Người theo dõi

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

MÚA GẬY VƯỜN HOANG - CHƯƠNG 4 -

MÚA GẬY VƯỜN HOANG  - CHƯƠNG 4 -
THƠ ĐANG Ở NƠI NÀO?

Tôi nhớ ngày mới tập tễnh viết những câu thơ đầu tiên khi học lớp đệ lục. Thầy giáo Việt văn của tôi, thầy Nguyễn văn Thành có nói với lũ học trò chúng tôi như thế này:
- Các em muốn viết văn, muốn làm thơ thì phải biết cách đọc văn, đọc thơ các bậc tiền bối. Thơ văn có giá trị ban đầu chỉ là những manh giấy gói. Các em khi đọc hãy biết cách mở nó ra để xem bên trong tác giả gói cái gì. Khi các em biết cách mở thì khi các em viết các em sẽ biết cách gói”
Những lời dạy ấy nằm trong đầu tôi hơn ba mươi năm mà không có bất cứ một nghĩ suy và một hành động cụ thể nào, dù tôi vẫn đọc thơ và vẫn tập làm thơ. Cho đến khi hiểu ra thì… may mà còn kịp. Tôi cắm đầu vào những trang sử không phải để nghiên cứu hay gì gì khác mà là để đọc thơ và tập làm thơ. Khi có một chút hiểu biết tương đối về lịch sử và đất nước mình tôi mới thấy từ trước tới giờ… tôi trớt quớt. Nhưng tôi cũng hiểu được là bên dưới những trang sử ấy, hay nói đúng hơn là nền tảng của những trang sử đầy hào hùng, thịnh vượng và suy tàn của những triều đại, chính là một tư tưởng, mà tư tưởng đó đã nuôi dưỡng dân tộc mình suốt hơn bốn ngàn năm. Tinh thần Tự Do, thứ tự do múa gậy vườn hoang. Những trang sử xưa không viết về những điều đó, những trang sử thời nay lại càng không nói đến. Nhưng thấp thoáng trong đó,  tôi đã nhận ra tinh thần ấy với những bài thơ mà tổ tiên tôi đã viết.


Và tôi cảm thấy tâm hồn thêm rộng mở, những bài thơ bổng trở nên hay, những câu thơ tôi tập tểnh làm bớt đi rất nhiều những gập ghềnh gấp khúc.
Và tôi bắt đầu đọc thơ
            BÀI THƠ CỦA KHƯƠNG CÔNG PHỤ
            Đây là bài thơ sớm nhất trong những bài thơ của một người Việt có tên tác giả, có chứng cớ sử liệu hẵn hoi mà hậu thế có được, và được viết bằng chữ Hán vào khoảng đầu thế kỷ thứ VIII

            BẠCH VÂN XUÂN HẢI
Bạch vân dung dung, giao duệ hồ xuân chi hải trung.
Phân vân tầng hán, hiệu khiết trường không.
Tế hải sâm si hạp vi minh ư nhật vực
Khinh văn lịch loạn phân quýnh hoảng ư tiên cung.
Thỉ nhi:
Càn môn tịch, dương môn tích, nãi phiếu diểu dĩ tùng long, toại khinh doanh nhi phất thạch.
Xuất cùng loan dĩ cao chử, khoá hoành hà nhi viễn giá.
Cố hải ánh vân nhi tự xuân, vân chiếu hải nhi sinh bạch.
Hoặc kiểu kiểu dĩ tích tố.
Hoặc trầm trầm dĩ ngưng bích,
Viên sư hạ khởi, quân diễm sắc như đồng lưu.
Thần khí sơ thu, dữ thanh quang nhi sạ khích,
Văn tính vô tâm nhi thư quyến, hải ninh hữu ý ư trào tịch.
Bỉ tắc ngưng nguyên kỷ địa, thử nãi phiếm tích lưu thiên.
Ảnh súc lãng dĩ thời động, hình tùy phong nhi lũ thiên.
Nhập hồng ba nhi tịnh diệu, đối tục thủy nhi tương tiên.
Thời duy,
Cô dư băng lãng trường đinh tuyết tinh.
Phân cung khuyết ư tam sơn, tổng nghiên hoa ư nhất kính,
Lâm quỳnh thụ nhi chiếu hân, phú giao đài nhi oanh ánh.
Điều kiện ngoan dĩ truy phi, ngư thung dung dĩ hàm vịnh.
Mạc bất
Các đắc kỳ thích, hàm duyệt hồ tinh.
Đăng phù sảng khải, vọng tư vân hải,
Vân tắc liên cẩm hà dĩ ly phi, hải tắc súc mai côi chi thúy thái.
Sắc mặc thượng hồ khiết bạch, tuế hà thương ư thủ xuân.
Duy xuân sắc dã, đa phù tảo lệ, duy bạch vân dã, thưởng dĩ thanh tân,
Khả lâm lưu ư thị nhật, túng quan mỹ ư tư thời.
Bỉ mỹ chi tử, cố mục vô luân.
Dương quế tập, trạo thanh tần.
Tâm giao giao ư cự phố, vọng viễn viễn hồ thông tân.
Vân hề phiến ngọc chi nhân.
Khương Công Phụ (Văn Uyển Anh Hoa)

MÂY TRẮNG BIỂN XUÂN
Biển vào xuân khung trời xanh ngắt,
Trên cao cao trắng toát màu mây.
Cõi trời lớp lớp giăng đầy
Vầng trăng lấp ló ngàn mây la đà
Thoạt tiên:
Cửa trời mở, mây đà hiển hiện
Lượn lờ bay uyển chuyển như rồng
Quét ngang vách đá lạnh lùng
Lượn vòng hang núi, soi giòng sông xanh
Cho nên:
Biển đón mây tự xuân sẽ đến
Mây in trên mặt biển trắng ngần
Khi vầng dương tỏa sáng trưng
Khi trầm lắng xuống một giòng biếc xanh
Trời không ánh vẻ lung linh
Biển, mây chung một mông mênh đất trời
Vừa khi biển sáng ngời sắc biếc
Sóng rập rờn mây rập rờn theo
Vô tình mây cuốn từng cao
Hữu tình sóng bủa rào rào theo mây
Mây cứ bay đầy trời, lồng lộng
Biển cứ men theo đất mà tràn
Sóng thì theo nước mênh mang
Mây thì theo gió lang thang khắp cùng
Soi theo bước sóng hồng mà rạng
Nước cùng phô sắc lục mà tươi
Rồi khi:
Đảo xanh giá tuyết sạch rồi
Bồng lai hiện núi, hoa soi gương hồ
Cây quỳnh hoa cũng thêm hương sắc
Bóng đài cao vàng rực mây che
Muôn chim ríu rít bay về
Cá thong dong lội nước khoe trong ngần
Thế nên:
Tất thảy muôn loài cùng thích chí
Mỗi vật như đẹp ý thỏa lòng
Lên  ghềnh cao, hướng mắt trông
Bóng mây trắng muốt, trập trùng sóng xô
Mây như gấm tỏa ra muôn sắc
Biển trong ngần rạng nét tinh khôi
Sắc chi bằng sắc xuân tươi
Mùa xuân rực rỡ, mây trời bao la
Giòng xanh đã đi qua ngày ấy
Ngắm thỏa thuê cảnh lạ hôm nay
Kia kìa tốt đẹp những ai
Gương con mắt ngó lòng đầy ngẩn ngơ
Buông chèo quế buồm hoa phần phật
Lòng vơi vơi đầu bãi cuối ghềnh
Bờ xa vòi vọi trông lên
Mây như miếng ngọc xanh nên phận người.
Quán Tâm phỏng dịch
            Khương Công Phụ (?-?), người Giao Châu, đỗ Tiến Sĩ, làm quan đời Đường Đức Tôn với em là Khương Công Phục. Theo Đường Thư và Thông Giám, năm 783 được phong làm Gián Nghị đại phu kiêm Đồng Bình Chương Sự sau bị biếm làm Tuyền Châu biệt giá. Đến đời Đường Thuận Tông làm Thứ sử Cát Châu. Chết trên đường đi nhận chức.
Bài thơ của một người Việt chính cống. Nhưng văn phong nghe như là… Trương Nhược Hư.
Tuy nhiên, khi đọc kỷ bài thơ, rồi sau đó suy gẫm đôi điều về những giòng tiểu sử ngắn ngủi, nhưng khá hoành tráng của ông, tôi chợt nhận ra một điều vô cùng thú vị, một sự thú vị đến nhói lòng. Hầu hết thơ Đường, nói riêng, thơ Trung Quốc, nói chung dù viết về đề tài gì, đều có một cái gì đó rất Trung Quốc như là một điển tích hay một vài địa danh nổi tiếng của đất nước Trung Hoa. Từ những bài thơ ngắn chỉ hai mươi từ, cho đến những danh tác nổi tiếng như Tương Tiến Tửu, Thanh Bình Điệu của Lý Bạch, Trường Hận Ca, Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị hay hầu hết thơ của Đỗ Phủ. Kể cả bài thơ tả cảnh nổi tiếng Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ của Trương Nhược Hư. Nhưng Bạch Vân Xuân Hải thì không. Điều gì để khiến Khương Công Phụ đem hết công phu để trau chuốt một bài thơ như thế.
Từ bút pháp, ngôn ngữ cho đến nội dung đều thể hiện tất tần tật nỗi cô đơn, cam phận. Vẫn ngần ấy nước mây, vẫn ngần ấy hiện tượng thiên nhiên thật kỳ thú, thật diễm lệ. Nhưng nó không gắn bó với con người và càng không có vẻ gì là của Trung Hoa. Khương Công Phụ nhìn tạo vật trong vị thế lẻ loi, cảm mà không thụ. Lời lẽ trau chuốt mỹ miều như để che giấu một điều gì. Khung cảnh được vẽ nên như là một bức tranh lộng lẫy mà hoàn toàn xa lạ với con người. Cũng phải thôi. Sống dưới sức nặng của một nền văn hóa nô dịch. Cố học hành để ngoi lên trong chính nền văn hóa ấy, kết quả là bị đẩy vào một môi trường dù là phù hợp với kiến thức, nhưng hoàn toàn xa lạ với tâm hồn. Tại sao? Vì cái cảnh vật tuyệt vời đó không gắn bó với cái gốc Việt của ông, cái gốc mà ông không thể và cũng không muốn chối bỏ, nhưng đớn đau thay lại không thể khẳng định. Nền học vấn nô dịch ấy đã ngăn chận lối về của ông. Qua bức tường rắn như sắt nguội của định kiến nô dịch, ông nhìn thấy con đường quê và ngậm ngùi thốt ra một lời than não nuột và dài như là một thân phận, gói ghém trong sáu từ “Vân hề phiến ngọc chi nhân” Mây như một miếng ngọc xanh và… buồn thay, như thân phận con người mũ cao áo rộng nhưng chất chứa bên trong một nỗi buồn lạnh tanh, nỗi buồn chứ không phải nỗi hờn vong quốc, đẹp thì có đẹp, thậm chí rất đẹp để có thể ngưỡng mộ và ao ước, nhưng chẳng là gì? Bềnh bồng trôi nổi một tâm hồn không nơi nương tựa. Ca tụng một nơi không phải của mình thì thật trái lòng, mà không làm thế thì lại càng không được. Ông đành cay đắng chơi trò nước đôi, một thái độ mà người làm thơ không thể nào chịu nổi. Không phải chỉ ở giai đoạn đó mới có những con người kiểu như Khương Công Phụ, mà ngay cả sau này, và ở cả mọi nơi cũng không thiếu những con người lạc lõng giữa dân tộc mình, giữa chính con người mình. khi mà họ tiếp nhận một nền văn hóa khác một cách khinh xuất. Bài thơ như là một sự tìm về trong vô vọng.
Về bài thơ này ông Lê văn Siêu viết “ Qua bài văn dũa gọt ấy, ta nhìn thấy tâm trạng của người Nho sĩ tiêu biểu cho thời đại. Nó là tâm trạng đành phận của một người vong quốc, lấy văn chương làm lối thoát cho tâm hồn” (Văn Học Sử Việt Nam, tr127, nxb Văn Học 2006). Hoàn toàn đúng. Đó là các nho sĩ. Cũng nhân bài thơ này ông Lê văn Siêu viết tiếp vào đoạn sau “ Sở dĩ không dám nghĩ nữa vì ở khắp các phương diện, phương diện nào người đô hộ cũng hơn. (xuống hàng) Đạo Phật thì các sư tổ qua giảng kinh thuyết pháp cũng là người Đường. Đạo Lão thì Cao Biền người Đường, có học về phong thủy sâu sắc mà ai cũng biết tiếng.… “. (Văn Học Sử Việt Nam, tr128, nxb Văn Học 2006). Thực tình, cuốn sách này của ông Lê văn Siêu đã khai thị cho tôi biết được nhiều điều. Nhưng khi ông nhận xét về giai đoạn văn hóa từ năm 602-907 thì theo tôi có điều gì không ổn. Đọc đoạn văn vừa mới dẫn tôi có cảm giác không phải là của ông hoặc là lỗi biên tập. Tôi không dám tranh luận, nhưng trong phạm vi của những trang viết đầy tính lơ mơ này, tôi khẳng định. Đối với các tăng sĩ thì không. Thái độ bình tỉnh của các tăng sĩ Đại Việt đã tạo nên những nền tảng vững chắc cho Khúc Thừa Hạo và các con cháụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Vương Quyền chấm đứt thời kỳ1000 sống trong sự nô dịch văn hóa. Hậu thế rất mù mờ về giai đoạn giai đoạn lịch sử bi tráng này vì nhiều nguyên nhân phức tạp, nhưng nguyên nhân chính vẫn là hầu hết các bộ sử mang cấp nhà nước đều được viết bởi các nhà Nho. Mà nho sĩ trong giai đoạn khốc liệt này và cả cho đến bây giờ thì co ro, cúm rúm dữ lắm, thành ra một bồ chữ nghĩa của họ thì… cũng như không.
Và cả một dân tộc thì lại càng không như thế, bởi vì nếu như thế thì dân tộc này không còn tồn tại. Trong hơn một ngàn năm dưới sức nặng của một loại văn hóa nô dịch có bao nhiêu dân tộc đã bị đồng hoá mà nhân dân Đại Việt thì vững trân? Đây là một câu hỏi lớn, không phải một mình ông Lê văn Siêu hay một viện Sử Học mà trả lời được. Tôi cũng chỉ có thể hiểu lờ mờ như sau bằng trực giác hay cảm tính gì đó, sức đè càng nặng bao nhiêu thì sức phản kháng càng lớn và tạo ra một hành vi khác vĩ đại hơn. Sự chắc lọc tế vi. Tôi chỉ có thể viện dẫn 2 câu ca dao:
Tam Hoàng, Ngủ Đế chi thư
Thầy ngồi thầy để củ từ thầy ra.
Nghe mà buồn cười. Nhưng những hình ảnh ngược ngạo ấy luôn luôn xảy ra. Và luôn luôn bị đào thải. Ông thầy văn hóa nô dịch ấy đã không thể nào nghiêm túc nổi. Mà không nghiêm túc nổi thì nói ai nghe. Hai câu ca dao ấy thẳng thừng bộc trực chẳng văn hoa chút nào. Và chỉ như thế cái sự thật không nghiêm túc ấy mới được phơi bày. Cái “củ từ” thì người đàn ông nào cũng có, thiêng liêng và cần thiết. Nhưng trong trường hợp này thì thô tục hết chỗ nói. Ấy vậy mà nó được đem ra làm đối trọng với sách Tam hoàng, Ngũ đế của Hán Nho thì quả là... bó tay.
Không có bất cứ một thứ văn hóa, tư tưởng, học thuyết ngoại lại nào có thể nghiêm túc nổi khi bước vào vùng đất mới mà mang dáng dấp của kẻ bề trên.
Điều này, thêm hai lần nữa đã được lịch sử cận đại chứng minh. Ky Tô giáo ở thế kỷ XVII và Chủ Nghĩa Cộng Sản ở thế kỷ XX.
Và trong một ngàn năm sống với sự áp bức, nô dịch của văn hóa Hán Đuờng. Người Việt vẫn tự chủ trong ngôn ngữ và phong cách của mình. Còn nếu sử dụng chữ Tàu là một phương tiện như Mâu Tử, Khương Tăng Hội đã làm, và cả dân tộc đang làm để phản bác lại cái thứ văn hóa nô dịch ấy chẳng qua là “giáo Tàu đâm Chệt”. Thơ cũng thế. Nếu như câu nói của bà Triệu thị Trinh là xác định một Núi Sông : Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch cõi bờ, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người cúi đầu cong lưng làm tì thiếp cho người ta”. Thì ngay trong ca dao của con dân Âu Lạc cũng thế, dù nội dung chỉ là một nỗi nhớ thương, sự tìm kiếm một người tình:
 Ngó hoài ra ra tận biển Đông,
 Thấy mây thấy nước sao không thấy chàng
Càng rạch ròi hơn khi:
Tay tiên rót chén rượu đào
Đổ đi thì tiếc uống vào thì say
Chẳng chè chẳng chén cũng say
Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
Những câu ca dao nhắc tới biển Đông chưa bao giờ là một cuộc tranh cãi về lãnh hải, nó được hát lên, ru lên suốt từ bắc chí nam, từ thời bà Trưng bà Triệu đến nay, chỉ là một tâm tình. Nhưng mặc nhiên khẳng định Biển Đông của Âu Lạc, của Việt Nam chớ không phải là Nam Hải của Tàu
Nhưng trước bài thơ của Khương Công Phu. Năm 675, Đại Thừa Đăng một thiền sư Lạc Việt sang Ấn Độ đã viết một bài thơ khóc bạn. Có lẽ dây là một bài thơ sớm nhất mà hậu thế được biết.

     
THƯƠNG ĐẠO HY PHÁP SƯ
Ta hỹ tư vương
Kỳ lực di cường
Truyền đăng chi sĩ
Yến dĩ vân vong
Thần châu vọng đoạn
Thánh cảnh hồn dương
Quyến dư trường nhi lưu thế
Khái bố tố nhi tình thương

NHỚ PHÁP SƯ ĐẠO HY
Khốn nỗi nhớ ông
Sức vẫn còn cường
Truyền đăng một đấng
Bổng  chốc tiêu tan
Hồn lìa khỏi xác
Về cõi Tây Phương
Đoái trông buồn mà rơi lệ
Nghĩ khổ cực mà tình thương
Tiểu sử và hành tung của Đại Thừa Đăng đã được ông Lê Mạnh Thát khái quát lại khá đầy đủ trong LS Phật Giáo Việt Nam T.II. Ở đó cho thấy ông là một thiền sư Đại Việt nổi bật nhất trong thế kỷ VII.
Bài thơ nói về tình bạn, tình đồng đạo hay đúng là một thứ tình cảm của những người cùng chí hướng đi tìm một niềm tin cho dân tộc, một niềm tin đúng đắn và cần thiết cho sự tồn tại của một quốc gia, một dân tộc. Hai câu thơ cuối cùng đã mang đến cho người đọc một xúc cảm không cùng.
Văn hóa Hán Đường làm mưa làm gió gần mười thế kỷ (111tcn-880scn) ở Đại Việt, tưởng thế vì người Đại Việt đã chính thức dùng chữ Hán rồi, nhưng đã bị địa phương hóa đến độ người Trung Quốc cũng phải giật mình. Cái ý muốn đồng hóa Đại Việt của người Hán đã bị Việt hóa ngược lại cái phần tinh túy nhất của họ. Văn minh. Một tư tưởng tự do nhân ái và tinh thần phá chấp của Thiền, dù có nhiều bước thịnh suy, đã trở thành một đối trọng ngang hàng, nếu không muốn nói là hơn hẵn Bắc phương đang bị các trường phái Nho giáo khuynh loát. Một ngàn năm bị áp đặt, tưởng như bị đồng hóa, nhưng thực tế thì ngược lại. Người Viện Nam đọc chữ Tàu bằng tiếng Việt cho đến một ngày nào đó rồi đưa vào viện bảo tàng.
            Sự giao thoa ba nền văn hóa Việt Ấn Trung đã tạo nên một nền văn hóa mới, trở thành một cái nôi cho những mầm mống tự chủ nãy mầm và trở nên một nền độc lập hoàn chỉnh. Văn hóa đạo Bụt thấm sâu, văn hóa Hán Đường được chắt lọc giao thoa cùng với tư tưởng tự do của Âu Lạc. Sau khi nhà nước của Hai Bà Trưng (41-43AC) thất bại, gông cùm của nền văn hóa nô dịch được Mã Viện siết chặt thêm, điều đó đã gây nên những cuộc kháng chiến, bằng những hình thức khác nhau, liên tục nổ ra, càng lúc mật độ càng dày. (như lịch sử đã ghi) Đó là những cuộc nổi dậy mà hậu thế biết được người lãnh đạo. Nhưng còn biết bao nhiêu cuộc đấu tranh thầm lặng hơn về văn hóa được diễn ra dưới mọi hình thức ẩn khuất phía sau những giòng sử cũ, mà chỉ có những cái nhìn sáng suốt mới có thể nhận ra. Những người dân Âu Lạc khi đi ngang qua trụ đồng Mã Viện họ ném vào đấy một hòn đá nhỏ, không phải vì sợ cái câu hăm dọa khắc trên đó “Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt”, mà họ muốn vùi lấp một biểu tượng hãnh tiến của quân xâm lược, một hành động của sự đoàn kết, đồng thuận đầy kiên trì, nhẫn nại nhưng cũng rất hòa bình.
Đất nước phải trải qua một thời kỳ cực kỳ khó khăn khi nhà Đường thống nhất Trung Quốc. Thế lực xâm lược được mang tiếng văn minh nhất Trung Quốc lại là một thế lực xâm lược tàn bạo nhất. Những cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế (722). Đào Tề Lượng (767) Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (791) Dương Thanh (819-828) bị nhận chìm trong biển máu. Nhưng cũng chính vì thế mà sức bật của văn hóa Âu Lạc lại bùng lên mạnh mẽ. Những việc làm của các thiền sư tưởng chừng như vô ích nhưng thực ra từng bước củng cố và phát triển mạnh mẽ tinh thần văn hóa Âu Lạc. Trung tâm đạo Bụt Luy Lâu đã xây dựng một nền móng vững chắc ở Đại Việt và lan tỏa ra khắp Hoa Nam. Một trung tâm mới được hình thành ở Hoan Châu (Thanh Hoá). Cụ thể là Đông Sơn, cái nôi của nền văn minh Âu Lạc. Hàng loạt các thiền sư vượt biển ra nước ngoài cầu pháp. Sự giao lưu về giáo pháp được các thiền sư thực hiện, tất nhiên đó cũng là giao lưu văn hoá. Thơ trở thành một cầu nối tuyệt diệu. Trong chuyến lưu đày của Thẩm Thuyên Kỳ chúng ta thấy thơ ca của một danh sĩ đất Bắc vẽ nên con người Âu Lạc và sự ngưỡng mộ của ông dành cho phong cách sống người phương Nam như thế nào.
Và tiếp theo là nhưng giao lưu của hai nền văn hóa Việt Trung từ bấy đến giờ, bao giờ văn hóa Việt cũng ở thế bên trên. Thực ra những trí thức hay con dân Âu Lạc muốn thế và cố tình làm thế nhưng sự thật thì nó là như vậy. Đâu phải ngẫu nghiên mà mà Lý Giác phải thốt lên “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu”. Người Âu Lạc khi tiếp xúc với các nền văn hóa khác thì họ luôn luôn ở tư thế ngước nhìn, họ hoàn toàn không bị sự ràng buột nào của cái mình đang có, họ hoàn toàn tự do. Thái độ này không phải là tư ti mà là tự tri. Rồi khi chấp nhận cái mới thì lại sanh sửa cho phù hợp, cho thuận hòa với cái mình đang có.  Đạo Bụt của Đại Việt (chủ yếu là Thiền) không như Thiền của Phật Giáo Trung Hoa. Thiền Đại Việt không có những la hét, đánh đập, lại càng không có những công án kỳ khu, ngược ngạo (như chúng ta được biết qua Thiền Luận của D.T.Suzuki) mà là khúc triết, minh bạch. Thiền của Đại Việt hiển hiện như ánh nắng, như vầng trăng, như là bông hoa, và như là một thuận hòa trong cuộc sống. Do vậy, chúng ta vẫn nghe thấy bóng dáng của những ngôi chùa qua ca dao, qua tục ngữ và thơ:
- Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt.
- Đặng không mừng, mất không lo (tục ngữ)
- Mưa từ trong núi mưa ra
Mưa khắp thiên hạ, mưa qua chùa Thầy.
Đôi ta bắt gặp nhau đây,
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang. (ca dao)

NHỮNG CUỘC GIAO TIẾP RẤT THÚ VỊ CỦA CÁC THIỀN SƯ ÂU LẠC VA NHỮNG NHÀ THƠ NỔI TIẾNG TRUNG QUỐC.
Sau Thẩm Thuyên Kỳ, gần một thế kỷ sau lại có những cuộc giao tiếp rất thú vị.
山 中 赠 日 南 僧
獨 向 双 風 老
松 門 閉 兩 衙
繙 經 上 蕉 葉
掛 衲 落 藤 葩
甃 石 新 開 井
自 穿 林 種 茶
時 逢 南 海 客
蠻 語 問 誰 家
張 籍

SƠN TRUNG TẶNG NHẬT NAM TĂNG
Độc hướng Song Phong lão
Tùng môn bế lưỡng nha
Phiên kinh thượng tiêu diệp
Quải nạp lạc đằng ba
Trứu thạch tân khai tỉnh
Xuyên lâm tự chủng trà
Thời phùng nam hải khách
Man ngữ vấn thùy gia?
Trương Tịch
Song Long riêng ngắm sư già
Cửa cài đôi cánh tùng loà xoà xanh
Trên trang lá chuối dịch kinh
Hoa mây rơi vướng áo cà sa phơi
Giếng trong lèn đá ngòi khơi
Trồng trà rừng biếc pha mời khách thăm
Gặp người đến từ biển nam
Bật lời xứ khác thì thầm nhà ai?
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Trương Tịch (768-830) viết tặng Nhật Nam Tăng. Thử tìm hiểu một ít về hai nhân vật này. Trương Tịch là một nhà thơ lớn đời Đường là bạn thân của Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn. Trương Tịch có một quan hệ khá đặt biệt với vùng đất Nhật Nam. Ngoài bài thơ trên ông còn có hai bài thơ khác viết về Nhật Nam. Nhật Nam tăng là ai, đến giờ vẫn chưa có một thông tin gì về nhà sư này. Bài thơ chỉ hé lộ cho ta thấy ông đang dịch kinh ở một trung tâm Phật giáo nổi tiếng của Trung quốc thời bấy giờ. Núi Song Long của tứ tổ thiền tông Đạo Tín (580-651). Ngoài ra không còn có một thông tin nào khác về  nhà sư này.
Trương Tịch đến núi Song Long làm gì, chúng ta sẽ biết khi đọc tiếp hai bài thơ sau
Bài thơ tiễn biệt Định Không (730-808) pháp sư của Dương Cự Nguyên .
       
    
    
    
    
    
    
    
    
  
Cung phụng Định Pháp Sư quy An Nam
Cố hương Nam Việt ngoại
Vạn lý bạch vân phong
Kinh luận từ thiên khứ
Hương hoa nhập hải phùng
Lộ đào thanh phạm triệt
Thần các hoá thành trùng
Tâm đáo Trường An mạch
Giao Châu hậu dạ chung
Dương Cự Nguyên
Tiễn Cung phụng Định Pháp sư về Nam
Gió mây muôn dặm trắng
Quê người Nam Việt xa
Cửa trời không kinh luận
Gió biển ngát hương hoa
Sóng xanh cò soi bóng
Lầu các mây muôn toà
Trường An liền nỗi nhớ
Đêm Giao Châu chuông chùa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Bài thơ của Giả Đảo (779-843) tự là Lãng Tiên, hiệu là Kiệt Thạch sơn nhân, người Phạm Dương Hà Bắc, ông thi mấy lần không đỗ bèn đi tu ở Lạc Dương pháp danh Vô Bản, sau đến chùa Thanh Long ở kinh đô Trường An. Ông là người gầy ốm nhưng rất tài hoa tặng thiền sư Duy Giám khi thiền sư đến giảng đạo trong cung vua Đường.
       
   殿 
    
    
    
    
    
    
    
 
Tống Duy Giám Pháp Sư quy An Nam
Giảng kinh xuân điện lý
Hoa nhiễu ngự sàng phi
Nam Hải kỷ hồi quá
Cựu sơn lâm lão quy
Xúc phong hương tổn ấn
Triêm vũ khánh sinh y
Không thủy ký như bi
Vãng lai tiêu tức hy
Giả Đảo
Tiễn Pháp sư Duy Giám về An Nam
Giảng kinh giữa điện vào xuân
Hoa thơm bay đáp quanh giường vua ban
Mấy phen vượt biển Đông sang
Già nương núi cũ, lên đường về thôi
Gió xua ấn bớt thơm hơi
Khánh mờ rêu bởi mưa rơi lạnh lùng
Nước mây vời vợi con đường
Tin qua tin lại biết phương nào tìm
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
Ba nhân vật này; Tiến Sĩ Trương Tịch (768-830), Tiến Sĩ Dương Cự Nguyên (760?-835?), Tiến Sĩ Giả Đảo (779-843). Ôi sao mà nhiều Tiến sĩ quá vậy. Nhưng tôi cũng lạ lùng ở chỗ họ là những con người danh vọng trong học vấn và văn hoc, là những người cùng thời với nhau, họ là những danh sĩ, cũng là những viên chức chính quyền trung ương và là những nhà thơ nổi tiếng cùng tìm đến những Thiền sư Âu Lạc để viết những bài thơ đưa tiễn mà hàm ý là ca ngợi vì ngưỡng mộ tài năng. Thiền sư Nhật Nam Tăng đến để dịch kinh. Thiền sư  Định Không, Thiền sư  Duy Giám đến theo yêu cầu của vua Đường Đức Tôn Lý Quát để giảng kinh. Trong Lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Ông Lê Mạnh Thát đã có những lập luận xác đáng về những nhiệm vụ chính trị và ngoại giao mà những thiền sư đãm nhiệm. Nhưng ở đây tôi chỉ muốn bàn về một khía cạnh khác, đó là văn học và tư tưởng. Tư tưởng thì đã khẳng định rồi, dù ở bất cứ vị trí nào trong giai đoạn khốc liệt này, những công dân Âu Lạc cũng đều cố gắng hết sức để thể hiện và rao truyền tư tưởng đó. Nhưng về mặt văn hoá thì chúng ta chỉ nhận được những bài thơ của khách. Nhưng của chủ thì không. Không này phải hiểu là có, thậm chí có thể có nhiều, nhưng đã trở nên không vì nhiều lý do có thể biết được. Điều đó chứng minh cho nền văn học Âu Lạc đã gieo không phải là ít mà nhiều hạt giống để hơn một thế kỷ sau nở bừng thành cây xanh quả ngọt
(Tôi hoàn toàn chấp nhận ý kiến của ông Lê Mạnh Thát là không có một thiền sư nào tên Phụng Đình hay Phụng Định mà đó là pháp sư Định Không tức là Định Pháp Sư. Một sự ngộ nhận về cú pháp khá lớn đã tạo ra một nghi vấn lịch sử. Có thể ông Lê Mạnh Thát và tôi chủ quan. Nhưng sự chủ quan của tôi (nếu có) chỉ nhằm một mục đích duy nhất để xác định là những hạt giống thơ Việt đã được ươm mầm. Và những người gieo mầm ấy đã làm cho các bậc danh sĩ thiên triều phải khâm phục.)

THIỀN SƯ NGUYỄN ĐỊNH KHÔNG
Trong tất cả những thiền sư nêu trên, chỉ có một người mà hậu thế biết được khá rõ ràng niên đại và hành trạng. Đó là Nguyễn Định Không
Trước đó, năm 580 thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (người Ấn Độ) đã đến chùa Pháp Vân ở làng Cổ Châu (Long Biên) cùng với thiền sư Quán Duyên lập ra thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ông tịch năm 594, người kế thừa là thiền sư Đỗ Pháp Hiền (?-626), thiền sư Pháp Hiền là người Châu Diên (nay là thành phố Hà Tây), đã phát triển và đưa thiền phái này đến chỗ cực thịnh, truyền được 19 thế hệ thiền sư (580-1213). Số tăng sĩ được thiền phái này đào tạo hơn cả ngàn người. Cuối thế kỷ thứ VIII, thiền phái này xuất hiện thiền sư Nguyễn Định Không (730-808). Thiền sư Định Không là truyền thừa thế hệ thứ 8 của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi.
Thiền sư Định Không không phải là người đầu tiên nhen nhóm tư tưởng độc lập dân tộc, nhưng ông là người có những hành động tích cực nhất và cụ thể nhất trong việc này. Lúc này nhà Đường đã suy yếu, tình hình ở Đại Việt rất rối ren, năm 712-722, tại Hoan Châu (Nghệ An) Mai Hắc Đế liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp phất cờ khởi nghĩa, tiếp đến là cuộc khởi nghĩa Đào Tề Lượng (767) Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (791-798) ở Đường Lâm. Năm 819 Thứ sử Hoan Châu Dương Thanh nguyên là một hào trưởng đã khởi nghĩa giết An Nam đô hộ Lý Tượng Cổ. Những phong trào nổi lên giành tự chủ liên tiếp xảy ra. Thiền sư Định Không chuẩn bị nhen nhóm một đức tin cho nền độc lập. Nhìn thấy thế nước có thể dành lấy nền tự chủ. Đã từng qua lại Trung Quốc nhiều lần, đã tiếp cận giới lãnh đạo chóp bu của nhà Đường đang trên đường mạt vận. Thiền sư Định Không đã nhận ra, thời cơ đã đến gần cho một non sông Âu Lạc. Năm 785 ông cho xây dựng ngôi chùa Quỳnh Lâm ở quê mình là làng Dịch Bảng và tạo ra hiện tượng mười chiếc khánh và làm bài thơ sau:
地 呈 法 器
一 品 精 銅
知 佛 法 之 興 隆
立 鄉 名 之 古 法
法 器 出 現
十 口 銅 鍾
李 氏 興 王
三 品 成 攻
Địa trình pháp khí
Nhất phẩm tinh đồng
Tri Phật Pháp chi Hưng Long
Lập hương danh chi Cổ Pháp
Pháp khí xuất hiện
Thập khẩu đồng chung
Lý thị hưng vương
 Tam  phẩm thành công
Định Không
Đất trình pháp khí
Phẩm chất tinh đồng
Đưa Phật pháp đến chỗ hưng long
Đặt tên làng là Cổ Pháp
Pháp khí xuất hiện
Mười chiếc chuông đồng
Họ Lý hưng vương
 Tam phẩm thành công
Nguyễn Lang
Và ông đặt lại tên làng là Cổ Pháp, nay là huyện Tiên Sơn, Hà Bắc. Ông dặn đệ tử là thiền sư Thông Thiện phải giữ gìn cuộc đất đừng đề bị phá hoại. Thông Thiện ghi lời dặn trên tháp thờ của thiền sư Định Không và trước khi mất thì dặn dò lại cho thiền sư La Quý An (852-936). Quả nhiên, một viên tướng rất giỏi phong thủy của nhà đường là Cao Biền đến và tìm cách phá hoại. Hắn đã cho đào 19 địa điểm để phá, nhưng thiền sư La Quý An cho lấp lại cả và ông làm nhiều việc để chuẩn bị cho ngày quốc gia độc lập như: Quyên góp tài sản và cho đúc tượng Lục Tổ thật lớn bằng vàng, đem chôn gần tam quan để khi gặp người thực tâm giúp nước, giúp dân thì đào lên lấy vàng mà ủng hộ. Tất nhiên thiền sư La Quý An cũng không quên cũng cố niềm tin ấy bằng một bài kệ mang tính sấm vỹ, một hình thức mang tính truyền thông thật hiệu quả trong thời đại ấy:
大 山 龍 頭 起
虯 尾 隱 朱 明
十 八 子 定 成
綿 樹 現 龍 形
兔 雞 鼠 月 內
定 見 日 出 清
Đại sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn Chu Minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thố kê thử nguyệt nội
Định kiến nhật xuất thanh
Nội dung 3 bài thơ không những mang theo sự khao khát một một đất nước độc lập mà còn chứa đựng cả một kế sách để xây dựng và bảo vệ nền độc lập ấy và liền sau đó là các cuộc kháng chiến nổ ra liên tục và mang tính kế thừa rất cao; Khúc Thừa Dụ (906-907). Khúc Thừa Hạo (907-917), Khúc Thừa Mỹ (917-923), Dương Diên Nghệ (931-938). Và…
Ngô Vương Quyền (918-965)
Năm 938. Sau chiến thắng Bạch Đằng Giang. Ngô Vương Quyền chính thức xưng vương, đóng đô ở Đường Lâm. Mở đầu cho thời kỳ Độc Lập mà sau này trở thành một biểu tượng mở đầu thời kỳ độc lập dân tộc. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh đời Trần đã có hai câu thơ thật đẹp:
洶 洶 白 藤 濤
想 像 吳 王 船
Hung hung Bạch Đằng đào
Tưởng tượng Ngô Vương thuyền
Sông Bạch Đằng cuộn sóng
Nhớ Ngô Vương dong thuyền
Nối tiếp truyền thống của thiền sư Định Không, Thông Thiện, La Quý An. Thiền sư Khuông Việt, thiền sư Pháp Thuận, thiền sư Vạn Hạnh (?-1018), thuộc thế hệ thứ 12 là người kiến tạo ra vương triều nhà Lý đúng như dự đoán của thiền sư Định Không. Không thấy bóng dáng của bất cứ một nho sĩ Đại Việt nào trong giai đoạn lịch sử mang tính bản lề này.
Giòng thơ đầu tiên xuất phát từ thiền viện, nhưng lại mang âm hưởng của Dịch Lý xuất phát từ thiển sư Nguyễn Định Không và kéo dài đến thời thiền sư Vạn Hạnh. Nội hàm của những bài thơ này thì đã rõ, khẳng định một giang sơn bằng cách kết tụ lại nhân tâm theo cái lẽ biến thiên của vạn vật. Nó là một chuyển động tất yếu, chì cần nương theo một cách hòa bình là đủ.
Một ngàn năm dưới sức nặng khủng khiếp về quân sự, văn hóa, chính trị và cả tư tưởng táp nham của Trung Quốc. Tinh thần Âu Lạc vẫn tồn tại bằng:
-  Những hòn sỏi nhỏ được tung ra ra từ những bàn tay hiền hòa, nhẫn nại khi đi qua trụ đồng.
- Những tiếng chuông chùa, lời cầu kinh trong những ngôi chùa đơn sơ ẩn khuất dưới tán lá những gốc Bồ đề, những cành đa xanh mướt.
- Những chiếc bành dày, bánh chưng Lang Liêu nối liền mạch đất trời mỗi khi Xuân đến như nối những tấm lòng của người mẹ người cha với những người con hiếu thảo.
- Những trái dưa hấu An Tiêm xanh rờn bao bọc tấm lòng son sắt vẫn làm mát lòng người trong những ngày nằng lửa.
- Những nét hoa văn trên người như hòa nhập vào thiên để tồn tại.
- Những miếng trầu làm thắm những đôi môi khi giao tiếp (miếng trầu là đầu câu chuyện), là sợi chỉ hồng nối liền mạch tơ duyên.
- Những hàm răng đen hạt huyền vẫn lấp lánh
- Tinh thần thánh Gióng “đánh đuổi” giặc ngoại xâm vẫn tồn tại suốt 1000 năm ấy và còn mãi đến sau này, chưa bao giờ lịch sử VN ghi nhận những chiến công chống ngoại xâm của mình bằng cách đếm xác quân xâm lược. {Ngoại trừ những cuốn sách lịch sử do các nhà Nho viết ra và sách lịch sử hiện đại (!?)}
- Cuộc chiến kinh hồn giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh là cuộc chiến vì tình yêu nên không có một con tôm con cá, con cua… (lính của Thủy Tinh) Con nai, con cọp, coin hùm… ( lính của Sơn Tinh) nào bị tử thương.
Từ trước đến đầu thế kỷ 20, không riêng gì các học giả Việt Nam và Trung Hoa, mà các nhà văn hóa, triết học phương Tây đều lóa mắt trước kinh Dịch rồi nghiêng mình cảm phục trước tác phẩm văn hóa đồ sộ này, một tác phẩm được các nhà văn hóa lớn Trung Hoa ăn cắp của nhân dân Âu Lạc và vẽ rắn thêm chân mà quên đi những nội hàm ban đầu của nó, và từ đó Dịch của mọi người (trừ ngưới Âu Lạc) trở thành những trò nhảm nhí, mê tín dị đoan, mọi chú giải xuất phát từ Trung Hoa đều đứng trên quan điểm Nho Giáo, nên người ta thò tay vào đó sắp xếp theo ý mình để sau này phát sinh ra cái ý niệm trời ơi đất hởi “duy vật biện chứng” với cái quái thai chủ nghĩa Cộng Sản mang theo cái khẩu hiệu “Làm biếng theo năng lực, hưởng thụ theo yêu cầu” (Tận các sở năng, tận hưởng sở nhu”. Tất cả như quên quên mất cái nội hàm đích thực của Dịch là “Như thị”. Nhưng người Âu Lạc thì không, họ nhìn ngắm thiên nhiên và cảm nhận cái “Dịch” của vạn vật và chấp nhận nó như là một lẽ đương nhiên, để khi tiếp nhận văn hóa đạo Bụt, những con người hiền hòa ấy nương theo để sống cùng, sống với và cuối cùng là sống chung, họ hòa theo bằng cái kiểu vẽ mình  để sống với giao long, gói bành dày bánh chưng để cảm nhận cái mênh mông, khoáng đạt của đất trời, họ không tách bạch chi ly cái tổng thể “không bắt đầu không kết thúc”. Nắm bắt tinh thần ấy thiền sư Định Không và các thế hệ học trò của ông đã tạo nên những vầng thơ đầy tính “Dịch” (Chuyển động) ấy để khẳng định một non sông, tạo nên một tiền đề cho mấy trăm năm sau với những bước chân thiên di Hành Phương Nam vĩ đại bằng một tâm thế hiền hòa. Đừng xét nét những bài thơ này theo cái nhìn của mấy ông “mù sờ mu rùa”, mà hãy đọc và hiểu như là một sự nhìn theo ngón tay của đức Bụt lúc chỉ trăng.


Nhưng với những phát hiện gần đây trong các công trình khảo cổ và trong các kho thư tịch mốc meo người ta đã có những cứ liệu xác đáng để khẳng định được rằng nền văn minh Trung Hoa là một nền văn minh mang hội chứng 4Ăn: Ăn cắp. Ăn Cướp. Ăn Trộm và Ăn bẩn. mà hầu hết các Ăn đó là ăn cắp từ nền văn minh Âu Lạc. Trong hơn 1000 năm đi ăn cướp ở Âu Lạc, họ đã áp đặt một nền văn hóa nô dịch và lai căng nhưng rút cuộc rồi cũng chẳng nên trò trống gì ngoài cái việc để lại một mớ trí thức hỗn độn, làm cho những người như ông Lê văn Siêu (dù ông rất có tâm, có tầm) nhầm lẫn cũng như những đỉnh cao trí tuệ thời hiện đại đang trược dài trên con đường khuyển mã.
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét