Người theo dõi

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Chiến tranh Biên giới 1979 trong SGK

Chiến tranh Biên giới 1979 trong SGK đã bị cắt từ 4 trang xuống 11 dòng

http://doilinh.net/chien-tranh-bien-gioi-1979-trong-sgk-da-bi-cat-tu-4-trang-xuong-11-dong.dl/amp


Trong suốt chiều dài lịch sử, đã rất nhiều lần dân tộc Việt Nam phải chiến đấu, hi sinh chống lại sự xâm lăng của quân xâm lược phương Bắc. Nhưng cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 lại vẫn đang có một khoảng trống ngay trong sách giao khoa Lịch sử phổ thông khác hẳn những cuộc kháng chiến oanh liệt khác của dân tộc ta…
Không thể lãng quên Chiến tranh biên giới 1979 (ảnh: Mạnh Thường)

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

NGUYỄN TRÃI (1380-1442) VÀ TÔI, MỘT HẬU SINH


NGUYỄN TRÃI (1380-1442)
VÀ TÔI, MỘT HẬU SINH

Tôi có lý do để kết thúc chương viết nền thi ca thời Trần với Nguyễn Trãi, dù bài thơ cuối cùng mà ông viết thì nhà Trần đã diệt vong gần nửa thế kỷ. Bởi vì hơi thơ của ông dù được viết bằng một quan điểm Nho giáo, nhưng mà là một thứ Nho giáo chỉ là phương tiện của đạo Bụt chứ không phải là một thứ Nho gia hãnh tiến như Lê Thánh Tôn.
            Tiếng Nôm tản mạn, bàng bạc trong cuộc sống,  trong ca dao, suốt một thời gian dài trong bóng đêm của thời kỳ sống trong sự áp bức. Rồi khi những hạt giống tự chủ được gieo mầm thì văn hóa bắc phương vẫn còn cái mộng làm mưa làm gió. Hơn bốn trăm năm giành lại giang sơn. Độc lập dân tộc được khẳng định, độc lập văn hóa đã hình thành từ thời dựng nước đã được củng cố và phát triển sau một thời gian dài chao đảo, nhưng vẫn phải đi trên con thuyền Hán Việt. Các vua Trần, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Thuyên, Huyền Quang… từng bước đặt những viên gạch mang tính nền móng suốt 200 năm. Nhưng mạnh mẽ nhất là Hồ Quý Ly khi đưa chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của nhà nước. Nhưng tiếc thay…
Giờ đây tiếng Nôm dồn tụ lại để làm nên Nguyễn Trãi. Dưới ngọn bút tài hoa của ông, thơ Nôm lên tiếng thật mạnh mẽ. Một sự chuyển đổi đến kinh ngạc và đầy dũng khí.
Danh chăng chuốc, lộc chăng cầu
Được chẳng mừng, mất chẳng âu
Có nước nhiễu song, non nhiễu cửa
Còn thơ đầy túi, rượu đầy bầu
Người tri âm ít, cầm nên lặng
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu
Mấy kẻ công danh nhàn lẳng đẳng
Mồ hoang, cỏ lục thấy ai đâu.
Nguyễn Trãi

Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2017

Vài ngẫm nghĩ về bài Thơ Cổ Thời Bắc Sơn

Vài ngẫm nghĩ về bài Thơ Cổ Thời Bắc Sơn (7000-1000 tr.c.n)
“ Khoảng trên 40 năm trứơc đây, nhà giáo Sử địa An Phong Nguyên Vân Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một làng Mường trong rừng Ban Mê Thuột di tản vào từ rừng Thanh Hóa.” (BS Nguyễn thị Thanh ) (1)
 
1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ (bồn = vồn = luống; cổ = củ)
2. Ðậu ba lá thì bừa un (bừa = vừa; un = vun = đắp)
3. Gà mất mạ thì lâu khun (mạ = mẹ; khun = khôn)
4. Gái thiếu trai thì thậm khổ
5. Trai thiếu gái thì thậm khổ.
6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ.
7. Ðất sinh giếng thì sinh mo (mo cau làm gàu múc nước).
8. Người sinh Oa thì sinh tui (Oa = O = cô, chị, dì).
9. Oa một miềng thì khôn đặng.
10. Tui một miềng thì khôn đặng. (miềng = mình)
11. Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô = vô).
12. Mây trên trời hắn ún lại (ún = tụ)
13. Oa với tui cùng cuốn lại.
14. Tui với Oa cùng cuốn lại.
15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại.
-----------------------------------------------

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

TÔI ĐỌC CHỮ TÀU BẰNG TIẾNG VIỆT

TÔI ĐỌC CHỮ TÀU BẰNG TIẾNG VIỆT

Mấy hôm nay, trên mạng cứ ồn ào về việc cái gọi là bộ GD-ĐT đưa tiếng Háng vào chương trình GD trung học phổ thông.
Kẻ phản đối (trong đó có một số vì giận Tàu Khựa) người đồng tình (trong đó có một số vì lỡ liếm đít Tàu). Ai cũng gân cỗ lên cãi nhau ngậu xị và đem trưng ra hàng loạt cái học hàm, học vị (do mày mò kiếm được hay mua được) để đảm bảo cho lập luận của mình.
LTD tui thì dốt “banh nhà lồng chợ” mà lại mang cái bệnh khùng thơ, đọc hết thơ viết bằng chữ quốc ngữ còn lan man đọc qua thơ chữ Tàu (do người Việt hồi xửa hồi xưa làm) và bổng dưng cảm thấy mình “sống nhăn”. Và rốt cục chả biết là mình thuộc loại nào, dù rằng mình rất dễ nổi xung khi nghe tới hai tiếng Tàu Khựa, nổi xung đến muốn ra đồn Công An mượn trái lựu đạn rồi rút chốt chạy vào tòa đại sứ, lãnh sự hay các Công Ty Tàu ở Việt Nam để cưa hai.
Giận thì nói vậy chớ già rùi còn làm ra cái nước non gì. Rốt cuộc thì ghét của nào trời trao của đó. Thấy mấy bài thơ của các cụ xưa thì không đọc không được. Rồi LTD tui dính vào Bắc Hành tạp lục. Đâu đọc thử coi cụ Tiên Điền khi đi sứ viết gì?
Và khi đọc một hồi, LTD nhớ cách đây mấy ngày có ai đó đặt ra câu hỏi tại sao cụ Tiên Điền không viết khốc (哭 = khóc hu hu) mà viết khấp (泣 = khóc không ra tiếng, khóc thầm) trong câu kết của bài Độc Tiểu Thanh Ký
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Và với lý do này các ngài GS-TS lập luận là nên dạy tiếng Hán ở bậc phổ thông trung học để làm tối mò, à quên, trong sáng tiếng Việt. (phen này thì mấy tay viết tự điển có mà húp cháo rùa) Cứ học tiếng Háng là tiếng Việt sáng trưng ra, theo kiểu Mã Viện cho quân lính cởi truồng khi tham chiến với đoàn nữ binh của Trưng Nữ Vương là chắc thắng.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Thi Xã Bích Động - PHẠM TÔNG NGỘ -


Phạm Ngộ 范悟 cũng thường gọi là Phạm Tông Ngộ  范宗悟  hiệu Liêu Khê, sinh và mất năm nào chưa rõ. Người hương Kính Chủ huyện Giáp Sơn, phủ Tân Hưng, nay thuộc tỉnh Hải Hưng, là anh ruột của Phạm Mại. Hai anh em là học trò Nguyễn Sĩ Cố. Ông nguyên họ Chúc tên Kiên sau cùng em là Phạm Tông Mại theo Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Thái Thượng Hoàng cho rằng họ Chúc không phải là họ lớn nên đổi làm họ Phạm. Còn Kiên thì lại trùng với tên của Phán thủ Huệ Nghĩa nên đổi làm Ngộ. (về niên đại của ông xem phần Phạm Tông Mại). Có một chi tiết về thân thế “gia đình văn học” của anh em ông được hé lộ trong bài thơ “Du Phù Thạch nham nãi tiên tổ du hành chi địa chu trung tác”Cha và anh em ông đuợc ví như là Tam Tô: (Tô Tuân (cha); Tô Thức, Tô Triệt (con)
Pham Ngộ tính tình ngay thẳng, làm quan nổi tiếng thanh liêm. Bắt đầu vào triều với chức Thị nội học sinh, dưới triều Trần Minh Tông (1314-1329) ông giữ chức Tri thẩm hình viện sự, sau được thăng Tả ty lang trung rồi lại thăng Tri chính sự, đồng tri thượng thư tả ty sự.
Về thơ văn, sáng tác của Phạm Ngộ hiện còn rất ít, tuy vậy cũng có thể nhận ra ở ông một ngòi bút tả cảnh và trữ tình tinh tế, một thi vị man mác của người hiểu rõ ý nghĩa cuộc đời. Thơ ông rất cô đọng, nhiều ý ít lời.


Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Thi Xã Bích Động - Nguyễn Ức -

Nguyễn Ức 

Nguyễn Ức (阮億, ? - ?), hiệu: Lan Trai; là nhà thơ và quan triều Trần trong lịch sử Việt Nam.
Chưa rõ thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Ức, chỉ biết ông từng làm quan Hàn lâm học sĩ dưới triều vua Trần Minh Tông (ở ngôi: 1314-1329), có tham gia thi xã Bích Động do Trần Quang Triều  sáng lập, và còn để lại 20 bài thơ chữ Hán trong Việt âm thi tập  và Toàn Việt thi lục.
Qua thơ, người ta biết Nguyễn Ức thường hay xướng họa với Trần Quang Triều. Và sau khi ng
ười bạn này mất, ông đã lo việc biên tập thơ văn của bạn. Bài "Biên tập Cúc Đường di cảo cảm tác" của ông đã nói lên điều ấy.
Mặc dù số thơ của Nguyễn Ức còn lại không nhiều, nhưng ông cùng với Trần Quang Triều và Nguyễn Sưởng họp thành một dòng thơ riêng thời Trần.
Đó là những con người mang trong lòng nỗi thất vọng về sự suy thoái của vương triều này. Song riêng ở Nguyễn Ức, ông không có sự gắng gượng hoặc che giấu mình như người khác.

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

VÀI CẢM NGHĨ VỀ MỘT BÀI THƠ CỦA CỤ NGUYỄN TRÃI BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”




BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”

Cây Chuối
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu? Gượng mở xem.
Nguyễn Trãi

Đọc thơ Nôm của người xưa; cảm thụ đã khó, mà khi cảm thụ đã khó rồi thì chuyện hiểu được những điều tổ tiên nói lại càng khó hơn. Đã thế còn gặp những từ cổ và những cú pháp lạ.
Bài thơ trên có lẽ là một trong những bài thơ như vậy của cụ Ức Trai. Và hầu hết những người đọc đều bỏ qua vì… nhức đầu. HRG cũng không ngoại lệ.