tức là đi vào nỗi lòng của dân tộc. Ở đó là hiền hoà, là lạc quan trong cuộc sống.
Nữ
- Chim mõ kiếng đậu trên miếng cỏ
Con mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo
Anh mà đối được em theo anh liền
Nam
- Con cá đối nằm trên cối đá
Chim vàng lông đậu giữa vồng lang
Anh mà đối được hỏi nàng theo không?
Đây là hai câu hò đối đáp với một câu hỏi rất khó, nêu ra những hình tượng rất thật, sử dụng một kiểu nói lái rất đặc trưng của tiếng Việt, được hát ra kèm theo một điều kiện rất… ngon cơm. Và câu hát trả lời cũng không kém thông minh, báo trước một cuộc tình duyên cũng rất… ngon lành. Ấy thế mà cũng có những câu, mà nói theo thời thượng bây giờ là ca dao nhái. Nhưng lại để diễn đạt một sự kiện không nhái chút nào. Khi mà cô gái ra điều kiện cho một cuộc vợ chồng.
Nữ
Con chim  kiếng nằm trên miếng cỏ
Chim vàng lông đáp xuống vồng lang
Đính hôn vui vẻ thiếp chàng
Mâm trầuhũ rượu đàng hoàng mới rước dâu
Và đuợc đáp ứng ngay tức khắc.
Nam
Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
Con cá bãi trầu lội tuốt mương cau
Song đăng phẩm vật dâng cao
Bái đườngthỉnh lộccáo chàorước dâu
Từ một câu hát đối đáp riêng tư với cái lối nói lái ngặt nghèo được biến thể thành một cuộc thách cưới với đầy đủ nghi thức, lễ vật không kém phần hoành tráng. Thậm chí còn mang theo phần khoa trương thanh thế hầu đãm bảo cho một cuộc tình chồng vợ (!?). dĩ nhiên tình yêu thì không chỉ có thế. Nó đơn giản hơn nhiều, chỉ là yêu thôi mà nhưng cách thể hiện thì rất ư… tế nhị (hay phức tạp ?)
Do vậy, không thể tìm hiểu được một cách chính xác xuất xứ cũng như nguyên bản của một câu ca dao. Nhưng có một điều chúng ta biết chắc chắn là trong quá trình cuộc sống. Ca dao phản ảnh một cách chân thực nhất về tình cảm con người, cũng như mọi sinh hoạt của đời sống.
Cụ Vương Hồng Sển có kể một câu ca dao cười ra nước mắt. Thời Pháp chiếm đóng Sài Gòn có hai vợ chồng đi bán hàng rong cho các tây đầm đi chơi khuya, trên đường về đói bụng. Nhờ cố học tiếng bồi để giao tiếp và chí thú làm ăn bất kể sớm khuya. Khi rủng rỉnh tí tiền còm, anh chồng bỏ theo cô gái khác. Hàng đêm một mình một gánh hàng rong. Vừa buồn, vừa uất ức kẻ bạc tình, chị hát mấy câu:
“ Thượng Thơ bán giấy, Thủ Ngữ treo cờ.
Bu lon, ỏm lết, bít tết, xạc xây ờ
(Buillon, omelette, beef-staek, sacré)
Menu đánh dạo… ờ hớ… bây giờ mày bỏ tao… ơ”
Câu hò nửa nạc nửa mỡ ấy vừa ngộ, vừa buồn. Nó diễn tả đúng cái nghề nghiệp, thân phận và nỗi lòng của người hò làm người nghe mắc cười và… chua xót. Chua xót cho tình người, tình đời và cho cả vận nước (?). Biết đâu trong khoảng thời gian Nhâm Diên, Tích Quang, rồi sau này là Sĩ Nhiếp làm thái thú, các ông này tích cực quảng bá văn hóa Hán Nho ở Âu Lạc, khi mà dân tộc lại có một ngôn ngữ thuần Việt, thì hai câu ca dao dưới đây đã xuất hiện để diễn đạt sự bức rức, lực bực của người thời đó .
Tam hoàng, ngũ đế chi thư,
Thầy ngồi thầy để củ từ thầy ra.
Câu ca dao chế nhạo một ông thầy đồ rất “chi hồ giả dã” mà không nghiêm túc trong phong cách và...vọng ngoại nên ló củ từ. Bây giờ người ta sính tiếng Anh, chúng ta cũng nghe được những câu nửa Việt nửa Ăng Lê. Tôi nhớ ra là những năm đầu thập niên 70, tôi có nghe một câu thế này:
Diu ơi. May hớt rốc cành
Diu gô về Mỹ bỏ mình à long
(You ơi. My heart broken,
You go về Mỹ bỏ mình alone.)
Một lời than não nuột của một cô me Mỹ cũng bằng một ngôn ngữ pha chè rất ấn tượng mà buồn nát ruột. Chắc chắn tác giả những câu ca dao pha chè này không phải là người làm thơ. Nhưng gán ghép hai loại ngôn ngữ thành những câu có vần có điệu diễn tả chính xác tâm trạng và suy nghĩ của mình đến thế ấy thì một nhà thơ có nghề chắc cũng phải lắc đầu… khen hay.
Nó vẫn tồn tại, dù rằng chỉ tồn tại để cười chơi. Nhưng nó phản ảnh rất sinh động cuộc sống tình cảm của một lớp người làm ta vừa xốn mắt vừa ngậm ngùi thông cảm. Bởi vì dù sao đi nữa trong tấm lòng họ cũng có một vần điệu nào đó. Mà không có làm sao được. Nhịp đập của trái tim vẫn còn khi nhanh khi chậm kia mà. Xin phép mấy ông bác sĩ chuyên khoa tim mạch hé.
Khi viết tới cụm từ “lắc đầu… khen hay.” Tôi lại nhớ hai câu:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp, lắc đầu khen ngon.
Hai câu này tôi thường được nghe như thế. Về mặt ngôn ngữ thì quả nhiên hơi ngược ngạo, nhưng diễn tả như thế là hoàn toàn hợp lý. Các nhà ngôn ngữ học đã từng công nhận cách sử dụng sự phủ định để xác nhận một sự thật không thể chối cãi là gì? Chắc không ít người đã từng nghe từng hát bài hát “Con Gái” của Ngọc Lễ mà. Nhưng tôi bị phản đối và thỉnh thoảng vẫn nghe và vẫn thấy người ta viết
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp,gật đầu khen ngon.

Và thể điệu, thể điệu cũng biến hóa ra cho phù hợp với nội dung. Câu chữ của ca dao ngắn dài tùy ý để có thể ngâm, hò, vè, hát, nói dậm, hò đối đáp, hát huê tình… Từ đó, ca dao sản sinh ra những thứ mà người đời nay gọi là văn hóa dân gian, nó trở thành nền tảng cho những thể cách thơ và âm nhạc. Nhưng có điều rất đặc biệt, những câu ca dao theo thể lục bát lại chiếm đa số. Tại sao lại thế? Đây là một vấn đề mà tôi nghĩ các nhà ngôn ngữ, âm ngữ học cần phải nghiên cứu đây. Nhưng theo cái ý mọn của tôi thì thế này; Gần hơn tám mươi phần trăm dân số của đất nước đều sống ở đồng bằng với những giòng sông mênh mông, một hệ thống kinh rạch, mương đào chằng chịt. Sự khoáng đạt của hình thể địa lý, những giòng chảy mượt mà của giòng sông, con kênh nơi cư trú đã làm nên tính cách con người, dù cho những bước chân lang thang vì cuộc sống đưa họ đến núi non khô cằn sỏi đá với những giòng suối con con hay ghền thác ầm ào thì họ vẫn mang theo và cất giữ những nhịp điệu lượn lờ của giòng sông trong trái tim mình. Tính cách và tâm hồn như hòa theo theo cái khoáng đạt của trời đất mênh mông, của sông nước êm đềm đã tạo nên một ngôn ngữ có tới sáu thanh và giọng nói phải mang một cái âm điệu thì thầm đầy tính dàn trải, nhưng luôn hòa quyện cùng nhau tạo nên sự biến hóa một cách nhẹ nhàng, nhưng chặt chẽ của vần chân và vần lưng, tạo nên một sự liền mạch, gắn bó vào nhau rồi sau này khi biến thành thơ viết, lục bát và song thất lục bát tuôn chảy không hạn kỳ. Lục bát trôi dài suốt theo những giòng sông, song thất lục bát lan tỏa suốt theo trời đất mênh mông… Có phải chăng vì thế mà chúng ta có những truyện thơ rất nổi tiếng mà đỉnh cao là Kiều, là Cung Oán ngâm khúc, là Chinh Phụ Ngâm… Những thể khác cũng được ca dao biến đổi như thế.
Vè Uống Rượu
Uống một ly nhâm nhi tình bạn,
Uống hai ly giải hạn cơn sầu
Uống ba ly mũi chảy đầy râu
Uống bốn ly ngồi đâu nói đó
Uống năm ly cho chó ăn chè
Uống sáu ly ai nói nấy nghe
Uống bảy ly làm xe lội nước
Uống tám ly chân bước, chân quỳ
Uống chín ly còn  mà kể
Uống mười ly khiên để xuống xuồng
Ngoại trừ lục bát và song thất lục bát. Rất hiếm thấy một nhà thơ nào sử dụng vần như thế trong các thể thơ khác. Cũng có thể nói như thế này, vần là điều kiện ắt có và đủ để làm thành thơ và cũng chính vần đã làm nên thể điệu. Tôi không biết thi ca thế giới có loại ngôn ngữ nào sử dụng vần lưng trong thơ của mình hay không? Nhưng thơ Tàu, thơ Tây mà tôi từng đọc thì không thấy. Chắc có lẽ vì kém hiểu biết mà thường hay ồn ào ((một thứ ít thấy của người làm thơ) về cái vần lưng tuyệt cú mèo của thơ nước mình.
Và câu chữ cũng thế, không bó buộc theo bất cứ một quy luật nào, nhưng lại theo một quy luật gần như bất biến là âm điệu nằm trong câu chữ phải được sắp xếp sao cho gây cho người nghe những ấn tượng mạnh mẽ mà vẫn êm đềm.
- Thú vị tình thâm
Lấy phải con vợ đái dầm, thú vị tình khai
- Nhớ ai cơm chẳng buồn nhai
Chống đủa thở dài hết chín lần xơi
Tôi xin bát nữa là mươì
Đối phúc cùng trời có sống được chăng?
***
- Vốn khi xưa anh ở trên trời
Đứt dây rớt xuồng làm người trần gian
Vốn khi khi xưa anh thiệt thợ hàn
Anh hàn nồi bảy nồi ba
Bắt cô mười tám đem ra anh cũng hàn
Cô này to lỗ tốn than
Đồng đâu mà đổ cho dàn cái lỗ ni
Hết đồng anh lại pha chì
Mười ngày chín tháng cô  mình thọ thai
Đẻ ra thằng bé con trai
Lớn lên giống bố đụng ai nó cũng hàn.
Với một sức sáng tạo phong phú như thế. Ca dao đã tạo nên một nền tảng cho những nhà thơ tha hồ mà lựa chọn cho mình một thể điệu yêu thích. Còn việc có hay bằng hay hay hơn ca dao hay không thì… hên xui.
Tất nhiên sự tồn tại của những câu ca dao và cả thơ nữa, bao giờ cũng chờ một yếu tố quan trọng là sự gạn lọc của thời gian. Ca dao xuất phát từ lòng người và sản sinh ra trong quá trình cuộc sống và là nền tảng cho các hình thái văn hóa dân gian, là mẹ đẻ của Thơ và góp một phần rất lớn vào âm nhạc. Với tính chất ấy giòng sông thơ chảy suốt những triệu triệu giòng đời.
Trong suốt quá trình giành lấy nền tự chủ, rồi xây dựng, củng cố và mở rộng giang sơn, tư tưởng tự do ấy đã làm cho tư tưởng Hán Nho buộc phải vặn mình lột xác để hòa nhập, chứ không thể đứng trên hay đứng ngoài giòng chảy của tư tưởng Âu Lạc mà đỉnh điểm là chuyến hành phương Nam với hơn hai trăm năm cuốc cày đi mở đất. Cuộc hành trình ấy đâu chỉ có khai hoang lập ấp, mở nước an dân. Hầu hết các chúa Nguyễn và quan lại Đàng Trong đều mang theo cái văn chương bác học của Đông Đô để đi vào miền đất mới. Nguyễn Ư Dĩ, Trần Đức Hòa, Đào Duy Từ, Võ Phi Thừa, Nguyễn Cư Trinh… Đặc biệt là hoàng thân Tôn Thất Dục đã tạo ra cây đàn bầu, và nhờ đó những làn điệu dân ca trở nên phát triển hơn, mượt mà hơn, nếu như những câu ca dao xứ Bắc đã biến thành Cò lả, Quan Họ, ca trù, chèo… tiếp tục trở thành Nam Bình, Nam Ai, các điệu lý, tuồng. Rồi sau… sau nữa ở miền đất mới Nam Kỳ nảy sinh một hình thức rất đặc sắc là các bài bản cải lương và truyện thơ Nôm đã làm thành một loại hình diễn đạt thơ độc đáo. Nói thơ. Tất cả đều xuất phát từ hát thơ, ru thơ mà ca dao là mẹ đẻ. Nếu như quốc mẫu của dân tộc Việt là bà Âu Cơ thì quốc mẫu của văn hóa Việt là Ca Dao.
Ca dao phát triển nhanh hơn, nhiều hơn, phản ảnh một cách sinh động những tâm tình của những người đi dựng nước và mở nước. Những thứ ấy khởi đi từ Đông Sơn Thanh Hóa vươn ra núi Tản sông Hồng lớn dần lên... dần lên rồi lan tỏa dọc theo dãy Trường Sơn, rồi cất cánh tung bay trong bầu trời khoáng đạt của đồng bằng sông Cửu Long.
Ca dao đã làm giàu ngôn ngữ vẫn trùm phủ một non sông hơn bốn ngàn năm. Biết đâu chừng những giòng cổ tự trên những phiến đá ở hang Pá Màng, xã Liệt Tè, Thuận Châu, Sơn La lại là những câu ca dao. Rất có thể như thế. Nếu như đó là chữ Việt cổ.

a3: Ca dao ở mỗi miền
Những câu ca mang theo hơi thở, nỗi lòng của con người hòa nhập vào cái khôn cùng của tạo vật. Từ xứ Bắc mượt mà, duyên dáng, đáo để… Và có một chút gì đó sang trọng.
- Ai làm cái nón quai thao,
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.
- Hởi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu mấy vội anh ơi,
Việc quan đã có chị tôi ở nhà…
- Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
- Ru con con ngủ cho lành
Mẹ đi gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
- Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa
Thon thon hai mái chèo hoa
Lượn đi lượn lại như là bướm gieo
… … …
            Và cũng mang theo một triết lý nào đó:
Thằng Bờm
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi. Bờm cười.
            Tôi vướng víu rất nhiều về cụm từ “Phú ông xin đổi…“. Một thái độ lịch sự bất thường của anh nhà giàu khi đưa ra những cái giá không tưởng để “xin đổi” cái quạt mo. Ông ta thật sự là con người lịch thiệp ư? Ông ta muốn giúp cho thằng Bờm ngây ngô thoát nghèo ư? Ông ta vung tiền qua cửa nhằm chứng tỏ sự giàu sang ư?... Dù đặt ra hàng ngàn câu hỏi cũng không thể giải đáp được cái thái độ thật sự của ông nhà giàu. Bởi vì, ông ta không hiểu cái giá trị thật sự của cây quạt mo. Và có lẽ tôi cũng không thể nào lượng định được giá trị thật của nó. Nó vô giá, từ vô giá này ai muốn hiểu sao thì tùy. Nhưng cái cười khì của Bờm khi đổi được cây quạt để đổi lấy nâm xôi, thì… chịu. Vừa thật tiễn vừa thật giá và thật lòng. Và cũng có thể là cái cười khinh khỉnh của một người cao đạo.
Và tính cách của ca dao xứ Bắc thì đành mượn hai câu thơ, cũng đã trở thành ca dao, của Nguyễn Công Trứ để đánh giá vậy “Không thơm như thể hoa nhài. Không thanh lịch cũng là người Tràng An”

Vào… Miền Trung nắng lửa mưa dầu, ầm ào giông bão,  trúc trắc đá sỏi trên đường làng quê:
- Anh đến cùng hoa thì hoa đã nở
Anh đến cùng đò thì đò đã chở qua sông
Anh đến cùng em thì em đã lấy chồng
Em yêu anh như rựa đọ, có mặn nồng chi mô
- Ngó em không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
- Em thương anh hái dâu quên giỏ,
Cắt cỏ quên liềm,
Xuống sông gánh nước hũ chìm, gióng trôi.
Cầu mô cao bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con
Ví dầu nước chảy đá mòn
Xa nhau nghìn dặm lòng còn nhớ thương.
- Anh nói với em
Như rựa chém xuống đá
Như rạ cắt xuống đất
Như mật rót vào tai...
Bây chừ anh đã nghe ai
Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ni?
 … … …
Có một chút gì đó vướng víu trong âm điệu để thể hiện một tấm lòng giữa người với người trong những khó khăn; giữa người với đất, dù là đất khô cằn; giữa người và trời, dù là trời đầy giông bão; giữa người và thiên nhiên, dù thiên nhiên khắc nghiệt. Vì vậy, ca dao miền Trung mang một âm hưởng nghèn nghẹn nhưng chất trữ tình cũng vì thế mà đậm hơn. Và ở trong “ Cái khó nó lại ló cái… tình “
Và… đến Nam Bộ mênh mông mây trắng, bạt ngàn lúa xanh. Man mác, hào phóng và nghịch ngợm, táo tợn, đầy tính bất ngờ. Nhưng sự chân chất, hào sảng được đẩy lên rất cao để vẽ nên tấm bản đồ còn mới nguyên mùi mồ hôi, nước mắt và nụ cười.
- Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
- Phải chi cắt ruột đừng đau
Chiều nay tui cắt ruột, tui trao anh đem dìa
- Anh dìa, em nắm vạt áo em la làng
Bỏ chữ thương, chữ nhớ lại giữa đàng cho em.
- Ghe ai mũi đỏ xanh lườn,
Phải ghe Gia Định xuống vườn kiếm em.
- Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa
- Canh chua điên điển cá linh
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon.
- Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi
Mồ côi buồn lắm ai ơi
Chén cơn bát nước ngùi ngùi lòng con.

Ngoài ra ca dao cũng mang đầy tính “dư địa chí” như vừa để giới thiệu, ca ngợi và khẳng định quê hương mình, đất nước mình:
- Mình về đường ấy thì xa
Để anh bắc cầu sông Cái về qua Ninh Bình
Đất Ninh Bình có chùa Non Nước
Núi Phí Diên, Hồ Hạc vây quanh
Em về em chớ quên anh
- Anh đi anh nhớ non Côi
Nhớ giòng sông Vị, nhớ người tình chung
Quản bao non nước ngại ngùng
Lấy ai san sẻ gánh gồng đường xa
- Ai qua núi Tản sông Đà
Ghé qua Tu Vũ mặn mà tình thương
-Thứ nhứt thì bầu Chi Lăng
Thứ nhì trái khế Đồng Đăng, Kỳ Lừa
... ...
- Bồng em mà bỏ vô nôi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An
- Học trò xứ Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành
- Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Đợi đây về với một đoàn cho vui
- Đò từ Đông Ba, đò qua đập đá
Đò từ Vĩ Dạ thẳng ngả Ba Sình
Lờ mờ bóng ngã trăng chênh
Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non
- Tiếng đồn con gái Phú Yên
Con trai Bình Định đi cưới một thiên cá mòi
- Đi bộ thì khiếp Hải Vân
Đi thuyền thì khiếp sóng thần hang Dơi
Yêu nhau cho thịt cho xôi
Ghét nhau đưa đến Kim Bôi, Hạ Bì
- Chiều chiều trên bến Vân Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
....
- Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng Xà No.
Có thương em, anh cho một chiếc đò.
Để em lên xuống thăm dò ý anh.
- Ăn bưởi thì hãy đến đây
Đến mùa bưởi chín vàng cây trĩu cành
Ngọt hơn quýt mật cam sành
Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn
- Bến Tre giàu mía Mỏ Cày
Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn
Bến Tre biển cá, sông tôm
Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng
- Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
- Xứ Cần Thơ nam thanh nữ tú
Xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu
-Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm
-Muốn ăn điên điển mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
- Ba phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
- Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
Anh thương em chẳng ngại xa gần
Quýt hồng vài chục, đôi cân trà tàu
- Bước lên ngọn núi Tô Châu
Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm
Anh từ Rạch Giá lên thăm
Sợ trâm em rớt gánh dùm cho em
...
Hình thành từ xứ Bắc, cuộc hành trình suốt giòng lịch sử đến đồng bằng Nam Hà, bắt đầu từ cuộc Nam chinh của vua Lý Thánh Tôn. Ca dao từng bước trở nên khoáng đạt, tinh nghịch hơn và phong phú hơn. Trong quá trình hình thành, ca dao từ ngâm chuyển sang hò, hát, ru… những loại hình bắt nguồn từ ca dao ấy mang đầy tình địa phương hoặc nghề nghiệp; hò Huế, hò sông Mã, hò trạo, hò giả gạo, hò xay lúa, hò cấy, hò gặt lúa, hát huê tình, hát dưng bông, hát quan họ, hát cò lả, hát xẩm, chầu văn, ngâm sa mạc… hò Đồng Tháp, hò Bạc Liêu… và nói thơ. Nghĩa là trong quá trình sinh hoạt, lao động. Ca dao hình thành và biến thể theo yêu cầu tình cảm của con người, của cộng đồng. Và ca dao là thơ và cũng có nghĩa là nhạc.
Ca dao thể hiện hết mọi khía cạnh của đời sống, nói lên cảm nghĩ của mình, của mọi cảnh đời và cả những cái nhìn về thiên nhiên, cũng không thiếu những phê phán những hành vi thiếu đứng đắn. Cuối cùng tất cả đều hòa quyện lại và trở thành một di sản chung của dân tộc. Tất cả được diễn đạt bằng một cái nhìn lạc quan dù đang đứng trước những khó khăn.
Sẽ tìm thấy trong ca dao những tình huống rất thực, thực đến trần trụi nhưng không hề tục tĩu. Nhưng cần phải có một sự nhận xét kỷ và đúng, kẻo thôi lại hiểu đó là nôm na, là mách qué. Tất nhiên, trong cuộc sống đã từng xuất hiện những loại như thế nhưng thời gian không cho nó tồn tại. Những câu ca dao được dẫn ra dưới đây hầu hết là loại đó. Nhưng trong cái kho tàng vô giá này vừa ẩn chứa, vừa phơi bày những giá trị đạo đức thật nhất và cần thiết nhất cho cuộc sống.
- Thứ nhất là đỗ thủ khoa
Thứ hai vợ đẹp, thứ ba ỉa đồng.
Câu này sẽ rất dễ làm cho các nhà bảo vệ môi trường nhăn mặt. Nhưng quy luật của tạo hóa được những người am hiểu cuộc sống muôn loài đã nói một câu mà những con người hiện đại cần suy nghĩ ”trời đất có tình”. Người ỉa đồng chưa bao giờ nghĩ đó là mất vệ sinh, là ô nhiểm môi trường, không phải họ thiếu ý thức, mà đó chính là sống theo quy luật của tạo vật, chẳng nhẽ đi xây toilet cho thú rừng, chúng cứ thải tàn lang ra đấy mà môi trường có ô nhiễm chi đâu?... Người hiện đại làm ô nhiểm môi trường nhiều quá nên mới có khái niệm này thôi. Cái thải ra, cái không cần của loài này lại là điều kiện sống, thậm chí là nguồn sống cho loài kia. Động vật hít vào đế hấp thụ oxy, thở ra thải vào không khi khí carbonic; thực vật hấp thụ carbonic trả lai oxy, có gì là dơ là sạch đâu. Nhận vào là cảm thụ, trả lại là hiến dâng. Đất và nước có nhiệm vụ chuyển hóa và cân bằng. Và cả muôn loài cũng thế. Cuộc sống hiện đại thì lại khác. Tất nhiên, trong một thành phố người đông hơn kiến mà cứ làm trò ỉa đồng, đái đường thì quả là quái gỡ. Cuộc sống hiện đại hiểu được một phần quy luật đó, nhưng tiếc thay, vì hiểu cạn xợt, nên làm sạch và giữ gìn được có chút xíu, mà làm dơ và hủy hoại thì một đống tầy huầy. Mà sự hủy hoại lại lớn hơn nên phải phát lên lời kêu gọi giữ gìn. Sẵn đây tôi xin chân thành cám ơn nhà nghiên cứu Phan Ngọc về những giòng ông đã viết:“… Để thưởng thức thơ cổ cho thú, ta cần nhớ điểm sau đây: Tâm hồn của chúng ta thay đổi quá nhiều. Hiện nay chúng ta sống trong thế giới do ta tạo ra và do những quy luật tự nhiên mà ta nắm bắt một phần tạo nên. Thói quen ấy càng tăng lên với nền văn minh tiêu thụ đã cắt đứt mối quan hệ của ta với vũ trụ. Ta nhìn thế giới với con mắt của tên ăn cướp, cho nên không thể nào có lại được cái cảm quan rằng mình thống nhất với vũ trụ. Thằng ăn cướp ấy xem núi sông, cây cỏ như những đồ dùng và con người được hắn nhìn ở khía cạnh một đối tượng để rút một công dụng gì đấy… Không chỉ cái nhìn ngây thơ vào thế giới thần linh mất đi, mà cả cái nhìn ngây thơ vào thế giới bên ngoài cũng mất nốt. Quan hệ bạn bè bị thu hẹp vào quan hệ công việc. Quan hệ thầy trò cũng thế, quan hệ vua tôi chuyển thành quan hệ phân công. Rồi quan hệ nam nữ có nguy cơ chuyển thành quan hệ tính giao. Luật pháp là những đồ vật do ta chế tạo ra đang thay thế mọi quan hệ xã hội, dù đó là quan hệ gia đình. Cái khâu cuối cùng tưởng chừng vĩnh viễn là quan hệ mẹ con đang mất với lối đẻ con trong môi trường nhân tạo. Ta đang cố đồ vật hóa thế giới thì thế giới đồ vật trả thù: Ta Biến Thành Đồ Vật…( NV viết hoa) ” (Đỗ Phủ, Nhà Thơ Thánh. Trang 355)
Đấy người ta đang nhìn về và cư xử với vạn vật như thế, thì đâu phải chỉ là ô nhiễm môi trường sống mà còn ô nhiễm cả tâm hồn. Thế nên cái việc ỉa đồng, đái đường đâu có là gì so với những đống rác khổng lồ thời hiện đại. Người ta xả rác trên mặt đất, sông suối biển hồ, trên trời và cả trong tâm hồn mình. Mà xót thay, khi sản xuất, tiêu dùng và đi đến sùng thượng hàng hóa một cách vô tội vạ, gần như đồng nghĩa với hủy hoại chính mình, thì con người lại có quan niệm là làm thế cho sạch, cho sướng con người. Đạo Bụt không có khái niệm dơ sạch ”Thị chư pháp không tướng bất sinh, bất diệt; bất cấu, bất tịnh; bất tăng, bất giảm. (Bát nhã tâm kinh). Khái niệm, trong đó có khái niệm dơ sạch, là của con người. Thiên nhiên không có khái niệm gì cả. Và chính vì có một khái niệm phân biệt ấy con người đã hủy hoại thiên nhiên, hủy hoại tâm hồn và hủy hoại... thơ.
 Đâu có nhà sản xuất nào đưa ra một quy trình thu hồi lại những bao bì và những sản phẩm quá hạn sử dụng đâu. Nếu có thì chỉ có một loại duy nhất là bia. Người thu hồi lại chai, nhưng lon thì tha hồ cho người tiêu dùng muốn làm chi đó thì tùy. Nhưng khi người ta nốc bia đến tràn họng, rồi ói mửa tùm lum ta la thì cứ vô tư.  Con người tìm mọi cách để cho công việc bớt đi nặng nhọc và khoái chí nhưng không vì thế mà con người nhàn hạ hơn mà chỉ làm cho hối hả hơn. Bởi thế cho nên… hổng biết nói sao đây ta. Mệt thiệt đó chớ. Và vì mệt nên ca dao biến mất còn thơ nhạc thì vô hồn.
Gần một ngàn trang sách viết về Đỗ Phủ. Tôi không thể nào đọc và hiểu nổi trong nhiều năm, nếu như không có lời hướng dẫn trên. Tất nhiên không có một lời nào hướng dẫn cho tôi về cách đọc, hiểu và cảm thụ một câu ca dao. Nhưng đoạn văn ấy thì có một giá trị còn hơn thế nữa. Ông Phan Ngọc đã sống, đã nhìn và đã chiêm nghiệm suốt cả một đời chỉ để tìm ra một cách sống cho chính bản thân ông và cho… tôi.
Ôi. Đọc thơ có dính dáng gì đến môi trường đâu ta?
- Trèo lên cây khế giữa ngày
Váy thì tụt mất lưỡi cày thò ra
Lưỡi cày ba góc chẻ ba
Muốn đem đòn gánh mà va lưỡi cày
- Sáng trăng suông em nghĩ tối trời
Em ngồi em để cái sự đời em ra
Sự đời như cái lá đa
Đen như mõm chó chém cha cái sự đời
Những cái hớ hênh này thì cũng thường thôi. Cái mất lịch sự không phải nằm ở chỗ hớ hênh mà nằm ở nơi người nhận ra điều đó và lợi dụng nó mà không hiểu gì về những lý do đích thực. Cái “sự đời”, “cái lá đa đen như mõm chó” ấy là cổng truyền sinh, một điều rất thiêng liêng chứ không phải là cái thô lậu của sự dục lạc.
 - Anh nay quyết chí đi tu,
Tam quy ngủ giới tu chùa Hồ Sen.
Thấy cô má phấn răng đen,
A Di Đà Phật anh quên mất chùa.
Có ai mua mõ thì mua.
Một người tu hành mà như thế, thì việc quên chùa, bán mõ tất nhiên phải xãy ra. Tu hành là việc không ai cấm, mà cũng chẳng ai ép. Việc đời cũng thế. Khi mà ép buộc người hay tự ép buộc mình thì cái hậu quả bao giờ cũng tréo ngoe. Ca dao phản ảnh một cách sinh động những cái tréo ngoe ấy.
- Mấy cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.
Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu.
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.
Cái cô yếm thắm này chắc là tội lỗi đầy người? Hết chuyện rồi, mang cái yếm thắm của mình làm bùa dụ dỗ ông sư (?). Nhưng suy cho cùng, yêu chớ có ghét đâu mà có tội. Cô yếm thắm yêu ông sư. Nhưng ông sư mà lâm vào cái hoàn cảnh  như thế là tại ông sư… khó dứt được lòng trần. Họ có tội không? Xin thưa là không. Cái có tội chính là cái lề thói mang tính áp đặt. Tôi bổng nhớ lại bài thơ mà tôi làm hồi lúc đi tu trốn quân dịch. Chẳng ai bỏ bùa tôi. Mà tại vì…
ăn một hạt cơm chay,
anh nhớ em…
…thêm một chút
tụng một thời kinh,
anh tụng một thời tình
những buổi chiều,
bên hàng dâm bụt xanh.
anh đứng chờ em qua cổng.
cơn gió chiều bay lồng lộng.
anh chờ em.
đến bạc áo nâu sồng
Tôi không tự bao che cho mình hay là bênh vực cho ông sư bị bệnh tương tư. Nhưng tôi làm cái việc oái oăm trên chẳng qua là cuộc sống đẩy tôi vào chỗ tréo ngoe. Nhưng chẳng sao, tôi tu trốn quân dịch mà. Ai kêu em đẹp làm chi? Với lại tôi chỉ chờ em và ngắm em chớ có làm gì đâu. Đừng giận anh em nhé!
Từ đó, có thể nhận ra sự tự do có một giá trị cao quý đến độ nào cho cuộc sống, tất nhiên phải hiểu tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Ta có quyền múa gậy vườn hoang, nhưng không thể có khái niệm”tự do phạm tội”. Không thể múa gậy giữa chợ vừa đụng tùm lum tà la vừa xốn mắt người, không thể múa gậy vườn có chủ làm tổn hại cây trái của người ta. Bởi vì khi làm một điều gì đó trái với nhưng định chế của thiên nhiên là đã mất tự do rồi. Nhưng tự do yêu đương mà bảo là không được thì hơi quái. Tôi yêu em. Có quyền. Em từ chối tôi. Có quyền. Em yêu ông sư, ông linh mục, em có quyền. Ông sư hay ông linh mục đáp lại hay chối từ, có quyền. Bùi Giáng đã khẳng định bao nhiêu lần cái “có quyền” ấy
Đấy là tự do của ca dao. Còn những nhà thơ thì liệu có dám làm một bài thơ như thế không? Tất nhiên, không ai cấm, tôi chỉ viết thơ tình thôi mà.

-Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười chúm chím thưa anh giận gì
Thôi mà anh giận em chi
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho.
Một bà vợ hết ý. Nhưng chẳng biết ông chồng có cưới vợ bé không ta? Nếu như anh ta làm thiệt thì quả là anh ta… khùng. Anh ta mất tiêu cái tự do rồi.
- Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ba muơi tết có thịt treo trong nhà
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông
Số cô có vợ có chồng
Có  con đầu lòng không gái thì trai
Cái số của cô này hay thật đấy chả bù cái số của ông thầy bói lại là cái số ruồi bu. Cái số đi “nói dóc ăn tiền”. Trong khi ca dao toàn là “nói dóc nghe chơi” để mà êm cái lỗ tai để mà cười khà cho... khoái
-Tử vi xem số cho người
Số thầy thầy để cho ruồi nó bu.
Vậy cho nên, những thứ gọi là thuần phong mỹ tục và đạo lý hình như có một vị trí rất khiêm tốn trong ca dao. Chỉ có những tình cảm chât thật nhất được diễn đạt đúng theo vần điệu của lòng.

- Bà già tuổi tám mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ viết thư kén chồng.
Tình yêu đôi lứa là một động thái mang tính như nhiên của muôn loài. Không phân biệt bất cứ thứ gì. Cần thì tỏ lộ, tìm kiếm. Thế thôi. Bà già tám mươi tư tuổi vẫn được quyền yêu như thường, chỉ sợ là yêu không nổi, mà còn yêu nổi tức là bà ấy vẫn còn có một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một dung nhan có thể làm xao động lòng ai. Muốn được thế thì bà ấy phải có một phong cách sống rất chuẩn để có thể thách thức thời gian, để đàng hoàng ngồi viết lá thư… kén chồng. Nghĩa là lựa chọn cho phù hợp chứ không phải hơi lớn tuổi rồi đụng đâu lấy đó và tất nhiên không hề lụm cụm khi đến nơi hò hẹn. Bao nhiêu người làm được thế nhỉ? Ít xịt. Thú thật, tôi mới hơn sáu mươi thôi, muốn viết một lá thư tình cũng hơi… bị ngọng. Có rất nhiều lý do: ngón tay lóng ngóng thì làm sao có thể có một nét chữ rồng bay phụng múa như ngày xưa, đầu óc mụ mẫm lấy ra đâu những câu văn mượt mà gẫy gọn như thuở nào. Viết thư tình mà chữ như gà bới, câu cú lôm côm thì cưa ai cho đổ đây. Ôi ông già nào được bà ấy chọn mà dám chối từ mới... lạ. Tất nhiên ông già ấy cũng phải đạt ít nhất một tiêu chuẩn... Không lụm cụm.
Có chồng càng dễ chơi ngang
Đẻ ra con thiếp con chàng con ai ?
Rất dễ bị sốc khi có một bà vợ tuyên bố như thế. Nhưng coi lại xem sự đúng sai được xem xét trên cơ sở nào. Con người, đạo lý hay những định chế đầu cua tai nheo gì đó.
Nhưng trường hợp này thì bạn nghĩ sao đây:
Đang khi lửa tắt cơm sôi
Heo la con khóc chồng đòi tòm tem
Đượm than ủ chín nồi cơm
Heo no, con ngủ, tem tom thì tòm
Thôi thì chuyện tình của ai thì nấy liệu lường vậy

Nhưng dù gì thì vị trí con người vẫn là một yếu tố chủ đạo. Một quan điểm con người rất con người chính là cộng sinh và bằng lòng với sự cộng sinh ấy, nghĩa là bằng lòng với cuộc sống. Cái bằng lòng với cuộc sống, không có nghĩa là không có chí tiến thủ, mà là biết đủ thì đủ, không vọng động với những thứ phù phiếm xa hoa. Thời nào cũng thế, luôn luôn có những nhu cầu ảo. Càng tiến bộ nhiều chừng nào thì những nhu cầu ảo đó tăng lên và vây chặt lấy chúng ta. Cuộc sống tự tại bị triệt hạ. Và con người mệt bở hơi tai, quên ăn, quên ngủ, quên yêu, quên ỉa vì những điều bá láp. Ca dao đã ghi lại cho chúng ta một lối sống rất đáng yêu.
- Nhà ta giàu sang
Có ngô làm vàng
Có bắp làm bạc
Có một đàn hạc
Là ổ gà ri
Nhà chạm long ly
Nứa che xanh đỏ
Lọng che ta có
Là cả vòm trời
Sướng nhất trên đời
Là anh cày cuốc.
Có một tài sản “ghồ ghề“ như thế thì sướng là quá phải rồi. Có một thời con người thoải mái với nó, nhưng hôm nay lại không phải là chuyện dễ dàng gì? Có ai đó cười khì và bảo tôi… khùng.
Không thể nào đưa ra hết những câu ca dao tiêu biểu cho mỗi khía cạnh của đời sống. Mà lại là một đời sống xuyên suốt mấy ngàn năm. Tất cả mọi tình cảm, tâm tư, mọi sinh hoạt… và vô vàn thứ nữa được ca dao chuyển tải từ thế hệ này đến thế hệ khác. Và cũng chính ca dao lại đã thai nghén bao đời rồi trở dạ sinh thơ và cũng là nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao nhiêu loại hình văn học khác. Vua Lê Thái Tổ đã chẳng từng lấy cảm hứng từ hai câu ca dao “Đường lên Mường Lễ bao xa, trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh “ để làm thơ đó sao?
Khi khu hiểm lộ bất từ nan
Lão ngã do tồn thiết thạch can
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ
Tráng tâm di tận vạn trùng san
Biên thùy hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an
Hư đạo nguy than tam bách khúc
Như kim chỉ tác thuận lưu khan
Gập ghềnh đường hiểm chẳng e xa
Dạ sắt khăng khăng mãi đến già
Lẽ phải quét quang mây phủ tối
Lòng son san phẳng núi bao la
Biên cương cần tính mưu phòng thủ
Xã tắc sao cho vững thái hòa
Ghềnh thác ba trăm lời cổ ngữ
Từ nay xem chẳng nổi phong ba
                             4.1429
   ( Lê Quý Đôn.  Kiến Văn Tiểu Lục)
Đây là một cảm hứng từ ca dao xưa nhất mà chúng ta được biết, và được ghi lại bằng sách vở hẵn hoi. Nhưng ca dao là nguồn cảm hứng cho thơ thì chắc chắn là xuất hiện từ lâu lắm. Còn hiện nay thì dù ca dao không còn phổ biến như xưa, nhưng đã thẩm thấu và hòa vào biết bao nhiêu loại hình văn học nghệ thuật khác. Và tất nhiên vẫn còn thấm đẫm trong tâm hồn người

Nếu ngồi mà kể ra cho hết thì chẳng biết đến bao giờ. Nhưng cái cơ bản nhất thì luôn luôn chiếm đa số là Tình Yêu. Tình yêu trong ca dao không giới hạn trong phạm vi giới tính mà là một thứ tình yêu khoáng đạt hơn, rộng khắp hơn, mới có thể yêu được cái gì đáng yêu và yêu cả những thứ lôm côm, cà khịa bằng những cái cười phê phán nhẹ nhàng, những loại ngôn ngữ oái oăm nhất cũng được vận dụng một cách tài tình nhằm một mục đích tối thượng. Thổ lộ can tràng, nghĩa là thổ lộ một tình yêu. Đừng đòi hỏi ở ca dao một thiên anh hùng ca. Sự thẩm thấu và giao thoa của các nền văn hóa luôn luôn đi trên và đi ngoài những hình thái chính trị, dù rằng có đôi khi vì một mục đích nào đó, người ta vận dụng để đạt một yêu cầu, nhưng tính chất “mì ăn liền” ấy không phải là văn hóa. Bởi thế, ca dao không khi nào diễn đạt các hình thức chiến tranh hay thể hiện một quan điểm chính trị nào đó. Ở đâu thì không biết. Nhưng ở Việt Nam thì không. Đánh giặc, chống ngoại xâm thì không ai bằng. Nhưng khái niệm anh hùng trong chiến tranh thì lại không tồn tại trong ca dao. Và trong ca dao không có khái niệm tuyên truyền. Có một thời người ta cũng thường hay “sáng tác” ca dao để sử dụng vào mục đích này. Ý tưởng này thì hay đấy, nhưng không hiệu quả và những câu “ca dao” được sáng tác ấy… chết ngắc.
Có một vài câu ca dao được sáng tác vào thời còn đóng cửa, nhằm mục đích vận động dân làm thủy lợi mà tôi còn nhớ và hôm nay đọc lại nghe hơi… nhột nhột:
Ấm no không đợi trời cho,
Người làm ra nước sức to hơn trời (!?)
Nhưng sau đó thầy coi bộ không đủ đô nên…
Thằng trời đứng lại một bên,
Để ông thủy lợi đứng trên thằng trời.
Nó còn tệ hơn những câu ca dao nửa nạc, nửa mỡ. Và bây giờ thì không còn ai nhớ nữa.
Lại càng không thể tìm thấy một câu ca dao nào mang nội dung bôi bác, chửi rủa, vu khống. Nó đã từng xuất hiện đấy, nhưng từ tai này chui qua tai rồi... không đọng lại chút nào
Ngoài ra, cũng phải kể đến những trường hợp nối thêm ca dao có ý đồ. Thí dụ:
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi
Đến đó thì hết. Nhưng người ta lại thêm.
Muốn đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời.
Làm cho câu ca dao mang đầy tính “lên gân”, mà thuộc tính này thì ca dao rất kỵ. Ca dao có thể cường điệu, thậm chí nói dóc nghe chơi, nhưng không thể lên gân. Ngoài ra khi suy nghĩ kỹ sẽ tìm thấy cái khập khiểng về không gian, thời gian khi ghép bốn câu ấy lại với nhau. Khái niệm trường học, trường đời có một khoảng cách thời gian rất xa với hình tượng cầu tre lắt lẻo.
Câu ca dao dưới đây thì lại quái hơn khi bị biên tập lại.
Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi
Mẹ già như chuối chín cây, thì mẹ già lắm rồi, như vậy thì con cũng không còn trẻ nữa. Mẹ mất, con mồ côi là lẽ đương nhiên. Mẹ mất thì buồn bã nhớ thương, hối hận ăn năn vì mình không nghe lời mẹ dạy khi còn trẻ, chăm sóc không chu đáo khi tuổi già thì quá phải rồi. Cảm giác đó gói gọn trong hai chữ mồ côi là đủ. Vậy mà…
Mồ côi khổ lắm ai ơi
Đồng tiền bát gạo con thời làm sao
Hay
Chén cơm manh áo biết nhờ cậy ai
Đúng là con trời… Thực ra người biên tập lại muốn kể công lao của mẹ, nhưng biên tập như thế thì quả là… non tay, vô tình làm cho ca dao trở nên khập khiểng. Con tới từng tuổi ấy mà còn phụ thuộc vào chén cơm manh áo của mẹ thì đúng là con... nghiện hay chí ít cũng là con bị sốt bại liệt. Thực ra là câu chót tôi được biết nó như thế này “ Chén cơm bát nước ngùi ngùi lòng con
Đồng ý là ca dao cũng do ai đó sáng tác rồi truyền sang người này người khác, rồi lần hồi người ta chẳng còn, mà cũng chẳng cần, biết tác giả là ai. Nên việc cải biên cho phù hợp với tình cảm đương đại là luôn luôn xảy ra. Nhưng không vì thế mà tùy tiện cách tân. Tất nhiên, không ai cấm, nhưng cuộc sống sẽ lưu giữ, truyền tải và thải loại.
Từ trong ca dao, sẽ nhận ra tính tự do tuyệt đối của nhân dân Âu Lạc trong suốt quá trình lịch sử để trở thành Việt Nam hôm nay. Văn hóa viết là con đẻ của văn hóa ca dao, nhưng văn hóa ca dao luôn luôn gìn giữ sức sống của riêng mình. Thiên nhiên và con người và muôn loài cùng hòa quyện cùng nhau trong cuộc sống chung. Những lễ hội từ ngàn xưa, xuất phát từ rất nhiều lý do; tế lễ thần linh, trúng mùa, trước một vụ mùa, sau một vụ mùa hay để tưởng nhớ một người nào đó có công lao to lớn với cuộc sống, xóm làng. Nhưng đàng sau các buổi lễ ấy là một điều kiện để hình thành những cuộc tình. Những câu ca dao hình thành từ đó làm nên tiền đề cho mọi loại hình văn hóa dân gian.
Điều tôi muốn nói hôm nay chẳng qua cũng chỉ là nói ra một chút cảm nhận của mình trong suốt quá trình đọc thơ và tập làm thơ.
Cuối cùng, nói vòng vo tam quốc cho đã đời, thì cái cốt yếu nhất làm cho ca dao xuất hiện, tồn tại và lan truyền và phát triển cho đến hôm nay chính là Lời Ru Của Mẹ. Ông anh Nguyễn Duy lo cũng phải. Nếu như lác đác đó đây xuất hiện những bà mẹ thời @ ru con bằng rock-rap hay hit-hop gì đó mà lại ru bằng DVD hay thẻ nhớ nhét vào Smatphone, Ipad, Computer. Và biết đâu, mai kia mốt nọ sẽ có một bà mẹ robot ru con. Nếu vậy thì buồn quá anh Duy há.
Chính những câu ca dao ấy, lời ru tiếng hát ấy là vần điệu của tấm lòng, vần điệu của sự sống. Trong chúng ta, ai cũng có ít nhất một lần để cho vần điệu ấy rung lên trong lòng mình, cuộc sống mình và phải trên một lần cảm thụ được những vần điệu ấy.
Và cuối cùng, tôi cảm thấy bất nhẫn làm sao khi mà các nhà sử học viết đủ thứ chuyện xảy ra trên đời. Không hiểu sao chẳng ai viết một giòng nào cho ca dao cả. Mà nếu có viết thì viết cho vui như… tôi vậy. Ngộ thiệt. Nhưng đừng ai kêu tôi viết nghe. Tôi không viết được đâu. Nhưng ăn theo thì được
Tóc Mai
    “ Tóc mai sợi ngắn, sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.”
      Thời gian trôi. Cứ âm thầm…
bào mòn thương nhớ. Tháng năm lững lờ
      Chân qua trăm nẻo xô bồ
Tóc thêm trắng trắng, lòng khô khô dần
      Mịt mù bóng dáng cố nhân
Nụ cười, ánh mắt đã không còn gì
      Lưỡi tê mùi vị chua cay
Nụ hôn ngày cũ lạc loài về đâu
      Ba mươi năm ấy chìm sâu
Cái thời lưu luyến mịt mù gió mây
      Khi không người trở về đây
Dấu thời gian đã phủ đầy người xưa
      Và gieo chi cái ngẩn ngơ
Tóc mai vài sợi như chờ. Chờ ai.
      Xin đừng xát nữa muối ơi.
Quặn lòng xưa với trắng trời gió mây.
      Ngắn dài mấy sợi tóc mai
Lấy nhau chẳng được thương hoài ngàn năm.

Ruộng Ai
    “ Ruộng ai thì nấy đấp bờ,
Chẳng duyên chồng vợ đừng chờ uổng công.”
      Nhưng sao cứ giữ trong lòng,
Đi tìm thấy bóng mà không thấy hình.
      Còn mong chi thấy được tình,
Cái duyên chẳng có, nên thành khói sương.
      Vậy mà vẫn cứ còn thương,
Thương thì thương chớ vô phương vợ chồng.

Trồng Hường
       Trồng hường bẻ lá che hường,
Gió đưa, gió đẩy cho hường tốt tươi.
       Tốt tươi hường cứ tốt tươi,
Chớ nào tươi tốt cho người trồng đâu.
       Những khi mưa nắng dãi dầu,
Nắng mưa người hứng, dãi dầu người cam.
       Hường khoe hương sắc mùa xuân,
Người trồng phô dáng phong trần chờ xuân.

Trồng Trầu
      “Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.”
      Gẫm câu đồng vợ đồng chồng,
Oái  oăm  chi  thế  một  ông  hai  bà.
      Ở  bên  này  nhớ  bên  kia,
Ở  bên  kia  lại  lo  về  bên  đây.
      Tưởng xôm tụ, hóa bầy hầy,
Há mồm  ra  chạy  bên  này, bên  kia

Gió Đưa Gió Đẩy
“Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.”
Cứ bon chen quên tuốt luốt quê mùa,
Cái dung dị ấy bây giờ hóa ngon.
Biết bao năm cứ mê mãi phố phường,
Mà quên vệt cỏ bên đường làng xưa
Quên giòng sông chuyên chở những câu hò,
Quên cô hàng xóm, quên đò sang sông.
Nhún trề chê cá chốt, cá lòng tong,
Chê canh rau ngót nát lòng riêu cua.
Quên làng quê có mưa nắng hai mùa,
Nửa đêm thức giấc hỏi bây giờ ở đâu?
Bổng thương làm sao, bổng nhớ làm sao?
Nụ cười cô hàng xóm ngọt ngào trong mơ.

Ghe Thương Hồ
“Bìm bịp kêu, nước lớn mênh mông,
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”
Gió sông mấy ngọn lạnh lùng ghê
Câu hò vang vọng, làm buồn tê sông chiều.
Nhịp nhặt khoan, đưa đẩy mái chèo,
Bến bờ nào đợi, tiếng reo nào chờ?
Cứ nổi trôi, một kiếp thương hồ.
Bến mua bán ghé. Bến chờ đợi không.
Để bóng chiều rơi xuống giòng sông.
Nghẹn câu vọng cổ cay lòng quạnh hiu.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét