Người theo dõi

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

LANG THANG VỀ HAI KHOẢNG LẶNG



LANG THANG VỀ
HAI KHOẢNG LẶNG
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu



PHẦN I

HỌ HỒNG BÀNG – NƯỚC XÍCH QUỸ VÀ
NHÀ NƯỚC VĂN LANG  (2879tcn - 43scn)

Sách xưa lần giở ra xem lại
Người cũ mờ trong nét chữ mờ
Lời cũ thì thầm bao nhắn nhủ
Người nay liệu có nhớ người xưa

Tục truyền rằng cháu ba đời của vua Thần Nông là Đế Minh đi tuần thú phương nam, gặp nàng tiên ở núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam Trung Quốc) và sinh ra Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con là Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương. Đặt tên nước là Xích Quỹ (2879 BC).
Nước Xích Quỹ bắc giáp hồ Động Đình (Hồ Nam), nam giáp Hồ Tôn (sau này là Chiêm Thành), đông giáp Nam Hải, tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên).
Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra một bọc có trăm trứng, nở ra được một trăm con trai. Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:” Ta là giống rồng nàng giống tiên, nên chia nhau mỗi người năm mươi con, Ta dẫn xuống biển, nàng đưa con lên núi”. Rồi phong cho con trưởng làm vua. Vua xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Vĩnh Phúc). Tục truyền rằng từ đây ở vùng đất phía Nam sông Dương Tử, còn gọi là sông Trường Giang, có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống nên gọi là Bách Việt. Vua Hùng truyền ngôi được18 đời. Quan văn gọi là Lạc Hầu, quan võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua Hùng chia nước ra 15 bộ và cắt cử các anh em đứng đứng đầu mỗi bộ. Mười lăm bộ là; Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang. Về tên gọi của mười lăm bộ thì các sách Việt Sử lược của Sử Hy Nhan, Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, Lịch Triều Hiến Chương Loại chí của Phan Huy Chú ghi không giống nhau về tên gọi cũng như cương vực. Các tên trên ghi theo Dư Địa chí của Nguyễn Trãi.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

VIỆT NAM VẠN TUẾ

VIỆT NAM VẠN TUẾ




 Lúc 5 giờ 35 sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại pháp trường Yên Bái, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ khác là:
Phó Đức Chính
Bùi Tư Toàn
Bùi Văn Chuẩn
Nguyễn An
Hà Văn Lạo
Đào Văn Nhít
Ngô Văn Du
Nguyễn Đức Thịnh
Nguyễn Văn Tiềm
Đỗ Văn Sứ
Bùi Văn Cửu
Nguyễn Như Liên

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

Đôi điều suy nghĩ về vương triều Nguyễn


Đôi điều suy nghĩ về vương triều Nguyễn
This entry was posted on Tháng Mười Một 4, 2016, in Lịch sử Việt Nam and tagged chúa Nguyễn, gia long, Kiến Hào, miền nam, Nam Bộ, nhà nguyễn. Bookmark the permalink. 11 phản hồi


Kiến Hào
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn bộ những giá trị kinh tế – xã hội của miền Nam đều bị xóa bỏ và thay thế bởi những khái niệm, chuẩn mực mới của miền Bắc XHCN. Riêng về lịch sử, triều Nguyễn (1802 – 1945) chịu sự phê phán, lên án hết sức nặng nề. Tất cả đường phố Sài Gòn có biển tên vua quan triều Nguyễn đều bị xóa bỏ, thay bằng những tên khác như Nguyễn Hoàng (bị thay bằng Trần Phú), Gia Long (Lý Tự Trọng), Thành Thái (An Dương Vương), Minh Mạng (Ngô Gia Tự), Hiền Vương (Võ thị Sáu), Lê Văn Duyệt (Cách Mạng tháng 8), Võ Di Nguy (Phan Đình Phùng), Nguyễn Huỳnh Đức ( Huỳnh Văn Bánh), Trương Minh Giảng (Lê Văn Sỹ), Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ), Võ Tánh ( Hoàng văn Thụ) v.vv… Những ngôi trường miền Nam nổi tiếng một thời, mang tên vua chúa và các khai quốc công thần triều Nguyễn cũng chịu chung số phận bị xóa tên như Gia Long, Petrus Ký, Lê Văn Duyệt, Trịnh Hoài Đức, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản …Đặc biệt địa danh “Gia Định” để chỉ một vùng đất là thủ phủ miền Nam đã tồn tại hơn 200 năm cũng bị xóa mất. Sách giáo khoa và tham khảo trong nhà trường phổ thông dùng những từ ngữ hết sức “cay nghiệt” khi nói về các vua chúa nhà Nguyễn : “…Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài. Gia Long lên làm vua lập nên triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân … Triều Nguyễn là vương triều tối phản động …Bản chất cực kỳ phản động của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố, trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và những người thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em… “Chính quyển nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, nó không có cơ sở xã hội nào khác ngoài giai cấp địa chủ. Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819) đến Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847),Tự Đức (1847-1883) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng các hành động lật đổ. Chính vì khiếp nhược trước phong trào nhân dân mà nhà Nguyễn không dám đóng đô ở Thăng Long, phải dời vào Huế”.(1)
Nhiều thế hệ học sinh đã được học những bài học lịch sử với quan điểm đánh giá cực đoan như vậy, nên không trách trong một thời gian dài, rất nhiều những ngộ nhận oan sai, thậm chí lòng căm thù đối với nhà Nguyễn tỏ ra “hết sức sâu sắc”. Thực ra, các vua chúa triều Nguyễn cũng có nhiều công lao to lớn trong sự nghiệp mở nước và thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến…mà vì nhiều lý do, người ta cố tình bỏ quên hoặc lãng tránh nhắc đến các sự kiện đó, hoặc buộc phải nhắc đến thì lại cố tình gán ghép cho những động cơ sai trái, suy diễn theo hướng có tội. Đó là một thái độ không công bằng, thiếu tôn trọng sự thật khách quan, thiên lệch và bóp méo lịch sử. Bài viết này không có tham vọng “tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời” (Kiều), cũng không nhằm biện minh cho những sai lầm của nhà Nguyễn trong quá khứ, chỉ mong cung cấp những sự kiện lịch sử có thật để bạn đọc có một cái nhìn khách quan, đầy đủ hơn từ đó có những nhận xét công tâm về nhà Nguyễn, một vương triều vẫn đang có nhiều tranh cãi trong quá khứ và cả hiện tại.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

AI LÀ CHỦ NHÂN THỰC SỰ CỦA THÁC BẢN GIỐC ?

AI LÀ CHỦ NHÂN THỰC SỰ CỦA THÁC BẢN GIỐC ? CỘT MỐC 53 BỊ DI DỜI RA SAO ? THÓI CƯỠNG CHIẾM CỦA TRUNG CÔNG

Việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và phá hủy trạm thủy văn ở nơi đó không thể che lấp được sự thật: trước đó Việt Nam là chủ sở hữu của cồn này, và đương nhiên là chủ sở hữu của toàn bộ Thác Bản Giốc. Toàn bộ hồ sơ về việc thành lập và quá trình hoạt động của trạm thủy văn chính là một bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam. Điều này chứng tỏ cột mốc 53 nằm sai vị trí, và việc nó bị dời đến địa điểm hiện nay là do phía Trung Quốc thực hiện sau khi đã chiếm cồn Pò Thoong.
Điều gì làm cho Thác Bản Giốc trở thành đặc sắc so với tất cả các thác nước trên toàn cõi Việt Nam? Trong cuốn Thiên nhiên Việt Nam (ấn bản năm 1977), nhà địa lý học Lê Bá Thảo đã miêu tả Thác Bản Giốc như sau: “Sông Quây Sơn ở phía bắc Thượng Lang sau khi chảy qua một vùng đá vôi rộng lớn đến Bản Giốc thì đổ vào khu vực đá phiến tạo thành ba bậc thác nước chênh nhau đến 34 m. Vào mùa lũ (từ tháng 5 đến tháng 9), nước từ các hốc ngầm đá vôi ở thượng lưu tuôn đến đổ xuống các bậc tung bọt nước trắng xóa, làm đoạn thung lũng ở phía dưới thác mở ra rất rộng. Đứng trên bãi cát ven sườn thung lũng, người ta có cảm tưởng bị vây quanh bởi những bức tường nước đồ sộ nhưng chúng không hề gây cho chúng ta cảm giác sợ hãi. Trái lại, phong cảnh lại cực kỳ đẹp đẽ và bình dị.”[2] “Ba bậc thác nước chênh nhau đến 34 m” chính là vẻ đẹp cốt lõi của Thác Bản Giốc, làm cho nó khác hẳn tất cả các thác nước khác ở nước ta.
Nếu nhìn một cách toàn diện, Thác Bản Giốc bao gồm hai phần. 
- Phần thác chính ở phía bắc là “ba bậc thác nước chênh nhau đến 34m” như trên vừa nói – tạm gọi là “thác ba tầng”;
- Phần thác phụ ở phía nam là “ba dòng thác” đổ từ trên cao xuống tương tự những thác thường thấy trong khắp cả nước, không có gì đặc sắc. Vào mùa nước lớn, khi nước chảy tràn trề, người ta có thể nhìn thấy rõ ba dòng thác làm nên thác phụ; nhưng đến mùa khô, nơi đây chỉ còn các dòng nước teo tóp đổ vào một vũng nước hẹp. Vì thế có thể nói phần thác chính mới là “linh hồn” của Thác Bản Giốc.
Do đó trước đây mỗi khi nghe nói đến Thác Bản Giốc, ít ai biết đến phần thác phụ. Điều đáng nói hơn cả là: vẻ đẹp của Thác Bản Giốc – dù là thác chính nói riêng hay toàn bộ hai phần của thác, chỉ thể hiện một cách trọn vẹn khi được nhìn ngắm từ chính diện hay từ phía “bờ bên kia”, tức là bờ phía bắc (tả ngạn sông Quây Sơn). 
Từ bờ Nam (hữu ngạn), chúng ta không thể nhìn thấy toàn cảnh của hai phần thác. Nếu chịu khó đi ra tận doi đất ven sông ở hạ lưu, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy “thác ba tầng”, nhưng chỉ có thể nhìn nghiêng chứ không thể nhìn được chính diện (ảnh 3).
* Chúng ta cũng có thể thấy ngay được sự thật: ai sở hữu được bờ bắc (tả ngạn sông Quây Sơn) ( TQ ) sẽ nắm được thế thượng phong trong khai thác du lịch vì từ phía này, người ta có thể nhìn thấy toàn cảnh của thác (kể cả hai phần chính và phụ), có thể đi ngược dòng sông bằng thuyền bè đến tận chân thác, thậm chí có thể trèo lên tận đỉnh thác để ngắm cảnh, chụp ảnh, … Trong khi đó, người nắm giữ bờ phía nam ( VN ) không thể giúp du khách nhìn ngắm tất cả các vẻ đẹp của thác – trừ khi phải nhờ cậy phía bên kia.
Kể từ khi sở hữu được bờ bắc của sông Quây Sơn, nhà cầm quyền Trung Quốc đã đưa Thác Bản Giốc vào danh sách các điểm du lịch với cái tên mới là Đức Thiên (德天 , Detian).
* NẾU XÉT VỀ TÀI LIỆU THÌ CHÚNG TA HOÀN TOÀN CÓ ĐỦ CƠ SỞ để chứng minh toàn bộ Thác Bản Giốc là của Việt Nam. Chỉ xin dẫn chứng một số tài liệu sau đây:
1/ Trước hết là tài liệu của nhà địa lý học Lê Bá Thảo. Trong cuốn sách Thiên nhiên Việt Nam đã dẫn (ấn bản 1977), tại trang 78, có đăng tấm ảnh chụp cảnh Thác Bản Giốc nhưng chỉ chụp thác chính, tức thác ba tầng (xem ảnh 6 )
Điều đáng chú ý là dòng ghi chú bên dưới: “Trên sông Quây Sơn ở ngay biên giới”. Nhìn vào tấm ảnh, chúng ta thấy ảnh được chụp từ một doi đất nằm ở hạ lưu của thác chính phía bên bờ bắc (tả ngạn sông Quây Sơn). Đây chính là bằng chứng cho thấy ở tả ngạn của dòng sông phía dưới chân thác chính vẫn có một phần đất thuộc lãnh thổ Việt Nam. Ngày nay phần đất này đã chính thức bị cắt cho phía Trung Quốc cho nên người Việt không còn có thể đứng trên lãnh thổ của mình để chụp những tấm ảnh tương tự.
Cũng trong cuốn sách nói trên, có một bản đồ “Miền Đông-Bắc” đăng ở trang 41 (ảnh 7 ). Nhìn vào tấm bản đồ này, chúng ta thấy địa điểm Thác Bản Giốc nằm trong nội địa nước ta. Mặc dù đây chỉ là một tấm bản đồ vẽ tay, nhưng một khi tác giả (vốn là một nhà địa lý học nổi tiếng của miền Bắc) đã dám ghi vị trí của thác nước như thế, chắc hẳn ông phải dựa vào tài liệu địa lý chính xác cùng với sự kiểm tra thực địa. Vì vậy, có thể coi đây là một tài liệu đáng tin cậy.
2/ Tác giả Trương Nhân Tuấn ở hải ngoại tìm được một cuốn sách xuất bản năm 1895 có tên là Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si (Ở Bắc Kỳ và trên vùng biên giới Quảng Tây) của Thiếu tá Famin – Phó Chủ nhiệm Ủy ban cắm mốc biên giới Trung-Việt năm 1894. Tại trang 12 và 13 có đoạn viết về Thác Bản Giốc:

“Trong phần phía Bắc (của khu quân sự thứ hai, Deuxième Territoire), dòng sông xinh đẹp mang tên Qui-Thuận chảy ngang qua đó theo hướng Phủ Trùng Khánh. Đây là một phụ lưu trực tiếp của sông Tây Giang (Si-Kiang). Dòng sông này rộng 60 m, đi vào đất Bắc Kỳ bằng cửa Ai Lung và ra khỏi nơi đây (để vào đất Trung Hoa) tại một điểm gần đồn Trung Hoa có tên Nam-Ton, sau khi đã tưới một thung lũng rộng lớn cực kỳ phì nhiêu.

Hai ki-lô-mét trước khi rời đất Bắc Kỳ, dòng sông vượt qua một ghềnh đá và làm thành một thác nước tuyệt đẹp cao 40 m. Cột nước khổng lồ rơi ầm ầm xuống một bồn nước thứ nhất, từ đó nó nảy lên thành những chùm tia nước sủi bọt trên những bậc thang đá vôi nhẵn bóng. Vào mùa mưa, thác nước này trưng ra một dáng vẻ tuyệt vời, tiếng động của thác nước có thể nghe được từ xa và dội vào những vách núi nghe như tiếng sấm, trong khi những đám mây hơi nước hình thành ở vùng lân cận và tan ra thành một đám mưa nhỏ thật sự.”

Ảnh ( 8 ) : Trích đoạn trang 12 – sách của Famin: sông Quây Sơn được ghi là Qui-Thuan

Trong đoạn văn này, cần chú ý đến câu: “Hai ki-lô-mét trước khi rời đất Bắc Kỳ, dòng sông vượt qua một ghềnh đá và làm thành một thác nước tuyệt đẹp cao 40 m”. Câu này cho thấy “thác nước tuyệt đẹp” (tức Thác Bản Giốc) cách điểm dòng sông Qui Thuận (tức sông Quây Sơn) rời lãnh thổ Việt Nam khoảng 2 km. Nói cách khác, ở bờ trái (tả ngạn) của sông, có một dải đất dài khoảng 2 km thuộc lãnh thổ Việt Nam. Như thế trong khoảng 2km tính từ Thác Bản Giốc, đường biên giới không thể là trung tuyến của dòng sông như “cách thức phân giới” mà các nhà ngoại giao của hai nước đã
3/ Trong bài viết “Tấc đất tấc vàng” được công bố vào năm 2005, ông Hàn Vĩnh Diệp – một đảng viên ĐCS, cán bộ hưu trí, người đã từng nhiều năm công tác ở vùng Cao Bằng trước năm 1975, kể lại:

(…) Đến thác Bản Giốc, chúng tôi sang cả bên bờ Bắc sông Quây Sơn, vào sâu hơn một cây số vẫn là làng bản dân ta.”
4/ Trong bài báo đăng trên Vietnam Net đã được trích dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao – thành viên đoàn đàm phán, đã tiết lộ: trên cồn Pò Thoong vẫn còn “dấu tích trạm thủy văn xây dựng những năm 1960”.

Nếu xem lại “bị vong lục” (hay còn gọi là giác thư, memorandum) năm 1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam, chúng ta thấy có đoạn:

“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó.

Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.”
* Như vậy, trạm thủy văn này rõ ràng là do phía Việt Nam xây dựng, bởi vì trước năm 1976, cồn Pò Thoong vẫn còn thuộc về lãnh thổ Việt Nam và “chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó”.

Đây chính là một bằng chứng hùng hồn về chủ quyền của Việt Nam đối với cồn Pò Thoong.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và phá hủy trạm thủy văn ở nơi đó không thể che lấp được sự thật: trước đó Việt Nam là chủ sở hữu của cồn này, và đương nhiên là chủ sở hữu của toàn bộ Thác Bản Giốc. Toàn bộ hồ sơ về việc thành lập và quá trình hoạt động của trạm thủy văn chính là một bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam. Điều này chứng tỏ cột mốc 53 nằm sai vị trí, và việc nó bị dời đến địa điểm hiện nay là do phía Trung Quốc thực hiện sau khi đã chiếm cồn Pò Thoong.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------
HKbay vì các bạn đã quan tâm về vấn đề này xin tóm lược phần II Thác Bản Giốc để cùng các bạn nhớ rằng có một Bản Giốc thuộc Việt Nam và Hoàng Sa Trường Sa Tây Nguyên đã và đang mất dần về tay Trung Cộng





Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

NHÂN ĐỌC MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI

NHÂN ĐỌC MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI

關海

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Quan hải
Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền ;

Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên[1].
Phúc chu thùy tín dân do thủy ;
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật ;
Anh hùng di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Nguyễn Trãi

Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

Xứ Đàng Trong

Xứ Đàng Trong
This entry was posted on Tháng Năm 9, 2013, in Lịch sử Việt Nam and tagged Nguyễn Văn Kim. Bookmark the permalink. 1 Phản hồi
Xứ Đàng Trong
This entry was posted on Tháng Năm 9, 2013, in Lịch sử Việt Nam and tagged Nguyễn Văn Kim. Bookmark the permalink. 1 Phản hồi


XỨ ĐÀNG TRONG TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ TƯƠNG TÁC QUYỀN LỰC KHU VỰC
 PGS.TS. Nguyễn Văn Kim
1. NGUYỄN HOÀNG VÀ SỰ NGHIỆP KHAI MỞ ĐẤT ĐÀNG TRONG
Mặc dù còn có những ý kiến khác biệt nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng sau khi cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn kết thúc vào năm 1572 một thế cuộc phân cát Đàng Ngoài – Đàng Trong đã xác lập.  Từ mốc thời gian đó đến tháng 6-1786, khi quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, tiến đánh Phú Xuân rồi thừa thắng vượt sông Gianh, đánh tan quân Trịnh, làm chủ Thăng Long tháng Tám năm đó… lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn hai thế kỷ (214 năm) với nhiều thách thức và biến chuyển lớn.

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt



I/ Thuyết “Sở-Việt” của nguồn gốc dân tộc Việt và những đệ tử

Năm 1904, trong cuốn Le Cambodge xuất bản tại Paris, học giả người Pháp E. Aymonier đề xuất giả thuyết: “Tổ tiên những người ngôn ngữ Mon-khmer bắt nguồn từ những sườn núi phía nam Tây Tạng rồi di chuyển về phương nam theo hai hướng, hướng tây nam sinh ra người Munda ở Ấn Độ, hướng đông nam sinh ra các tộc Mon-khmer ở Đông Dương.” (1)

Từ thuyết này, vào đầu những năm 20 thế kỷ trước, L. Aurousseau khai thác thư tịch Trung Hoa, cho rằng: “Người Việt Nam trước ở Trung Hoa rồi mới di cư qua miền Bắc Việt Nam. Nước Sở thuộc giòng Bách Việt, lãnh thổ bao gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay, xuất hiện trước thế kỷ thứ XI trước CN. Ðến thế kỷ thứ IX trước CN, một ngành nước Sở di cư về phía Nam, dọc theo sông Dương Tử, định cư ở Chiết giang, thành lập nước Việt (Việt Vương Câu Tiễn) vào thế kỷ thứ VI trước CN. Năm 333 trước CN, nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy về phương Nam theo bốn nhóm: Nhóm Ðông Âu hay là Việt Ðông ở miền Ôn Châu (Chiết Giang). Mân Việt ở Phúc Kiến. Nam Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Lạc Việt ở phía Nam Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam. Các nhóm kể trên bị Hán hóa, chỉ còn lại nhóm Lạc Việt là tồn tại…”

“Những chúa dẫn các dân Việt di cư xuống miền Nam Quảng Tây và đến tận Bắc kỳ ngày nay về thế kỷ thứ IV và thứ III trước Gia tô là cùng một dòng họ với các vua Việt đến định cư ở Ôn Châu, Phúc Châu và Quảng Ðông vậy.”

”Vậy thời ta có đủ chứng cớ mà nói quyết rằng người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333, và tiên tổ ngàn xưa, về thế kỷ thứ VI trước Gia tô, đã ở miền tỉnh Triết Giang nước Tàu ngày nay, vào khoảng lưu vực con sông cùng tên ấy”(2).

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.




Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó - vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.
Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài" (Thực lục I, tr.531).



Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam



Hỏi một người Việt bình thường về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, câu trả lời mà người ta thường nghe là tổ tiên của chúng ta xuất phát từ Trung Quốc.  Ngay cả người có kiến thức rộng, có quan tâm đến dân tộc và văn hóa Việt cũng có những ý kiến tương tự.  Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn hóa Sử cương;  và Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, cũng từng cho rằng người Việt có nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc[1] hay từ Tây Tạng [2], dù họ có chút dè dặt và thận trọng trong phát biểu.  Gần đây, một người làm chính trị nhưng có quan tâm đến văn hóa Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng, trong Tổ quốc ăn năn, cũng cho rằng nước Văn Lang xưa kia là do người Trung Quốc sáng lập [3] ra. 



Bản đồ Đông Nam Á vào thời đại Băng Hà

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục

18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục
Nguyên Nguyên
http://e-cadao.com/Coinguon/18doihungvuong1yniem.htm#Có_bao_nhiêu_đời_vua_Hùng
Bài này được chuẩn bị viết cách đây cũng 3-4 tháng. Nhưng bận chuyện này chuyện nọ nên cứ bị đình hoãn hoài. Hay cũng không bằng hên. Chính nhờ ở việc trì hoãn đó, nhiều chứng liệu rất quan trọng liên tiếp đập vào mắt người viết. Đặc biệt qua những phim kung fu thời 60-70 của Shaw Brothers, ngày nay được tung ra lại thị trường dưới dạng DVD.
Đề tài chính của bài này: Chuyện 18 đời vua Hùng Vương có thật hay không? Con số 18 có chính xác chỉ 18 đời vua hay không? Hoặc giả được ghi sai chép trật? Từ 80 đời hoặc 180 đời, chép lộn ra thành 18 đời? Hoặc không có gì hết.
Sau đây xin quan sát 'chuyện 18 đời' dưới một góc độ tương đối mới, và sẽ cố gắng tránh đề cập đến những vấn đề liên hệ, như: trăm con, gốc gác Âu Cơ và Lạc Long Quân, Hùng Vương, Văn Lang, v.v. Xin để dành cho những dịp khác.
Viết về Họ Hồng Bàng, quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim [1] có chép:
'Cứ theo tục truyền thì Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.''

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Phải chăng đảng Cần Lao là viên độc dược?

Phải chăng đảng Cần Lao là viên độc dược?

Võ Trần Quảng
http://ngodinhdiem.net/ChinhTri/NDN/CanLao.html
Tôi, một thanh niên lớn lên tại nước ngoài từ lúc 2 tuổi. Nói thế là gián tiếp thưa với quý độc giả rằng tôi thuộc lớp tuổi thanh niên. Tôi tự nhận chưa có nhiều kinh nghiệm chính trị và rất mập mờ về tình hình trong nước dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam

Tôi bạo dạn viết lên bài này, để khơi mào cho nhiều người đồng lứa tuổi của tôi, trên dưới 40, nói về sự sống lại của đảng Cần Lao hôm nay, nếu có thật. Giả thiết rằng, bài viết của tôi, không cùng với quan điểm của các bậc trưởng thượng, những học giả, những chính trị gia, và nhất là những người cựu đảng viên Cần Lao Nhân Vị, thì chuyện đó cũng chẳng có gì phải quan tâm. Điều đáng cho quý Vị quan tâm, là lý do nào một thanh niên tuổi như tôi dám nghĩ và dám viết về một đảng mà hầu như người Việt thường bị dị ứng trong suốt gần nửa thế kỷ.
Trong lịch sử đảng phái chính trị hay tôn giáo, kể cả thế giới, đều có lúc thịnh mà cũng có lúc suy. Riêng nước ta, đảng Cần Lao Nhân Vị và các đảng phái khác cũng không đi ra ngoài luật thừa trừ đó.Với thời gian gần nửa thế kỷ, những chuyện vật đổi sao dời trước mắt, người Việt trẻ khi so sánh những thành quả và chứng tích đã đủ thẩm định công và tội của đảng Cần Lao đối với đất nước. Người Việt trẻ đã dám nêu lên Công và Tội của các đảng phái Quốc gia, hoặc để ca tụng điều tốt hoặc để vạch ra những điều xấu để làm kinh nghiệm.

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỒNG - CHƯƠNG CUỐI -

CHƯƠNG 11
BẢY NĂM SAU CUỘC PHONG TRẦN

Mộ Tổng Thồng Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi


Ngày 2-11-1965, ngày giỗ đoạn tang Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Chiến cuộc đã bắt đầu gia tăng. Chỉ một tuần lễ cuối tháng 10-1965 số quân nhân thương vong lên đến 1.600 người, tính trung bình mỗi ngày có 200 quân nhân hy sinh vì chiến cuộc.
Quốc lộ số I từ Long Khánh qua Phan Rang, Khánh Hòa, Phú Yên cho tới Quảng Trị hoàn toàn bị cắt đứt. Hàng Không trở thành phương tiện duy nhất nối liền Saigon với các tỉnh miền Trung và Cao Nguyên Trung Phần.
Công trình Ấp Chiến Lược bị phá hủy toàn bộ kể từ đầu năm 1964. Các địa điểm dinh điền trở thành hoang phế.
Số cố vấn quân sự Mỹ trước năm 1963 là 14.000 người và chỉ ở cấp Sư Đoàn thì cuối năm 1965, đã tăng gấp 2 lần hơn và có mặt khắp đơn vị Quân Binh Chủng từ cấp Tiểu Đoàn đến Chi Khu.
Đầu năm 1965, Tòa Đại Sứ Mỹ rất thỏa mãn vì đạt được ước vọng mà trước đó 2 năm tòa Đại Sứ này đã tìm mọi cách thuyết phục Tổng Thống Diệm chấp thuận nhưng ông Diệm quyết tâm từ chối.
Đó là việc Tòa Đại Sứ Mỹ thiết lập tại mỗi vùng chiến thuật một cơ cấu mệnh danh Cơ Quan Dân Sự Vụ do một giám đốc người Mỹ chỉ huy. Kể từ đây viên Giám Đốc này được coi là cố vấn dân sự Mỹ tối cao tại Đại Biểu Chính Phủ Tòa Hành Chánh Tỉnh đều có cố vấn dân sự Mỹ đảm trách cố vấn về hành chánh, an ninh, xây dựng nông thôn, viện trợ kinh tế Mỹ và kể cả giáo dục học chánh.
Tại trung ương, các Bộ đều thiết lập một cơ quan dành riêng cho viên chức cố vấn Mỹ kể cả ngành văn hóa giáo dục đến xã hội y tế.

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỒNG - CHƯƠNG 10 -

CHƯƠNG 10


TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay.
Lễ các Thánh (1-11) là một trong những lễ quan trọng của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo. Đối với Tổng Thống Diệm, ngày lễ này mang nhiều ý nghĩa và khi còn sinh thời, bao giờ ông cũng sửa soạn từ mấy ngày trước như xưng tội, cầm lòng… và làm một vài việc có ý nghĩa nhất để gọi làm bó hoa thiêng liêng dâng lên Thượng Đế.
Lễ Các Thánh đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo mộ đạo là một dịp sống đạo và cầu nguyện cho trở nên Thánh và mỗi ngày sống cho thánh thiện. Lễ này được lập nên để kính các vị Thánh vô danh của giáo hội.
Nói nôm na, cũng tương tự như ngày lễ kỷ niệm các chiến sĩ anh hùng vô danh. Tuy là ngày nghỉ song sáng 1-11, Tổng Thống Diệm phải tiếp Đô Đốc Felt cùng đi với Đại Sứ Cabot Lodge. Ông Nhu đã quá lạc quan và chủ quan. Kể cả trong giờ phút tướng tá họp ở Bộ Tổng Tham Mưu ông vẫn tin vào thế khả năng của mình. Chính vì sự lạc quan và chủ quan này cho nên những người thân cận nhất của anh em Tổng Thống Diệm cũng mắc bệnh lạc quan và chủ quan như vậy. Do đó, 10 giờ sáng 1-11 , Đại Tá Lê Quang Tung (Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt) cũng như Trung Tá khôi (Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Phủ Thống) đã vào Tổng Tham Mưu như thường lệ. Tất nhiên là trong đầu óc họ không đặt một chút hoài nghi nào và cũng vì thế nên không cần báo cáo lên thượng cấp. Các Tướng tá hội họp hàng tuần như vậy là một thông lệ.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỒNG - CHƯƠNG 9 -

CHƯƠNG 9
DIỄN TIẾN CỦA MỘT CUỘC BINH BIẾN
BA PHIÊN HỌP LỊCH SỬ

Kể từ phiên họp lịch sử tại Câu Lạc Bộ – Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày 20-8, các tướng lãnh đã chính thức nhảy vào cuộc. Cũng từ đó, ông Nhu chấp nhận đề nghị của Tướng Đôn để cho các tướng lãnh hội họp hàng tuần để thảo luận và trao đổi ý kiến về các vấn đề quân sự. Đó cũng là cơ hội vàng son giúp cho các tướng có cơ hội ngồi gần nhau mà trước đó họ hoàn toàn phân hóa. Mỗi ông Tướng là một ốc đảo biệt lập, không những không thuận nhau mà còn kình chống nhau vì quyền lợi và địa vị. Bây giờ thì ít nhất mỗi tuần các tướng đều có lý do hội họp mà không ai nghi ngờ gì cả. Đại Sứ Cabot Lodge vẫn bí mật liên lạc với một số tướng lãnh không qua ngả CIA mà do một số Tướng Tá cố vấn Mỹ. Đại Sứ Cabot Lodge trong cuộc gặp gỡ riêng với ông Nhu vào đầu tháng 9 tại Đà Lạt đã đưa ra 2 đề nghị:
1- Yêu cầu chính quyền VNCH tổng cải tổ và tiến dần lên một cơ chế dân chủ rộng rãi như nền dân chủ tự do của Mỹ.
2- Điều cấp thiết là chính quyền Ngô Đình Diệm phải cải tổ chính phủ có nghĩa là phải mở rộng chính phủ để các nhân sĩ quốc gia đối lập tham chánh.
Trước 2 đề nghị đó, Ông Nhu trả lời ông Lodge:
Về đề nghị 1:  VNCH đang có chiến tranh cách mạng của Cộng Sản và Việt Nam hiểu rõ chiến lược chiến tranh cách mạng của CS hơn bất cứ một quốc gia Tây Phương nào. Để đối phó với cuộc chiến tranh đó, VNCH không thể thực thi một nền dân chủ theo kiểu Mỹ. Nhưng theo ông Nhu, VNCH đang thực thi dân chủ từ hạ tầng thôn ấp qua tổ chức Ấp Chiến Lược – Truyền thống xã hội Việt Nam và thực tại miền Nam không thích hợp với dân chủ ở Mỹ và dân chủ ở xứ này phải hạ tầng đi lên chứ không thể chỉ có những cơ chế dân chủ kiểu Mỹ ở thượng tầng.
Về đề nghị 2: ông Nhu phúc đáp rằng: TT Diệm đang cứu xét – Tòa án quân sự tha bổng 29 nhân sĩ thuộc nhóm Caravelle ngày 13-7- 63 là một  thiện chí chứng tỏ chính phủ muốn dung hợp đối lập hợp pháp.

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỒNG - CHƯƠNG 8 -

CHƯƠNG 8
Thích Trí Quang
PHẬT GIÁO VÀ TỔNG THỐNG DIỆM
Nếu không có vụ tranh đấu 1963 và nói một cách chung thì Phật giáo chưa có xích mích nào đáng kể đối với chính quyền Ngô Đình Diệm. (Ngoại trừ những xích mích có tính cách địa phương xảy ra tại Bình Định vào những năm 1960-1961). Trước năm 1963 Phật Giáo Việt Nam chỉ là một tập thể bao gồm những cục bộ riêng rẽ. Mà những cục bộ này cũng không được tổ chức chu đáo (vì bản chất của Phật Giáo là phi tổ chức). Tuy vậy Phật Giáo Việt Nam cũng bị ảnh hưởng sâu xa bởi sắc thái địa phương bối cảnh địa dư và nhân sự.
Do đó, Phật giáo đã thể hiện rõ rệt qua ba “sắc thái sinh hoạt”: Phật Giáo Miền Nam, Phật giáo Miền Trung và Phật Giáo di cư. Phật giáo Miền Nam gồm Hội Phật Học Nam Việt (Cư sĩ Mai Thọ Truyền và Chùa Xá Lợi), Giáo Hội Tăng Già Việt Nam (Thượng Tọa Thích Thiện Hoa chùa Ấn Quang), Phật Giáo nguyên thủy (nhóm Tiểu Thừa chùa Kỳ Viên) và một số hội đoàn lẻ tẻ khác. Phật Giáo miền Bắc di cư có độ 20.000 người nhưng không tạo thành một cộng đồng. Phần nhiều Phật Tử đã đi di cư với tư cách cá nhân và bằng phương tiện cá nhân. Trong số 200.000 người có vào khoảng 50.000 sống rải rác ở các trại định cư. Khoảng 50.000 người sống tại các thị xã. Còn lại 100.000 người qui tụ tại Sài Gòn. Phật Giáo di cư tại Đô Thành đại cương có thể chia thành hai nhóm, nhóm thuộc chùa Phổ Quang và Nghĩa Trang Bắc Việt (Thượng Tọa Thích Trí Dũng). Nhóm đa số thuộc chùa Từ Quang (Thượng Tọa Thích Tâm Châu).

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG - CHƯƠNG 7 -

CHƯƠNG 7

Norodom_Sihanouk_(1983)

CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGƯỜI MỸ
Sau vụ biến cố đẫm máu tại Đài Phát Thanh Huế 4 ngày, ông Nhu đã cho nổ một trái bom làm rung động ngoại giao Mỹ. Khi ông tuyên bố với phái viên tờ Washington Post: “Cho đến lúc này Chánh Phủ VNCH không thấy cần thiết một số cố vấn quân sự quá lớn, cho nên VNCH có thể yêu cầu chính Mỹ cho rút một nửa số cố vấn quân sự Mỹ, tức là chỉ nên duy trì khoảng 7, 8 ngàn là đủ”. (Washington Post 12-5-1963) Cũng vào thời gian này ông Nhu nói với GS Bửu Hội: “Đã đến lúc mình phải xét lại sự hợp tác và viện trợ của Mỹ. Anh có thể giúp tôi tìm sự ủng hộ thân hữu của Pháp và các quốc gia Bắc Phi. Trong tình thế này chúng ta phải đi đến một modus vivendi thỏa ước với Bắc Việt”.
Sáng chủ nhật hôm ấy ông Nhu cũng lập lại như vậy với một vài cộng sự viên thân cận. Nhưng ai nấy đều cho rằng con đường mà ông Nhu sắp đi tới nguy hiểm. Nhưng ông Nhu vẫn chủ quan cho rằng kế hoạch Ấp Chiến Lược và đường lối ngoại giao mới qua trục Ba Lê và Á Phi sẽ tạo cho miền Nam đủ tư thế chấp thuận thỏa ước với miền Bắc. Nhưng ông Nhu quên mất rằng với 16000 cố vấn Mỹ và mỗi ngày Mỹ phải chi trên một triệu đô la cho cuộc chiến tại Việt Nam (63) thì không dễ dàng gì Mỹ có thể để cho ông Nhu tự do hành động khác với đường lối của họ

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG - CHƯƠNG 6 -

CHƯƠNG 6



TRƯỜNG HỢP BÀ NGÔ ĐÌNH NHU
Bà Ngô Đình Nhu có điệu bộ vóc dáng của một minh tinh màn bạc hơn là một phu nhân theo cốt cách Đông Phương. Trong 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm, Bà được suy tụng như một Đệ Nhất Phu Nhân. Chính cái danh xưng này đã không thuận tai và làm cho dân chúng đàm tiếu không ít. Ông Nhu tuy là Cố Vấn chính trị Phủ Tổng Thống nhưng trên danh nghĩa ông không có một vị thế công quyền. Ông Tổng Thống sống đời sống độc thân mà người em dâu được “suy tôn” như Đệ Nhất Phu Nhân thì điều đó quả là chướng tai vì nó không chính danh và hợp với chữ Lễ.
Nhưng từ nguyên do nào đã đưa bà Nhu lên địa vị một người đàn bà “Uy Quyền“, bao nhiêu khách công hầu của chế độ từng ra luồn cúi và coi Bà như một nữ lãnh tụ? Ai phong cho bà Nhu tước vị Đệ Nhất Phu Nhân? Không ai phong cho bà cả. Nếu có thì chỉ có cơ quan Thông Tin thỉnh thoảng qua một vài bản tin, qua bích chương đã “bốc” bà lên hàng tột đỉnh công danh đó.
Xin trở lại quá khứ: Tháng 4 -1955 khi Saigon đang ngút ngàn khói lửa, Bình Xuyên quyết ăn thua đủ với chính quyền, gia đình bà Nhu vẫn còn ở tại căn nhà của BS Cao Xuân Cẩm, trước dưỡng đường Saint Pierre Saigon.

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG - CHƯƠNG 5 -

CHƯƠNG 5

Ngô Đình Cẩn

TỪ CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐẾN CÁI CHẾT CỦA NGÔ ĐÌNH CẨN 
Từ một thế kỷ nay và trên 25 năm qua, Việt Nam trở thành nghĩa địa của những cái chết tức tưởi, vô lý. Song cái chết của một Tổng Thống như ông Ngô Đình Diệm, tất nhiên không phải là một sự vô lý đơn giản như người ta nghĩ. Nó đã được sửa soạn tinh vi, vì làm thế nào để giết một ông Tổng Thống đã cầm quyền 9 năm không phải là một chuyện “tùy hứng”.

NGƯỜI EM ÚT
Quanh cái chết của TT Diệm đầy dẫy những sự vô lý trên nông nổi bi thảm. Sau khi ông chết đi, lại còn bao nhiêu sự vô lý khác. Chữ vô lý ở đây xin được hiểu theo sự suy đoán trong bản chất và tinh thần Việt Nam vốn trọng tình cảm, sự trung hậu va lễ nghĩa.
Một trong những sự vô lý đó, là cái chết của ông Ngô Đình Cẩn – Người em thứ 5 của TT Diệm. Cái chết này đã được công khai hợp pháp hóa vì ông Cẩn được ra Tòa xét xử. Nếu bị công tố viện gay gắt buộc tội thì cũng chả có gì gọi là vô lý. Khi đảo chánh bùng nổ, thì tướng Đỗ Cao Trí đang là Tư Lệnh Vùng I Chiến thuật. Ông Tướng này là người có thẩm quyền duy nhất tiếp thu toàn vẹn những gì có ở bên trong căn nhà tổ ấm của gia đình họ Ngô. Ông Cẩn tưởng đã thoát thân… dù tấm thân chỉ còn hai bàn tay trắng. Trong cuốn Vietnam Crisis, hai tác giả Stephen Pan và Dieaniel Lyons đã viết như sau: “Ông Cẩn lúc đầu tỵ nạn tại nhà Dòng Chúa Cứu Thế. Nhưng những người từng được ông giúp đỡ sợ rằng: nếu chứa chấp ông, sẽ có thể bị các nhà lãnh đạo đảo chánh nghiêm trị nên ông Cẩn phải qua Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Huế xin trú ẩn. Tòa Lãnh Sự này phải xin chỉ thị của tòa Đại sứ Mỹ tại Saigon. Đại Sứ Henry Cabot Lodge trả lời rằng Tòa Lãnh Sự không được phép cho ông ta tỵ nạn, đồng thời ra lệnh phải đưa ngay ông Cẩn vào tòa Đại Sứ. Nhưng khi ông Cẩn đến Saigon tòa Đại Sứ Mỹ liền trao ông Cẩn cho HĐQNCM xét xử. Theo nguồn tin có thẩm quyền mà hai tác giả được biết, Tòa Đại Sứ mỹ đã hội ý với HĐQNCM và buộc HĐ phải cam kết 3 điều kiện thì Tòa Đại Sứ Mỹ mới dẫn độ:
1) Phải được xét xử minh bạch.
2) Không bị đối xử tàn nhẫn.
3) không bị bắn hoặc bị giết.

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG - CHƯƠNG 3 -

CHƯƠNG 3
Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ 
TRONG THẾ GIỚI CỦA QUYỀN UY VÀ CÔ ĐƠN
CÂU HỎI GIAO DU
Sau ngày đảo chánh, một số đông các sĩ quan thuộc LĐLBPVPTT đều bị bắt giữ. Mấy Sĩ Quan Tùy viên đều phải trả lời một số câu hỏi như: “Có thấy những người đàn bà nào vào phòng riêng của TT Diệm? TT Diệm có “giao du” với bà Nhu không?” Đại Úy Lê Công Hoàn, một sĩ quan tùy viên phục vụ bên cạnh TT Diệm 5 năm đã trả lời trên giấy tờ: “Tôi quả quyết không bao giờ có chuyện như vậy nếu có mà tôi bảo là không tôi xin chịu mất đầu”.
Vậy thì sự tương quan trong nếp sống gia đình thường nhật giữa vợ chồng ông Nhu và TT Diệm ra sao?
TT Diệm ở trong một căn phòng riêng, ngủ trên tấm đi văng gỗ.
Mỗi tối, ông già Ẩn chăng màn, sáng sớm lại tháo gỡ. TT Diệm thường dùng bữa ngay trong phòng ăn này. Ông vẫn ăn một mình trong suốt 9 năm, trừ những buổi tiệc tùng dạ hội. Đối với gia đình ông Nhu thì TT Diệm sống một thế giới riêng. Rất ít khi TT Diệm ăn cơm chung với gia đình ông Nhu. Hoặc khi sang phòng ông Nhu dùng cơm thì TT Diệm dùng món ăn riêng của ông. Trong Dinh có hai đầu bếp. Một đầu bếp của vợ chồng ông Nhu. Một đầu bếp của TT Diệm. Đầu bếp của TT Diệm thì rất nhàn hạ. Sáng ông điểm tâm bằng cháo trắng với dưa chua hoặc cá thu kho mặn. Trưa ông Tổng Thống không mấy khi ăn cơm mà chỉ dùng trái cây hoặc rau xà lách trộn dầu hoặc súp lơ, cải bắp luộc. Bữa chính của ông là bữa tối. Thứ cơm mà ông dùng là gạo lứt đỏ.
Món ăn của ông không thay đổi qua mấy món như mắm ruốc, dưa thịt kho, cá kho, cải xào. Tóm lại ông ăn uống như người trung lưu của xứ Quảng Bình hay Huế.
Thông lệ, mỗi sáng sĩ quan tùy viên đem vào phòng một xấp báo đủ loại. Ông vừa đọc vừa ăn điểm tâm.

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2017

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG - CHƯƠNG 4 -

CHƯƠNG 4


Ngô Đình Nhu
TỔNG THỐNG DIỆM VÀ CÔNG GIÁO
Chúng tôi đơn cử một thí dụ về “mặc cảm Công Giáo” đối với TT Diệm. Vào lần cải tổ Chính Phủ năm 1961, ông Nhu được ủy thác tìm một nhân vật giữ chức vụ Bộ Trưởng Tư Pháp.
Ông cho mời BS Tuyến bàn luận và ngỏ ý:
- Tôi muốn mời một Luật Sư.
Suy nghĩ một lát, ông nói:
- Giới Thẩm Phán thì có chuyên môn nhưng “Sans caractère politique”. Bác Sĩ Tuyến đáp: Trong hoàn cảnh này, ông Cố Vấn nên chọn người trong giới Thẩm Phán.
Ông Nhu băn khoăn: khó lắm. Ông Sĩ đó cũng là Thẩm Phán. C’est comme çà! BS Tuyến trình bày: Giới Thẩm Phán có nhiều người rất khá.
Ông Nhu hỏi:
- Ai đây? Liệu có làm gì được không hay cũng chỉ như ganger quelque chose!
BS Tuyến đề nghị: Phía người Bắc tôi thấy có ông Tòa Nguyễn Văn Lượng. Phía người Nam có ông Tòa Trần Minh Tiết.