NGUYỄN TRÃI
(1380-1442)
VÀ TÔI, MỘT HẬU
SINH
Tôi có lý do để kết thúc chương viết nền thi ca thời Trần với Nguyễn
Trãi, dù bài thơ cuối cùng mà ông viết thì nhà Trần đã diệt vong gần nửa thế
kỷ. Bởi vì hơi thơ của ông dù được viết bằng một quan điểm Nho giáo, nhưng mà
là một thứ Nho giáo chỉ là phương tiện của đạo Bụt chứ không phải là một thứ
Nho gia hãnh tiến như Lê Thánh Tôn.
Tiếng Nôm tản mạn, bàng bạc trong
cuộc sống, trong ca dao, suốt một thời
gian dài trong bóng đêm của thời kỳ sống trong sự áp bức. Rồi khi những hạt
giống tự chủ được gieo mầm thì văn hóa bắc phương vẫn còn cái mộng làm mưa làm
gió. Hơn bốn trăm năm giành lại giang sơn. Độc lập dân tộc được khẳng định, độc
lập văn hóa đã hình thành từ thời dựng nước đã được củng cố và phát triển sau
một thời gian dài chao đảo, nhưng vẫn phải đi trên con thuyền Hán Việt. Các vua
Trần, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Thuyên, Huyền Quang… từng bước đặt những viên
gạch mang tính nền móng suốt 200 năm. Nhưng mạnh mẽ nhất là Hồ Quý Ly khi đưa
chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của nhà nước. Nhưng tiếc thay…
Giờ đây tiếng Nôm dồn tụ lại để làm nên Nguyễn Trãi. Dưới
ngọn bút tài hoa của ông, thơ Nôm lên tiếng thật mạnh mẽ. Một sự chuyển đổi đến
kinh ngạc và đầy dũng khí.
Danh chăng chuốc, lộc chăng cầu
Được chẳng mừng, mất chẳng âu
Có nước nhiễu song, non nhiễu cửa
Còn thơ đầy túi, rượu đầy bầu
Người tri âm ít, cầm nên lặng
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu
Mấy kẻ công danh nhàn lẳng đẳng
Mồ hoang, cỏ lục thấy ai đâu.
Nguyễn Trãi