Người theo dõi

Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

TÉ ÊNG



Vừa mới dắt xe ra đầu hẽm thì con dế lại reo. Chà chắc tay nào rủ uống cafe đây. Alô, tôi nghe. Mày hả. Ừ. Đi thăm thằng Kỷ, nó té xe. Nó mà té xe, ai tông vào nó thì có. Chẳng ai tông cả, nó té êng thôi. Mày xạo, làm sao mà té êng được, hổng lẽ nó xỉn. Thôi đi, tao chờ mày ở cổng phòng cứu cấp. Cúp máy.
Thế là tôi lại chui vào bệnh viện. Đúng là Kỷ nó té êng thật. mà suy cho cùng thì chẳng phải nó té êng. Cái bọc ny lông quái quỷ bay tấp vào mặt nó. Thế là rầm, nằm một đống. Ôi bạn tôi, tên sao người vậy thế mà… vẫn té. Nghe thằng bạn kể lại như thế
Nhìn thằng bạn kỷ tính của tôi, đầu cỗ, tay chân băng trắng vừa thấy tội tội vừa thấy mắc cười. Cái bọc ny lông quái quỷ từ đâu không biết tung cánh bay lên đáp vào khuôn mặt nghiêm nghị của nó. Chỉ có vậy mà nó té. May mà không có gì, chỉ là tróc nước sơn hơi nhiều; sơn xe và cả sơn người.  Mà tại sao cái bọc tự nhiên lại bay lên cao thế nhỉ? Hắn phều phào nói, chắc là tại chiếc xe khách chạy quá nhanh hay là tại một quý khách nào đó từ trên xe quăng xuống hổng chừng.

Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

TẤM VÉ SỐ RÁCH

TẤM VÉ SỐ RÁCH
                      

Trên con đường chạy dọc theo khu lấn biển có vô số hàng quán. Con đường đến lạ lùng. Ban ngày chỉ lác đác các xe tải chở cá hoặc vật liệu xây dựng, còn nếu không thì rất yên ắng. Nhưng khi phố đã lên đèn thì thì có khối xe gắn máy đan qua lượn lại rồi biến đi đâu đó. Những nơi đâu đó, thì thôi là thượng vàng hạ cám từ những quán nhậu, nhà hàng, quán café nhạc... Không ít trong các quán đó có một số quán giải khát không cần thức uống. Trong loại quán này có quán Hằng, lấy theo tên của bà chủ. Xuất thân từ là một tiếp viên nhà hàng. Bà chủ quán bước vào thời quá date. Quá date vì tuổi tác, quá date vì trọng lượng cơ thể dư dã, hậu quả của việc nốc bia thay nước. Bà chủ quán có một thời lừng danh vì có dáng đi chậm rãi, từ tốn, hơi nghiêng nghiêng với cái mỹ danh mà giới chơi khuya đặt cho “Hằng dancing“ dù chưa bao giờ biết nhảy đầm. Nhưng bây giờ nó cũng đã trở thành quá khứ mịt mờ, dù thời gian quên lãng chẳng lâu la gì. Cái đã trở thành quá khứ ấy bắt đầu khi từ cái mỹ danh Hằng Dancing biến thành Hằng Hủ lô. Quán của bà chủ có cái đặc điểm là được trang trí bằng hàng trăm cây bạch đàn bao quanh, lúc nào cũng rì rào tiếng gió, trên một diện tích khá oách, hơn năm trăm mét vuông. Trải qua bao sóng gió bởi các đợt càn quét của công an và thông tin văn hóa. Quán vẫn tồn tại và càng lúc càng đông khách hơn, nhưng lạ ở chỗ là ít ồn ào và lời lãi nhiều hơn. Nhiều khi Hằng ngẫm nghĩ và không hiểu tại sao mình lọt qua một cách ngon ơ như thế.
             
              
Làn nước lạnh ngắt giữa đêm khuya, đã rửa sạch những phấn son và hàng trăm thứ hằm bà rằn trên người của Hằng, kể cả những ước mơ cháy lòng. Nhưng có một thứ nó không bao giờ rửa sạch. Đó là mùi bia, rượu, khói thuốc lá và nỗi nhục nhằn. Tròng vào người cái quần lót, Hằng cứ để trần như vậy ra khỏi phòng tắm, vừa đi Hằng vừa cười thầm với ý nghĩ “ Thằng cha nào mà nhìn thấy cái thân hình ngót nghét bảy chục ký lô với độc cái quần lót,  mà cao có một mét năm lăm thì không nhồi máu cơ tim cũng tai biến mạch máu não”.
Đã bước sang ngày mới. Yên ắng của đêm khuya không làm giảm đi cái oi nồng của khí hậu tháng tư. Có lẽ trời sắp mưa. Bổng dưng nỗi nhớ nhung cái làng quê nghèo khó của Hằng tràn về. Tưởng đâu xa lâu quá sẽ quên luôn. Ai dè, mỗi khi màn đêm trở lại thì nỗi nhớ thêm đầy, thêm sâu. Không biết bây giờ ảnh làm sao? Vợ con chắc cũng đã đùm đề rồi. Tiếng thở hắt ra của Hằng hòa theo một thoáng gió lay lay qua cửa sổ. Hằng nhìn lại cái thân thể dư thừa thịt mỡ của mình mà ngao ngán. Bộ ngực đồ sộ chưa có dấu bàn tay con nít, nhưng bàn tay của người lớn thì chẳng biết là cơ man nào mà đếm, mà nhớ nổi. Những người giúp việc đã về nhà từ lâu, họ cực khổ, chẳng son phấn nước hoa, bia rượu. Nhưng bù lại họ có một nơi để mà về. Các tiếp viên cũng lần lượt rời khỏi quán đi về một nơi nào đó không định trước cũng như những bất trắc mà họ gặp phải. Cái định trước duy nhất mà họ có là đôi mắt thâm quầng vì nhiều thứ và từng lát mỏng sức khỏe bị bào mòn bởi những sinh hoạt trác táng bất kỳ. Không định trước cũng là một tương lai dành cho những con người trong cái quán này và cả cho những người thường hay lui tới. Chua xót thay cái không định trước ấy chưa bao giờ là một cú trúng số lô đặc biệt. Xác xuất của nó là không phẩy không không một, trên vô cực. Trong khi mua vé số thì xác xuất là một trên trăm ngàn. Mua vé số xác xuất cao như vậy, mà ngày nào cũng một, hai chục tấm, chưa bao giờ Hằng trúng được lô nào coi cho được, còn với người khác thì chỉ nghe chớ chưa thấy. Nhưng vẫn cứ mua như mua một niềm hy vọng mong manh đã nhạt nhòa theo thời gian. Hằng chợt nhận ra, dù đây là nhà của mình, nhưng Hằng chưa bao giờ có cảm giác nó là của mình. Bởi vì nếu là của mình thì tại sao? Tại sao giờ này Hằng chưa được ngủ. Trời tháng tư vẫn cứ oi oi dù đã hơn nữa đêm. Mệt mỏi rã rời nhưng đôi mắt Hằng ráo hoảnh. Cứ để cho chín mươi bảy phần trăm diện tích da tiếp xúc thoải mái với không khí. Hằng lục tủ lạnh làm một ly café đá. Mang ly café đến cái ghế sofa, vói tay mở cái quạt máy. Hằng nằm trên ghế nhấm nháp vừa nghe những cảm giác của làn gió phất qua phất lại đều đều trên da. Bổng dưng Hằng thèm thuồng cái làn gió mang mùi mồ hôi của mình hắt đi từ cái nón lá mỗi khi cô quạt, mà hồi còn ở trong quê Hằng thường hay làm mỗi khi đi đâu đó ngoài nắng. Nhanh thật, mới đó mà đã hơn mười năm rồi. Gió của quạt điện càng lúc càng làm cho làn da được tiếp xúc với nó lạnh ra, nhưng lại đẩy cái oi nồng sang khu vực mà cơn gió không tới được, mồ hôi lại rịn ra, nhớp nháp dưới lưng và ở những nơi khuất gió làm cho Hằng khó chịu. Cô quay người lại, cái ghế sofa oằn người trước sự chuyển động của cái cơ thể đồ sộ. Tiếng cọt kẹt là Hằng bực bội. Nếu không biết dành dụm, nếu không biết cách trấn lột những thằng cha lắm tiền rửng mỡ, để lập ra cái quán này thì Hằng không biết phải sống ra sao? Khi mà cái vốn tự có càng ngày càng nâng cấp thảm hại (?). Đã lâu lắm rồi nguồn vốn ấy không sinh lãi, không sinh lãi để nuôi thân, cũng không sinh lãi để có một niềm vui trong ân ái, dù chỉ là những cuộc ái ân tạm bợ chiều theo đòi hỏi của bản thân. Những giọt nước mắt nào đó còn sót lại bổng dưng lại ứa ra với ý nghĩ này. Ôi mấy giọt nước mắt cộng lại chừng vài mililít mà sao nó cay muốn nổ con ngươi. Hằng nấc lên. Sau một thoáng chập chờn, giờ đây quá khứ ùa về

Út Quẹo ngồi dưới rặng bạch đàn nhìn ra miếng ruộng xanh rờn, lúa lột mình trông thiệt đã mắt, nghỉ một lát xuống nhổ tiếp một vạt cỏ khoảng chục tầm vuông nữa là xong. Gió tháng chín làm cho lá bạch khua lào xào, Út Quẹo mơ màng nghĩ đến ngày mai. Còn hơn năm nữa là ảnh ra quân. Thiệt tình, từ ngày đi nghĩa vụ tới giờ gần một năm mà gởi có mấy cái thơ, mà cái nào cũng dặn là không cho lên thăm. Thây kệ. Đỡ tốn tiền, thử coi ai nhớ ai cho biết. Nghĩ thì nghĩ vậy chớ Út Quẹo biết tỏng là cô nhớ nhiều hơn. Làm sao mà biết người ta nhớ hay không nhớ? Mà ảnh cũng kỳ thiệt, hết chuyện đi thương con nhỏ xi cà que. Bổng nhiên Út Quẹo thấy buồn buồn, phải chi hồi nhỏ đừng có nghịch ngợm leo trèo thì đâu có té gãy giò. Mai mốt là đám cưới với ảnh, rồi có con, mình dứt khoát không cho nó nhảy lưng tưng như mình hồi nhỏ. Nghe mấy người lớn nói xương con nít mềm dễ gãy. Phải chi mình đừng mang tên Út Quẹo thì bây giờ làm cô giáo rồi. Mà sao kỳ vậy ta. Đi cà nhắc đâu có mắc mớ gì tới cái chuyện làm cô giáo. Vậy mà anh hai với má mình không cho mình đi học lớp Mười. Viện dẫn đủ lý do để buộc mình nghỉ học, lý do gì mình nghe cũng xuôi tai, mà nói đi cà nhắc làm cô giáo không được thì học làm gì làm mình phát quạu. Mà mình đi cà nhắc đâu có nhiều, chẳng qua là hơi nghiêng một chút thôi mà. Đi chậm rãi lại dễ gì người ta biết, sợ hổng chừng mấy bà có con trai còn khen nữa là khác, họ nói mình con gái mà đi đứng từ tốn, chậm rãi là rất dễ thương, không hấp tấp nên mau giàu. Ôi thôi kệ. Dù sao ảnh cũng thương mình. Hổng làm cô giáo cũng được. Chắc là ở trển ảnh nhớ lắm rồi, vậy mà viết thơ về còn làm bộ. Thôi xuống làm cỏ tiếp cho lúa trống mình, mau nở. Lúa thóc xong rồi, mình lên thăm đại. Thử coi ảnh dám cự nự không? Nhớ lại những lần ảnh tiếp mình một việc gì đó trên mảnh ruộng này. Khi xong hai đưa nhìn nhau cười. Cái mùi mồ hôi, cái mùi đàn ông lất phất làm cho cô thấy ghê ghê. Ấy vậy mà cũng làm cho cô nhơ nhớ.
Về gần tới nhà, Út Quẹo thấy trước cửa nhà đông nghịt. Không hiểu ất giáp gì cô cố rảo bước nhanh, vừa lúc bà chị dâu nhào ra túm lấy Út Quẹo lu loa, bất kể bộ đồ cô mặc trên người nhớp nháp nước sình:
- Trời ơi. Cô đi đâu mà không coi chừng má. Má chết cứng từ nào rồi. Nếu anh hai cô không qua thì chắc là cô để sình luôn.
Hai tai ù lên. Út Quẹo đứng như trời trồng, miệng lẫm bẫm :
- Chết. Cái gì chết. Ai chết.
Bà chị dâu hét lên :
- Má chết. Má chết rồi. Cô nghe không.
Út Quẹo sụm xuống rồi không còn biết gì nữa. Khi cô tỉnh lại thì thấy mọi người đang dằn cô ra mà cạo gió xức dầu. Cô bật ngồi dậy, gạt mọi người qua một bên, nhào qua ôm lấy cái xác cứng đờ của mẹ. Út quẹo khóc lóc, kể lể cho tới khàn cả giọng và mặc cho mọi người làm gì đó thì làm. Cô cũng chẳng buồn thay quần áo.

Khi chôn cất mẹ xong thì Út Quẹo không còn nhớ mình là ai nữa. Ngôi nhà nhỏ xíu mà với cô bây giờ thì nó mênh mông. Ba Út Quẹo mất khi cô mới lên hai tuổi. Ba má Út Quẹo sinh khá nhiều nhưng chỉ nuôi được người con lớn và Út Quẹo. Nên ông anh lớn hơn Út Quẹo gần hai con giáp đã có gia đình con cái. Thằng con lớn chỉ nhỏ hơn Út Quẹo có một tuổi. Giờ đây cô chỉ một mình. Anh chị thì tính tình nhỏ mọn, nên khó lòng nương tựa. Nhưng thôi, mình làm mình sống. Giàu cha, giàu mẹ thì ham. Giàu anh, giàu chị ai làm nấy ăn.
Cuộc sống, không đơn giản như Út Quẹo nghĩ. Làm tuần ba cái bảy cho mẹ. Anh chị qua nói là tính sổ chi phí tang ma, mả mồ, rồi giải quyết chuyện ruộng nương, đất cát của mẹ. Hai vợ chồng nói một hồi, rồi trưng ra giấy má đủ màu, sổ xanh, sổ đỏ một hơi. Út Quẹo thấy mình sạch bách, nếu có còn là còn mấy bộ đồ dính da. Thằng cháu kêu bằng cô thì mặt mày bậm trợn chuẩn bị tiếp quản những thứ ít oi của bà nội. Đến nước này Út Quẹo mới biết cái quan hệ của cô với anh mình. Anh em cùng mẹ khác cha. Đất dưới chân cô như sụp xuống.

Thế là, túi không lưng túc với một ước mơ bị gió thổi bay tuốt lên ngọn bạch đàn. Từ đó, không bao giờ cô nhắc tới ảnh. Từ đó không bao giờ cô nhắc tới quê nhà. Từ đó, không bao giờ cô nhớ tới ảnh. Từ đó không bao giờ cô nhớ tới quê nhà. Mà nhắc nhớ để làm gì? Út Quẹo mang lên thị xã cái dáng vẻ quê trớt, cái tướng đi chậm rãi nghiêng nghiêng cộng thêm với cái tên rất ấn tượng. Nhưng khốn nạn nhất là cái nhan sắc của gái đương thì đã nhanh chóng đẩy cô Út Quẹo quẹo lần, quẹo hồi vào cái tâm bão của đồng tiền. Bán vé số, trước làm kiếm lời nuôi thân, hôm nào đắt để dành lại vài tờ với ước mơ được trúng thì về quê mua đất, làm ruộng, sửa nhà chờ ảnh ra quân, nhưng rồi chưa kịp trúng số, thì bị bọn trời đánh làm nhục, rồi tiếp viên nhà hàng, rồi… Từng cái rồi… này sang cái kia, rồi… đẩy bước chân khập khiểng đi sâu vào mất mát, tủi buồn, quắt quay thù hận…Những thứ đó trút lên đầu cô từng thứ một; cái tên mới, sự lọc lõi, lòng vô tình, tính đanh đá…Những thứ đó cùng với sự phát triển mất trật tự của lớp mỡ dưới da, biến Hằng Dancing thành “Hằng Hủ Lô” với một thân hình nặng tròm trèm bảy chục ký. Một trọng lượng đủ để che chắn cho cái quán bia ôm, cái tủ sắt của mình và làm giàu cho Công ty Cấp Thoát Nước.

Như thường lệ Hằng thức dậy, nhìn đồng hồ, đã hơn mười giờ. Cái quá khứ hiện về trong im ắng của đêm khuya, bị cái thân thể rã rời, vì thường xuyên thức khuya, dậy muộn, tống đi ráo trọi. Cô rời khỏi giường đứng dậy vươn vai và ngáp. Bất chợt thấy mình với cái thân thể nung núc với cái ngáp hết cỡ trong gương. Hằng vừa xót xa vừa tức cười với cái ý nghĩ mình giống như con hà mã thường thấy trên tivi. Bực bội. Hằng kéo phăng cái quần lót ra khỏi người rồi đi vào toilet. Gần cả giờ đồng hồ, tiêu tốn nửa khối nước cho cái thân hình đồ sộ của mình. Hằng bước ra khỏi phòng với một bộ cánh cũng tốn hao không ít vải, dù rất cố gắng tiết kiệm.
Đấy là sinh hoạt mỗi ngày của bà chủ quán kể từ khi tạo dựng được cơ ngơi này.
Khi khóa trái cổng lại, quay ra Hằng đụng ngay tay chạy xe ôm mặc cái áo bộ đội bạc phếch, mang đôi kính đen loại rẽ tiền to tổ bố, đang ngồi chéo ngoải hút thuốc trên yên xe với cái nón luôn luôn xùm xụp trên đầu, bất kể nắng mưa, tối sáng. Chưa bao giờ Hằng nhìn rõ khuôn mặt hắn. Hắn xuất hiện ở quán Hằng gần một tháng nay. Ban đầu, Hằng cho là chuyện bình thường, nhưng riết rồi đâm bực. Hắn đúng giờ một cách kỳ quặc, ngay bon giờ Hằng mở cổng. Làm như chạy mối không bằng. Mà cũng có thể như vậy, bởi vì sau đó là hắn biến và trở lại ngày hôm sau. Hình như hắn chỉ chờ được chở Hằng. Hầu hết những quán bia ôm bao giờ cũng ở một nơi vắng vẻ ban ngày, rậm rật ban đêm. Giờ này không ôm hắn thì đứng phơi đầu ngoài nắng để đợi ôm ai. Nhiều khi tức quá Hằng muốn mua quách một chiếc xe. Nhưng lại không biết chạy, lỡ té một cái rầm làm hư đường, hư xá của người ta. Thấy Hằng bước ra. Hắn nhảy xuống xe chuẩn bị tư thế sẵn sàng cho Hằng ôm. Thôi đành vậy làm cao với hắn làm gì? Ôm ai cũng phải trả tiền mà. Nghĩ mà tức cho mấy thằng cha xe ôm, tay nào như tay nấy, làm như trên đời này không có mấy cái thứ được gọi là hóa mỹ phẩm hay sao ấy, mình mẫy lúc nào cũng nồng nồng mồ hôi. Hằng trèo lên yên sau xe buông một câu cộc lốc:
- Chỗ cũ.
Hắn nổ máy, chiếc xe rướn lên bằng hết sức mình. nhưng rồi cũng lấy được đà phóng tới. Trong khi tay xe ôm làm công việc của mình. Hằng móc cái điện thoại di động, hết gọi người này đến người khác. Nhưng không ai bắt máy hoặc lời thông báo máy không liên lạc được. Đã đến nơi mà chẳng rủ rê được ai. Hằng cáu tiết bước xuống phang một câu ngang như cua:
- Vô ăn sáng với tôi, cha nội. Tôi bao. Không vô, không trả tiền xe. Vợ con đói thì đừng có trách tôi.
Hắn lặng thinh theo Hằng vào quán café. Gần tới giờ tan sở. Quán vắng người, chỉ lác đác những kẻ vô công rỗi nghề đang ngồi ăn sáng (?). Thế mà tay xe ôm bước vào vẫn thấy lạc lỏng làm sao. Vừa ngồi xuống. Hằng hất hàm bảo :
- Ăn uống gì thì kêu. Làm ơn bỏ cái nón xuống dùm coi.
- Ăn rồi. Cho cái trà đá. Hắn cộc lốc và cái nón vẫn y chỗ cũ.
Hằng nổi cáu đưa tay giật phăng cái nón. Một khuôn mặt đen sạm lộ ra. Bổng đâu có một cục nước đá lạnh ngắt chạy suốt sống lưng của Hằng. Cô không tin vào mắt mình. Tay cầm nón, tay còn lại cô từ gỡ nhẹ cái kính dâm. Bây giờ thì cô há hốc mồm nhìn trân trân. Phải rất lâu sau cô mới lắp bắp:
- Anh Sáu. Em… Tại sao anh lại thế này anh Sáu?
Tay xe ôm nhìn cô bằng con mắt còn lại của mình, con mắt hơi ươn ướt. Ở phía bên kia là cái hốc sâu thẳm chứa đầy một nỗi đau. Nỗi đau đó bây giờ đang lan tỏa ra đều khắp. Mặc cho cô phục vụ đứng chờ, cả hai đang bị cái nỗi đau ấy và những hẹn thề của quá khứ bóp họng, bóp hầu họ giữa thanh thiên bạch nhật. Không thấy một ai đến cứu giúp cho hai người. Cô phục vụ đứng chờ lâu quá, thấy mỏi chân bỏ đi nơi khác.
Cuối cùng thì Sáu Bầu cũng lên tiếng:
- Anh tìm Út suốt sáu bảy năm nay. Đi khắp miền Tây và cả ở Sài Gòn nữa. Nhưng không ngờ về đây lại gặp Út ở nơi này.
- Tại sao mà anh ra nông nỗi này hả anh Sáu?
- Khi tôi ra quân về tới nhà mới hay cớ sự. Ai cũng dấu, sợ tôi bỏ ngũ. Hỏi thăm, tìm kiếm Út khắp nơi mà không thấy tăm hơi gì. Tôi buồn quá, tối ngày kiếm hết chuyện này đến chuyện khác để làm. Lâu lâu bơi xuồng qua lại nhà Út coi có tin tức gì không? Càng ngày ngôi nhà của Út càng tiêu điều, bìm bìm, bòng bông leo xanh mướt, rồi một đêm mưa nó không chịu nỗi rồi nằm quẹp xuống luôn. Độ chừng tháng sau tôi thấy anh hai của Út bán cái nền nhà cho người ta. Thế là tôi tiếp tục kiếm việc gì đó để làm, làm như thằng khùng, bất cần trúng thất. Ba tôi kêu cưới vợ. Tôi lại nỗi khùng càng làm dữ. Tối ngày không ngoài đồng thì ngoài vườn. Gần nhà tôi có miếng vườn bỏ hoang từ lâu. Tôi vác phảng vô ruồng và kết quả là tôi chém vô trái M.79. Nó nổ một cái rầm. Tôi mất tiêu một con mắt, nhưng lại dư ra gần một chục cái thẹo. Nằm bệnh viện hết mấy tháng. Ra viện được mấy tháng. Ba tôi trúng gió đi luôn. Tôi hết biết mình mẫy ra sao? Tới chừng tỉnh tỉnh lại giao hết ruộng đất cửa nhà cho mấy anh, mấy chị, rồi xin mỗi người một ít. Chui lên Cần Thơ mua chiếc xe Honda. Vừa chạy xe ôm kiếm sống, vừa tìm Út
Sáu Bầu ngồi nói một hơi, rồi ngưng lại nhìn Hằng. Mặt cô như hóa đá. Sáu Bầu hết hồn:
- Út. Út sao vậy Út?
Hằng giựt mình, cười méo xẹo:
- Hổng sao đâu anh Sáu? Sao anh gặp Út mà anh không nhìn.
- Út khác hơn trước nhiều quá. Tôi ngờ ngợ không dám nhìn. Với lại…
- Thôi anh Sáu đưa Út về nhà Út đi. Út thu xếp công việc một chút rồi Út kể cho anh Sáu nghe.
- Ừ thì đi. Để tôi đưa Út về. Sáu Bầu lại trở giọng ngập ngừng. Gặp lại Út tôi… Tôi mừng quá.
             
Khi Hằng về tới nhà thì các người làm và tiếp viên lác đác tới. Tất cả đều có hai sự ngạc nhiên; thứ nhất được thông báo là nghỉ một tuần, thứ hai là sự có mặt của tay lái xe ôm có bộ vó ngầu ngầu đang ngồi lù lù trong quán mà trước mặt là một ca trà đá tổ chảng. Khi tất cả đã đuợc thông báo và đã ra về. Hằng lấy miếng giấy viết nguệch ngoạc mấy chữ “nghỉ bán” đem treo ngoài cổng, rồi bóp khóa lại.
Khi chỉ còn có hai người thì cái cô Hằng Hủ Lô đanh đá trong cái thân thể khổng lồ kia dần dần biến đi đâu mất. Cái quá khứ xa mờ kia dần hiện ra từng chút, từng chút để cho cái không gian nhầy nhụa gần như xấu hổ khi một thần thái gần như hoàn chỉnh của Út Quẹo hiện về làm cho Sáu Bầu bối rối. Phải rất lâu Sáu Bầu mới từ từ đưa tay lột cái nón bèo nhèo và cái kiếng mát rẽ tiền to đùng kia ra rồi lắp bắp :
- Tôi như vầy, rồi Út như vậy. Út còn thương tôi không Út?
Có một cái gì đó nhồn nhột chạy rần lên khuôn mặt của Hằng, rồi bừng bừng lên phá vở cái mặt nạ dầy dụp để lộ ra cái khuôn mặt của Út Quẹo và khuôn mặt ấy hồng lên. Cô nói nhỏ:
- Út chỉ sợ anh Sáu không thương Út. Út không còn như  hồi xưa nữa?
- Và tôi cũng có còn giống như hồi đó nữa đâu?
Út Quẹo chợt kêu lên:
- Xời ơi. Để em lấy thứ khác cho anh Sáu uống.
- Thôi Út. Uống trà đá cho mát.
Nhưng Út Quẹo vẫn mở tủ lạnh lấy cho Sáu Bầu một lon nước ngọt.
Có một cơn gió hắt qua, nó mang cái hơi hướm, mang máng thôi chớ không giống lắm, của rặng bạch đàn bên bờ ruộng. Không phải những rặng bạch đàn chung quanh quán. Cả hai yên lặng bởi vì không biết phải nói cái gì tiếp theo, dù trong trong lòng cả hai có hàng vạn điều muốn nói, hàng vạn nhớ thương chìm khuất đâu đó bổng nhiên ào ạt trở về, lăng xăng, lộn xộn, cũ mới không rõ ràng, trộn lẫn vào nhau như nùi chỉ rối.
Rồi không biết cái gì xui cô săm soi cái túi xách, từ trong đó rơi ra một xấp vé số. Bao nhiêu năm rồi, cái ước mơ trúng số về quê đã chìm khuất trong những xô bồ của son phấn, rượu bia. Cô đã thừa mứa bạc tiền, nhưng cái mơ ước viễn vông và mơ hồ ấy đã biến hành động mua vé số của cô trở thành quán tính. Cô không biết rằng cái ước mơ nhỏ xíu kia vẫn tồn tại trong cô. Cô cầm xấp vé số nhìn nhìn rồi len lén ngó Sáu Bầu. Ôi, ngày nào ảnh đẹp trai hết biết, thế mà vì nhớ thương mình để bây giờ ra nông nổi. Phải chi ngày đó mình đừng giận dỗi anh hai rồi làm liều. Ráng chờ ảnh thêm một thời gian nữa. Nhưng ở làm sao được. Tiền bạc, ruộng nương anh hai gỡ tay lấy hết. Ở lại nơi đó lấy cái gì mà ăn. Để rồi đem cả cuộc đời ra đánh đổi lấy cái cơ ngơi trời ơi đất hởi này. Nhưng chưa bao giờ mình trúng số. Cái cơ ngơi này đã băm nát đời cô. Cầm xấp vé số trên tay cô tần ngần một lát rồi xé nhỏ từng tấm một. Những mảnh vé số bay lả tả, nát nhừ như cuộc đời cô. Nếu có khác thì những tấm vé số kia thì do cô xé, còn đời cô thì do cô cùng với những người khác hè nhau xé. Cô chợt nhớ tới cái tên trong giấy khai sinh của mình. Lê thị Út. Nhưng có ai kêu mình là Út đâu? Hết Út Quẹo, Út vé số, rồi Hằng, Hằng Dancing, Hằng Hủ Lô. Hai cái tên trước nghe còn đường được dù hơi quê quê, mấy tên sau nghe nát cả lòng. Bổng dưng cô nghĩ. Chỉ có một mình ảnh thôi. Ảnh là tấm vé số duy nhất mà cô mua thì sẽ trúng, trúng lô đặc biệt. Chắc cú một trăm phần trăm. Ảnh chưa bán cho ai mà. Hổng biết ảnh có bán cho mình không? Cô lại nghĩ tiếp. Uổng quá. Làm sao mà mua đây. Hổng lẽ mình đi trốn ảnh. Mà liệu mình có làm nổi chuyện đó không? Cô cúi xuống lượm những manh vé số lên tẩn mẩn ghép lại. nhưng cũng chẳng ra hình thù gì. Cô thẩn thờ nhìn Sáu Bầu. Bỏ hết theo ảnh thì được rồi, nhưng liệu có đủ sức quên hết những thứ đang vây chặt chung quanh và những thói quen quái ác này không? Những buỗi tán gẫu tào lao xích đế hàng giờ đồng hồ ở các quán café sang trọng, những cợt đùa chớt nhả với bất cứ ai là đàn ông, thói quen đụng cái gì cũng sai, cũng bảo. Căm ghét nó, nhưng vẫn giành giựt nó. Bây giờ liệu có bỏ được không. Cô cảm thấy tủi thân với cái ý nghĩ mình không xứng đáng. Cô toan sử dụng cái kiểu cách xử sự mà cô có được từ bao nhiêu năm qua, để làm cho ảnh chán mà quên cô đi. Nhưng cô không làm được vì cô sợ. Cô sợ mất ảnh, dù cô biết là ở với ảnh là rất khó khăn, không phải khó cho ảnh mà khó cho cô. Đúng là đồ mắc dịch. Ở với ảnh mà quen cái thói đó coi bộ hổng êm. Ảnh thương, ảnh hổng nói thì tội nghiệp ảnh, ảnh quạu lên ảnh đánh mình thấy bà luôn. Chắc có lẽ phải ráng thôi. Mà hổng biết ảnh nghĩ sao về cái trọng lượng quá mức của mình. Chắc là phải nhịn ăn giảm béo cho nó nhẹ nhẹ một chút, để khi đau yếu ảnh ẵm bồng cho đỡ nặng (!?). Ờ chắc có lẽ mình phải kêu ảnh đi gắn con mắt giả mới được. Quên nữa, nếu xáp vô thì đừng có mong ảnh cho làm cái nghề mắc dịch này. Vậy thì phải làm gì đây ta? Hay là về làm ruộng. Lâu quá rồi hổng biết là làm nổi không đây. Thôi. ảnh thương thì ảnh lo. Chắc phải đi lấy cái vòng tránh thai ra mới được, còn phải đẻ cho ảnh mấy đứa nữa chớ. Nghĩ tới điều này bổng nhiên Út Quẹo thấy nôn nao trong bụng, mặt Út Quẹo đỏ lên. Ôi. Trúng số rồi mừng quá. Bổng Út Quẹo buồn xo. Hổng biết có lãnh được hông nữa.

Mình bây giờ nhìn cuộc đời được có phân nữa. Ngày ngày dang đầu ngoài nắng chỉ có mong được mấy chén cơm. Phải chi mình đừng có nổi điên, nổi khùng thì đâu đến đổi tật nguyền. Út bây giờ giàu có, sang trọng, nhưng cũng nát lòng ra giữa chốn đọa đày. Tại mình, tại mình hết Út ơi. Bây giờ Út theo mình làm sao mình nuôi Út nổi? Nhưng để Út theo mãi nghề này mình chẳng cam lòng. Phải chi Út ưng đại ai cũng được. Có chồng có con. Có cái để lo toan, để vui, để buồn. Mình đứng xa xa mà ngó cũng được yên lòng. Chứ như bây giờ thì Út ở đâu cũng lạnh. Bia ướp đá cũng lạnh, thịt cá cũng để trong tủ lạnh. Ngủ một mình đã lạnh, bất chợt có người đàn ông nào tới ngủ chung thì không biết có ấm hơn không hay là lại lạnh hơn. Ôi nhớ tới điều này sao mà cái bụng mình nhộn nhạo. Nhưng cũng tại mình. Hổng biết hai đứa xáp vô, mình làm cái gì nuôi Út. Chạy xe ôm còn không đủ lủm một mình, nói gì nuôi ai. Chẳng lẽ đi làm ông chủ ngang hông, rồi gác cửa cho cái quán bia ôm. Chưa kể thấy mấy thằng say xỉn bẹo má, vuốt mông Út thì mình làm sao chịu nổi, lúc đó lại lên cơn điên là hư bột, hư đường. Bây giờ mình làm sao đây ta? Chẳng lẽ tìm kiếm bao năm mới gặp. Bây giờ bỏ chạy đành sao? Ờ. Mà hổng biết Út chịu bỏ hết theo mình về xứ để làm ruộng không nữa. Sáu Bầu nhìn Út Quẹo đang ngồi trước mặt mình, mặt lúc hồng, lúc đỏ. Thấy mà thương muốn chết. Hổng thương sao mình tìm hoài. Sáu Bầu thở hắt ra. Tiền của cô ấy tạo được là cả một sự nhục nhằn. Mình phải làm gì với nó. Không lẽ xáp vào mà ai làm nấy ăn. Ôi cứ nghĩ chuyện gì không? Mà biết Út còn thương mình không mà nghĩ lung tung như vậy?
Cứ như thế, cả hai ngồi đối diện nhau, nghe lòng mình lăng xăng, nghe lòng mình lộn xộn. Chiều, rồi bóng tối về. Bóng tối đã về mà không một bóng đèn nào được bật lên. Không biết mấy giờ rồi. Không ai nghĩ gì về cái việc từ sáng tới giờ, chẳng ai có một hột cơm trong bụng. Bổng nhiên cả hai đứng bật dậy, lóng ngóng ôm chầm lấy nhau. Những động tác ban đầu thì ngài ngại, rồi chợt vở òa khi mà nỗi nhớ nhung được bắt đầu cái quá khứ trong lành lên tiếng. Hai giòng nuớc mắt của Út Quẹo đẫm ướt vai áo bạc phếch của Sáu Bầu. Cái mùi đàn ông đích thực, vẹn nguyên không pha lẫn hoá mỹ phẩm và bia rượu, mà nó còn thoang thoảng mùi đất bùn, hăng hăng mùi bụi bặm. Thế mà nó làm cho Út Quẹo say say. Sáu Bầu cũng thế. Lần đầu tiên ôm người con gái mình yêu, dù cố vói hết tay nhưng coi bộ ôm không gọn. Một giòng nước mắt chảy ra làm cay mắt Sáu Bầu, một giòng khác không còn lối ra bèn chảy ngược vào làm cay lòng Sáu Bầu. Thời gian như có vẻ ngừng lại, nhưng đêm thì vẫn cứ chìm sâu. Cái không khí oi nồng của tháng tư chầm chậm trở thành hơi ấm, khi mà bàn tay thô ráp của Sáu Bầu lóng nga, lóng ngóng chạm vào hàng cúc áo của Út Quẹo và cô thì như nín thở mà ngực thì đập như trống chầu.
Chà một sự tái hợp khó khăn. Rất khó khăn. Mong sao cho họ giải quyết được để khỏi bỏ công nhung nhớ. Chẳng lẽ mua vé số hoài mà không trúng.
Sáng hôm sau trước cửa quán của Hằng có một miếng giấy carton ghi hai chữ  “Nhà Bán”

Rạch Gía 4.2003
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2017

BẢN NĂNG GỐC

                                                                           Ảnh minh họa
Chủ nhật, trời lất phất mưa. Tôi mở tung cửa sổ bàn viết lặng ngồi nhìn ra ngoài sông. Vắng lặng! gió tạt vào trong phòng mang theo những hạt nuớc li ti bám đầy lên mặt , lên tóc. Thỉnh thoảng, một chiếc sà lan chở đẩy cát chậm chạp trội qua khung cửa phòng viết . Tiếng nổ của động cơ trầm đục tan vào trong gió rồi tắt lặng. Tích! Tắc! tích! Tắc ! chỉ còn tiếng chiếc đồng hồ để bàn lên tiếng như nhắc nhở “Mi vẫn còn đang sống”
- Bố! Sao bố lại mở tung cửa ra thế này? Mưa ướt hết rồi !
Tiếng cô con gái làm tôi bừng tỉnh. Chẳng biết nó đến từ lúc nào. Nó vội vàng đóng cánh cửa sổ lại rồi lấy chiếc khăn mặt khô đưa cho tôi.Tôi cầm lấy chiếc khăn chậm chạp lau mặt, lau đầu.
- Thằng Bi đâu? Sao chúng mày không đưa nó đến?
- Mưa quá bố ạ. Chúng con không thể đưa cháu đi đuợc.
Con gái tôi thanh minh với một giọng đầy ân hận. Thằng con rể ngồi xuống giường, ngần ngừ một lúc nó mới bảo.
- Bố ạ! Hay là bố đến ở với chúng con đi. Bố ở một mình thế này thì buồn chết.
Tôi cười hỏi lại.
- Anh không muốn chui gầm chạn nhà tôi mà lại muốn tôi chui vào gầm tủ lạnh nhà anh sao?
Nó cười lắc đầu.
- Sao đến bây giờ mà bố vẫn còn cổ hủ thế? Cuộc sống đã thay đổi rất nhiều rồi không như hồi bố còn làm ở tòa báo nữa đâu. Bố đừng nhìn cuộc đời qua cái khung cửa sổ nhỏ bé này –Nó đi lại mở tung cánh cửa sổ chỉ ra ngoài sông. –Và những trang sách đã lỗi thời này. –Nó dơ tay cầm lấy cuốn “ Thép đã tôi thế đấy” tôi để trên giá sách mở ra đọc to. 
“Đời người chỉ sống có một lần, Phải sống sao cho ra sống để khi nhắm mắt xuôi tay ta không phải ân hận rằng cuộc đời ta đã sống hoài sống phí”
Bố ra đây . –Vừa nói, nó vừa lôi tôi sềnh sệch ra đứng truớc cái gương lớn treo ở giữa phòng –Bố nhìn đi! Bố đang sống hay là bố đã chết?
Tôi nhìn vào gương. Tôi đây sao? Một lão già quần áo lôi thôi, tóc tai rối bù. Bộ râu lâu ngày không cạo mọc tua tủa vô tổ chức. Chính tôi cũng không nhận ra mình nữa. 
Ngày xưa, hồi còn làm ở tòa soạn báo , tôi luôn là người ăn mặc chỉnh tề và chỉn chu trong từng công việc đến cái mức vợ tôi khi còn sống đã phải kêu lên “Sao cái gì anh cũng để ý đến thế?”
- Phóng viên mà

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

ÔNG HÀNG XÓM


                                         ÔNG HÀNG XÓM

   Không rõ ông già Ba ở cái hẽm nhỏ này từ bao giờ. Khi vợ chồng Văn dọn về đây thì đã có mặt ông rồi. Ông khoảng hơn sáu mươi một chút, phong độ khá chải chuốt, sống một mình trong một ngôi nhà tinh tươm và rộng nhất hẽm. Ngoài nụ cuời và cái gật đầu khi được chào hỏi, thì hầu như ông rất ít tiếp xúc với ai. Mỗi ngày ông thức dậy từ năm giờ sáng, dẫn xe ra đầu hẽm mới nổ máy, đi đâu đó khoảng một tiếng hay hơn nữa tiếng rồi quay về. Lục đục trong nhà khoảng nửa tiếng nữa rồi lại ra đi. Mãi đến khoảng hơn bốn giờ chiều thì lại về. Rồi lại ra đi vào lúc sáu giờ hơn, khoảng một giờ sau thì lại về, đôi ba ngày thì thấy ông già ngà ngà say. Việc ông rời nhà hay trở về cũng có một điều hay hay, không bao giờ nổ máy ra đi hay chạy thẳng từ đầu hẽm vào tới cửa nhà vào giờ nghỉ ngơi. Nhà sáng đèn đến khoảng chín giờ rưỡi thì tắt. Hai tiếng rưỡi ấy không biết ông già làm gì? Ngày chủ nhật hay lễ thì cái thời gian biểu ấy có bị xáo trộn chút ít. Chẳng biết ông làm nghề gì để sống. Nhưng xem ra khá phong lưu.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”

VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”

Cây Chuối
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu? Gượng mở xem.
Nguyễn Trãi


Đọc thơ Nôm của người xưa; cảm thụ đã khó, mà khi cảm thụ đã khó rồi thì chuyện hiểu được những điều tổ tiên nói lại càng khó hơn. Đã thế còn gặp những từ cổ và những cú pháp lạ.
Bài thơ trên có lẽ là một trong những bài thơ như vậy của cụ Ức Trai. Và hầu hết những người đọc đều bỏ qua vì… nhức đầu. HRG cũng không ngoại lệ.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

ĐỌC TRÊN FACEBOOK

Sau khi đọc bài 5 LÝ DO VUA HÙNG THIẾT THA ĐỀ NGHỊ TỪ NĂM SAU KHỎI CẦN LÀM GIỖ . Dương Đoàn Trọng có cảm xúc viết bài thơ này :
KÍNH LẠY VUA HÙNG
Kính lạy Vua Hùng xá tội cho
Con dân đất Việt tính tò mò
Công Người dựng nước ban nhiều lộc
Tội kẻ buôn dân vẽ lắm trò
Miệng đọc kinh thông lòng lắt léo
Tay dâng lễ vật dạ quanh co
An Tiêm một đảo nên Vương nghiệp
Được cả cơ đồ lại đáng lo
Dương Đoàn Trọng

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

HUỆ NGỐ

HUỆ NGỐ 
Không hiểu tại sao ở ngôi chùa nhỏ này ai cũng gọi chú tiểu nhỏ nhất là Huệ Ngố. Thực ra, khi nhận chú từ một làng mồ côi, bị giải thể vì lý do trời thần gì đó, sư trụ trì đã đặt cho chú là Huệ Ngộ. Chú tiểu, theo tôi, là người thông minh. Mới học hết lớp 8 nhưng làm thơ rất mượt. Khi mới chân ướt chân ráo vào chùa là chú tìm đến “Tàng Kinh Các”. Huệ Ngố gọi tủ sách của nhà chùa như vậy khi tôi mang đến cho chú mượn cuốn Ức Trai Di Tập theo lời yêu cầu của chú. Đó là những gì tôi biết về chú tiểu. À quên, chú tiểu thích cái tên Huệ Ngố hơn là Huệ Ngộ.
Tôi thường hay đến chùa tìm sư trụ trì hỏi chuyện kinh sách và được giới thiệu với chú tiểu. Chúng tôi quen nhau như thế.

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG CUỐI -

                                              CHƯƠNG CUỐI
                                      TÙY TIỆN MỘT CƠN SAY


Vâng. Tùy tiện một cơn say. Xem như đó là những phút giây sống cho chính bản thân mình. Làm điều này để tôi biết mình đang sống. Mà đang sống là đang lu bu, đang lu bu thì làm sao gọi là chấm hết. Tôi đã có thể giải quyết một cách khá ngoạn mục cái cảnh một kiểng hai huê và sau đó là một cú choáng người vì tụt huyết áp. Tôi tỉnh lại bởi hai nguồn nước mắt của hai huê sau gần hai mươi giờ sống đời cây cỏ. Và khi tôi viết được những giòng dưới đây thì tôi mới hiểu ra là mình muốn cái gì.
Nợ cơm áo chất nặng lòng sĩ diện,
Đôi chân ta lếch thếch quệch quanh đời.
Chợt một bữa tấm thân ta hoá rổng,
Đầu trống không và nhẹ bước rong chơi.

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG -CHƯƠNG XI-


CHƯƠNG XI :
PHÍA BÊN NÀY HAY PHÍA BÊN KIA SÔNG

         Cứ say đắm cuộc đời đi,
Dẫu đời ta chẳng có gì ngon cơm.
        Nhưng hoa vẫn cứ còn thơm,
Cây còn xanh lá. Gió còn reo vui
        Sóng thì thào mãi không thôi,
Vầng trăng vẫn sáng cho người mộng mơ.
        Nắng mai sưởi ấm câu thơ
Sợi tình theo những giọt mưa vào lòng.
       Con thuyền nối những giòng sông,
Bao bờ bến đợi tấm lòng của nhau.
       Nâng lên chén rượu quên sầu,
À không. Đâu có chi sầu mà quên.                                                         


Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG PHẦN BA - CHƯƠNG X-

PHẦN III


CHƯƠNG X

NGỦ THẬP TRI THIÊN MỆNH ?


         Đi vào cái tuổi năm tư
Vài sợi tóc trắng tưởng như mình già.
        Mùa xuân đầy ngát hương hoa,
Mình như xuân vậy mà già được ư ?
        Dẫu cho thêm nữa mấy mươi
Vẫn mùa xuân ấy nên như không già.

Ờ. Hôm nay hai mươi tám tết. Lại tết. Công việc ngập đầu. Tôi còn phải đi thu nợ về cũng để trả nợ. Mười lần xách chiếc xe cà tàng chạy suốt hai mươi lăm cây số từ Rạch Giá đến Bến Nhứt để lấy tiền làm bảng hiệu cho một cây xăng, để nhận lấy mười cái hẹn lần sau. Hai triệu rưỡi. Số tiền không nhiều nhặng gì so với bề thế của cây xăng, nhưng với tôi là khá lớn. Ấy vậy, mà họ vẫn hẹn những mười lần. Đến lần thứ mười một cũng chẳng có một đồng, mà còn hẹn tiếp. Tôi nỗi quạu. Thế là một trận cự cãi diễn ra. Cuối cùng tôi nhận được một câu rất dễ nổi dịch :
- Ông có giỏi thì gỡ bảng mang về. Tôi không có tiền.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG IX -


CHƯƠNG IX :
VĂN THƠ VIẾT LOẠN CÀO CÀO CẢ

Ai xui gặp lại nhau đây
Ba mươi năm ấy đã đầy lênh đênh
Ít khi nhớ? Lắm khi quên?
Mà mong manh cũ còn nguyên trong lòng.

Cuộc sống tương đối ổn định hơn và tôi có thể chủ động tìm đến bạn bè xưa. Những lần gặp nhau như thế, hết thằng này đến thằng khác thay phiên nhau trách phiền tôi là một thằng tự ái vặt. Bạn bè tìm đến nhau chẳng qua là cái tình. Tôi chỉ biết cười và nhận về mình sự thiếu sót. Nhưng tự trong sâu thẳm của tấm lòng mình, tôi nghĩ rằng, việc phô bày những thiếu thốn, gian khó của mình trước mặt bạn bè là một điều gì đó không ổn. Nhưng cũng chính vì sự muốn tìm đến nhau với tư cách bằng vai, phải lứa. Tôi phải cố gắng, và tôi đã làm được. Thôi thì nâng ly tạ tội và nghe chúng nó cằn nhằn cho bằng thích.
Có một điều là tất cả bạn bè đều quan ngại cho tôi, không phải vì những khó khăn trong cuộc sống mà tôi phải đương đầu, mà vì cái tính khí oái oăm cũng như việc vẫn đeo đuổi mộng thơ thẩn của tôi. Nhưng quan ngại thì quan ngại, khi đàn đúm với nhau thì thằng nào cũng mong tôi có một bài thơ mới. Nhưng hầu hết những bài thơ tôi đọc cho bạn bè nghe đều được viết trong thời gian gỡ lịch. Tôi cũng phải cố dè sẻn, dù biết rằng như vậy là có lỗi với bạn bè. Nhưng biết làm sao khi mà đã tịt ngòi? Dù rằng tôi cũng có viết được dăm bài, nhưng những bài thơ đó thì tôi đã nhượng quyền tác giả cho người khác rồi, nên làm sao mà phổ biến lung tung được.

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG VIII-

CHƯƠNG VIII :
TÍNH TOAN TỨ PHÍA ĐỂ COI CHƠI.

Hạ sơn. Xuống núi phen này.
Lưng vốn sạch bách. Chưa đầy túi khôn.
Trong lòng vẫn cứ bôn chôn
Mừng, lo hai nỗi, nỗi hơn nỗi nào.

               Ngày 30.4.1988. Thìn về.
            Và hôm nay 2.9.1988. Cả cánh đồng, lúa đã lột mình, đang trở màu xanh. Cả trại như thường lệ có biến đổi về nhân số. Kẻ ra, người vào. Trong những người rời khỏi nơi này. Có tôi. Sự tự do một thời quen biết, nhưng hiểu và sử dụng nó cho rạch ròi thì chưa. Bây giờ sau một thời gian dài mất mát và tôi đã chạm tới nó rồi. Niềm vui và nỗi lo tràn về. Nhưng tôi còn nhiều việc, rất nhiều việc cuối cùng ở nơi đây, phải lo cho xong trong một thời gian cực ngắn. Hai mươi bốn giờ.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG VII -

CHƯƠNG VII :
CHÍN CUỐN LỊCH VÀ BA MƯƠI TỜ LẺ

              Cuồng chân. Nhảy tuốt vào đây
        Sáng chiều ngồi đếm tháng ngày đi qua
              Vừa ngẫm nghĩ, vừa ngâm nga
         Biết đâu có thể ngộ ra lẽ đời?

Một tấm thảm màu xanh thẫm, phẳng ran như chiếc đệm đang dập dềnh theo cơn gió. Lúa đã đứng cái và hứa hẹn một mùa bội thu :
Tiếng thằng Hoà nói sau lưng :
- Ba ơi. Má nói ba mê miếng ruộng hơn má.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG VI -

CHƯƠNG VI :
VONG GIA THẤT THỔ VÀ … MỘT CÁI TÒNG TENG

“ Cái tình là cái chi chi
Dẫu chi chi cũng chi chi với tình.”[i]
Chi chi khi rảnh đã đành
Lu bu muốn chết cũng thành chi chi

            Sáng hôm sau tôi về Rạch Giá, chiếc đò chạy trong màn sương và ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh. Giòng sông Cái Lớn vẫn mang dáng vẻ ưu tư hay là chính nỗi buồn của tôi. Tôi cũng không biết nữa. Tôi cố làm sống dậy những kỷ niệm của tôi về giòng sông. Nhưng không thể. Tôi ngồi giữa tiếng rì rầm của máy tàu, của màn sương tan, của bình minh đang đến. Giòng sông vẫn thế và tôi nhìn màu xanh huyền hoặc của hàng lá dừa nuớc bên kia sông mà trong lòng lạnh tanh. Và bên này cũng thế, cái màu xanh đầy sức sống và lấp loáng hạt nắng ban mai. Ôi giòng sông thân quen bây giờ sao mà lạ lùng với tôi đến thế. Tôi nhớ mà. Giòng sông có bao giờ từ bỏ ai đâu. Thế mà, hôm nay… Hay là tôi đang từ chối quê hương mình. Đúng hơn là từ chối tấm lòng mình.
            

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG PHẦN II -CHƯƠNG V-

PHẦN II

CHƯƠNG V:
NHÌN NGÓ LUNG TUNG RỒI BỎ ĐÓ,

 

Xóa bài làm lại phen này nhé-
Lưng vốn tiêu tùng. Túi trống không
Mò mẫm đi lần qua lối mới,
Cẳng giò khệnh khạng bước lung tung

Thế là hết. À không chấm dứt chứ. Chấm dứt rất nhiều thứ, nhiều thứ buồn cũng như vui. Còn lại chăng la trước mắt mộtSài Gòn đang nháo nhác đổi thay. Tôi và Ngọc, em trai tôi, sau khi thoát khỏi chiến trường Huế trở về, đang nằm tại căn cứ Long Bình. Từ nơi đó nó tìm gặp tôi. Chúng tôi thật sự mang tâm trạng hoảng loạn khi nhìn một đại đội CSDC tan hàng ngay cổng trường Nguyễn Thái Học ở góc đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học tại Sài Gòn, viên đại úy đại đội trưởng đã tập hợp đơn vị mình trước cổng trường cho giá súng ngay ngắn đúng theo quân lệnh, sau khi đã rút cơ bẫm và nói vài lời chia tay. Bất giác tôi đưa tay sờ vào thắt lưng nơi giắt khẩu Smit-Wesson P.38.[i] Ngọc nắm tay tôi nói khẻ:

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Vũng Lầy


Vũng Lầy

- Ðây là lần thứ hai ông cựu Trung úy Võ Trung Úy, nguyên Ðại đội trưởng Ðại đội X thuộc Tiểu đoàn Z trấn giữ mặt trận Long Khánh cho tới ngày chót được lệnh rút lui, đi Việt Nam. Lần này, không còn lo lắng sợ hãi như lần trước nữa nên ông đi một mình thăm ông già đang bị bệnh nặng, để bà vợ ở lại Mỹ. Hơn nữa bà còn phải trông coi cửa hàng ăn không thể giao phó cho người khác. Không bết cái tên Trung Úy do ông già ông đặt có phải là tiền định không mà sau mấy năm đeo mãi cái lon Trung úy, khi tới lúc sắp được lên lon Ðại úy thì... đứt phim!
Sau khi bệnh trạng ông già có phần thuyên giảm, ông Võ Trung Úy mới có chút thì giờ đi dạo phố phường.Thành phố Saigon bây giờ đổi khác hơn mấy năm trước nhiều. Thiên hạ tưng bừng trưng diện ăn chơi đủ mốt đủ kiểu, chẳng thua kém gì bọn thanh thiếu niên ăn chơi bên nước Mỹ. Bỗng ông Úy nhận thấy một điều mà lần trước có lẽ ông không để ý tới hoặc "nó" chưa phát triển một cách "tiến mau tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa" như bây giờ. Ðó là "giai cấp ăn mày". Trước đây, theo Các Mác, trong xã hội tư bản có giai cấp công nhân vô sản, nay trên con đuờng phát triển đi lên xã hội chủ nghĩa, giới ăn mày (còn nghèo hơn những người thuộc giai cấp công nhân vô sản nhiều) phát triển rất nhanh, rất mạnh từ đầu đường xó chợ tới chốn thôn quê. Khắp đâu đâu cũng đầy rặc ăn mày nên vô hình trung một giai cấp mới đã tự phát và hình thành trong xã hội chủ nghĩa: giai cấp ăn mày!
Ðang đi trên đường Lê Lợi, chỗ gần chợ Bến Thành, cùng với một người bạn, bỗng có kẻ bất thình lình cầm tay ông Úy níu lại. Giật mình ông Úy dừng bước và quay nhìn: đó là một gã ăn mày tuổi ngoài trung tuần, râu tóc xồm xoàm áo quần lếch thếch nhưng không đến nỗi rách rưới. Gã ăn mày không đợi "thí chủ" hết ngạc nhiên, nói liền: "Xin ông bạn Việt kiều giúp cho người anh em khốn khó vài tờ !". Ông Úy giận lắm. Ăn mày gì mà chơi kiểu cha vậy. Ông giật tay và cất bước trong khi người bạn đi bên tủm tỉm cười: "Anh bạn bình tĩnh! Chuyện này ở đây diễn ra như cơm bữa!". "Nhưng ít ra chúng nó cũng phải tỏ vẻ lễ độ!". "Xin ông bạn Việt kiều bớt nóng, cảm thông bố thí cho anh em nhờ ! Lễ độ hay không, chuyện nhỏ.". Tiếng gã ăn mày nổi lên phía sau, sát bên ông Úy. Thì ra gã vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Và theo bước gã còn một tên ăn mày nữa. Tên này chống nạng gỗ, mặc bộ đồ bộ đội Bắc Việt mầu xanh lá cây đã bạc phếch, và đầu vẫn đội chiếc nón cối cũ bẩn cũng như chủ nó. Cả hai trông chưa đến nỗi ốm yếu tới độ sắp chết đói mà trái lại còn có phần dữ tợn đe dọa. Người bạn đi cùng ông Úy vội kéo nhanh ông bước như chạy, nói: "Thôi ông ơi, tránh hủi chẳng xấu mặt nào, hơi đâu giằng co với bọn nó. Ðến công an bọn nó còn cóc sợ huống chi bọn mình! Giai cấp mới đang lên mà!". Về nhà suốt buổi tối ông Úy bị ám ảnh mãi hình dạng và lời lẽ của gã ăn mày. Bất chợt ông thấy khuôn mặt gã có vẻ quen quen như gặp đâu nhiều lần. Ông cố lục tìm trong trí nhớ, trong dĩ vãng mãi mà vẫn không nhận ra con người ăn mày có vẻ quen quen này. Ðêm đó ông Úy trằn trọc không ngủ được. Sáng hôm sau ngồi uống trà với ông già, ông Úy biết thêm nhiều chuyện về "giai cấp ăn mày". Ở miền Bắc, miền Trung nhiều Làng, nhiều Xã kéo cả vào Nam ăn mày. Bố ăn mày, mẹ ăn mày, con ăn mày. Toàn gia ăn mày. Cả họ ăn mày. Ðời sống của họ đôi khi còn "huy hoàng" hơn giai cấp công nhân vô sản nhiều. Người ta không còn có mặc cảm nhục nhã khi phải ngửa tay xin tiền bố thí nữa mà nhiều lúc còn hãnh diện. Họ xin tiền khách qua đường không cho họ chửi liền. Họ lên án xã hội. Họ chửi cái xã hội đã biến họ thành nạn nhân, thành những kẻ khốn cùng. Họ chẳng còn gì để mất kể cả sự sống nên họ hết sợ. Khuôn mặt gã ăn mày hôm trước cứ ám ảnh ông Úy mãi đã thôi thúc ông đi tìm gặp lại gã. Ông không mất công tìm kiếm lâu. Hôm nay gã ăn mày không chạy bám theo khách nữa. Gã cùng gã ăn mày bận bộ đồ bộ đội ngồi trước một Nhà hàng ăn, vẫn ở cuối đường Lê Lợi gần chợ Bến Thành. Ngoài hai gã ra cũng còn dăm bẩy "đồng nghiệp" của gã. Nhưng những người này ngồi hơi xa cửa ra vào Nhà hàng. Nhà hàng có vẻ có nhiều món "đặc sản" nên bà con Việt kiều đến khá đông. Khi ông Úy tới giáp mặt gã ăn mày mà gã vẫn tỉnh khô coi như chưa hề gặp. Có lẽ gã quên ông rồi. Ông Úy cất tiếng: "Chào người anh em!". Gã ăn mày ngước nhìn: "Ðồng chí Việt kiều chào tôi hả?". "Ủa, mới hôm qua gặp nhau quên rồi sao?". Gã mặc bộ đồ bộ đội ngồi bệt dưới đất cạnh gã, nhận ra trước: "A! ông anh bữa qua bọn mình xin tiền đéo cho lại còn nói sỏ đây mà! Hôm nay ông anh nổi máu từ tâm muốn bố thí cho hai thằng này hả?". Lúc đó gã ăn mày mới như chợt nhớ ra à lên một tiếng và nói tiếp: "Thì ra là lão Việt kiều keo kiệt bữa qua. Thế nào người anh em? Phát cho vài tờ xanh xem nào". Ông Úy lặng lẽ nhìn gã ăn mày vài phút mới nói: "Tôi trông anh quen lắm!". Gã ăn mày phá lên cười: "Ha ha! Thì cứ nhận đại là quen đi! Quen thằng ăn mày có khó khăn gì mà phải mầu mè! Thế đằng ấy trước có đi lính không? Lính Cộng hòa ấy mà! Tớ là lính thứ thiệt chứ không phải thứ dởm lợi dụng sắc áo mầu cờ để ăn xin ăn mày đâu nhé! Trước tớ là đơ dèm củ bắp. Tớ bị thương trong trận đánh cuối cùng ở Long Khánh". Quay sang gã ăn mày mặc bộ đồ bộ đội, gã nói tiếp: "Thằng này cũng ở mặt trận Long Khánh nhưng nó là..vi ci". Gã bạn tiếp lời ngay: "Là bộ đội, là chiến sĩ đi B giải phóng miền Nam đã để lại chiến trường một cái chân và một con mắt làm kỷ niệm!". Gã ăn mày tiếp lời: "Còn tớ thì đi đứt một khúc ruột và cánh tay trái. Ðấy, nó cụt tới tận vai đấy!". Gã vén ống tay áo cho ông Úy coi chỗ cánh tay cụt. Ông Úy không nhịn được tiếng thở dài. Ông hỏi: "Thế bạn trước ở đơn vị nào?". Gã ăn mày trả lời liền: "Quên cha nó rồi!". Bỗng gã bất ngờ nổi quạu: "Thôi ông nội! Có bố thí đồng nào thì bố thí đi, chứ cứ đứng cà kê dê ngỗng mãi, còn để người ta kiếm ăn chớ !". Trong khi ông Úy hậm hực bỏ đi còn nghe tiếng gã ăn mày bận bộ đồ bộ đội chửi với theo: "Cái ngữ này dám Việt kiều rởm, vờ vĩnh nhận vơ bạn bè để mai mốt gạ xin nhập bọn đây! Mẹ đời đa sự!". Sau câu nói gã nhổ bọt đánh toẹt một cái. Rồi gã vụt đứng dậy chống nạng chạy theo một bà – vận bộ đồ có vẻ Việt kiều từ trong Nhà hàng bước ra – "Bà ơi, xin bà thông cảm... Nhờ ơn đảng chúng tôi mới trở thành những kẻ khốn cùng..!".
Mấy hôm sau ông Võ Trung Úy tình cờ gặp một bạn cũ từ Mỹ về. Anh này trước cùng đơn vị với ông mang cấp bậc Thiếu úy Trung đội trưởng. Hai người gặp lại nhau một đôi lần ở Mỹ, vì mỗi người sống một Tiểu Bang. Sau câu chuyện hàn huyên, người bạn nói: "Niên trưởng còn nhớ thằng Lâm nhắng trong đơn vị mình không?". Ông Úy vỗ trán mãi mới nhớ ra: "Ồ, có phải cái thằng lính ba gai luôn chuồn đi chơi gái nhưng đánh giặc rất chì phải không?". "Ðúng rồi đó! Nó bị thương nặng ở mặt trận Long Khánh những ngày cuối cùng. Tưởng chết té ra nó vẫn chì, vẫn còn sống nhăn tới ngày hôm nay. Tôi có xin được một số tiền của anh em cựu quân nhân đem về cho nó. Mấy ngày hôm nay tôi lần theo địa chỉ nó gửi thư sang Mỹ mà tìm mãi không ra". "Nó nói ở đâu?". "Trong một nghĩa địa cũ vùng Ngã Ba chuồng chó". "Người ngợm nó ra sao?". "Có ảnh đây". Ông cựu Thiếu úy móc trong ví ra một tấm hình cũ kỹ mờ nhạt. Nhìn ảnh ông Úy kêu ầm lên: "Ðúng rồi! Thì ra cái thằng Lâm nhắng là nó. Ta đến chỗ nó "hành nghề" ngay đi!". "Thì ra niên trưởng đã gặp nó? Nó bây giờ làm nghề gì?". "Cứ đến gặp sẽ biết".
Buổi tối hôm đó tại một quán nhậu bình dân ở một khu xóm ngoại ô tồi tàn có ba người khách vừa ăn uống vừa chuyện trò rôm rả. Ðó là hai "ông Việt kiều": ông cựu Trung úy Ðại đội trưởng, ông cựu Thiếu úy Trung đội trưởng và ông cựu lính cộng hòa "đơ dèm củ bắp" đang hành nghề ăn xin ăn mày. Ông cựu Trung úy hỏi: "Bây giờ có khoản tiền ngoại viện rồi cậu có tính làm lại cuộc đời không?". "Làm lại thế nào?". Lâm nhắng hỏi. Ông cựu Thiếu úy đáp: "Tức là thôi nghề ăn xin ăn mày này mần nghề khác lương thiện hơn". Bỗng Lâm nhắng đặt mạnh ly bia đang uống xuống bàn, trợn mắt nói: "Hành nghề ăn mày ăn xin đâu có gì xấu xa. Phải nói đó là những con người lương thiện! Ăn mày ăn xin còn hơn ăn cắp ăn trộm đục khóet của công, ăn thịt người sống lẫn người chết! Chúng tôi bị dồn tới bước đường cùng mới phải ngửa tay xin ăn thiên hạ. Còn bọn chúng nó là bọn bất lương buôn dân bán nước! Thử hỏi như vậy ai đáng trọng hơn ai, ai đáng khinh hơn ai!". "Nhưng tôi thấy hành nghề này vất vả quá, bấp bênh quá, sống ngày nào biết ngày ấy!". Ông cựu Trung úy nói. Lâm nhắng bỗng cất tiếng cười lớn: "Ha, ha! Thưa niên trưởng! Ngài cũng thừa biết bọn tôi hành nghề này là chửi cha vào mặt chế độ này. Chúng nó đã lãnh đạo đất nước tiến mau tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa bằng cách làm cho cả triệu người trở thành bần cùng hết kế sinh nhai phải đi ăn xin ăn mày. Ðây là một sự lên án nặng nề bọn cầm quyền mà chúng tôi là những nhân chứng sống! Chế độ này còn tồn tại thì chúng tôi còn tiếp tục đi ăn xin ăn mày cho tới khi cả nước trở thành ăn xin ăn mày. Và bây giờ hình như cả nước đang bước vào con đường này rồi đấy! Chúng tôi chẳng có mặc cảm gì hết. Ðừng phiền trách chúng tôi! Và cũng đừng diễn trò đạo đức giả với chúng tôi!". Trong lúc ba người đang bức bối vì "vấn đề đặt ra" thì gã ăn mày bận bộ đồ bộ đội chống nạng bước vào. Mùi hôi hám từ cơ thể gã tỏa ra làm hai "ông Việt kiều" nhăn mặt. Lâm nhắng nói: "Ngồi xuống đây em, uống bia nhé! Ðồ nhậu đó cứ tự nhiên". Quay lại phía hai chiến hữu cũ, gã nói tiếp: "Thằng này là bộ đội chính cống từ miền Bắc vào giải phóng miền Nam. Bọn nó đụng với đơn vị mình ở mặt trận Long Khánh những ngày sau cùng đấy, hà hà bố khỉ!". "Sao hai người lại gặp nhau, quen nhau?". Ông Úy hỏi. "Thì gặp nhau trong cùng chí lớn là đi ăn xin ăn mày, khách đồng điệu mà! Thế là quen nhau rồi thân nhau. Trước đó tôi với nó đã đập lộn một trận vì cái trò "Nam Bắc phân tranh" đấy!". Thấy câu chuyện vui vui có vẻ hấp dẫn, ông Úy cười nói: "Cậu có thể kể bọn tôi nghe việc đập lộn vì cái trò Nam Bắc phân tranh được không?". "Ðược chớ !". Uống ngụm bia, có lẽ để nhấp dọng, Lâm nhắng bắt đầu kể. 
"Sau một thời gian tập sự "hành hiệp giang hồ" trong Cái Bang *, trở thành đệ tử chính cống của lão giáo chủ Hồng Thất công, tôi phải ra tay đánh đông dẹp bắc mãi mới trở thành Cái Bang bốn túi chiếm cứ được vùng đắc địa (chỗ niên trưởng gặp bữa trước đó). Sở dĩ gọi là vùng "đắc địa" vì đó là nơi bọn Việt kiều, bọn cán lớn cán nhỏ và dân áp phe hay lui tới ăn nhậu. Ðối với bọn họ vài ngàn bạc bỏ ra bố thí có nhằm nhò gì, còn hơn là cứ để bọn Cái Bang theo sau lải nhải nói năng sỏ siên, kể cả dọa dẫm. Vì chỗ đất béo bở vậy nên có nhiều ruồi bu, mật ít ruồi nhiều mà! Thế là phải mở những cuộc tranh hùng thanh toán nhau giữa đồng nghiệp, tuy không đẫm máu nhưng cũng sứt đầu mẻ trán mãi tôi mới làm trùm lãnh địa này. Thằng bộ đội này, Lâm nhắng chỉ vào gã cựu bộ đội đang nhồm nhoàm nhai một cái đùi gà, nó mò tới quyết ăn thua đủ với tôi. Tôi là "độc thủ đại hiệp", còn nó mới thuộc típ "độc cước tiểu hiệp", tướng một giò thêm độc nhãn địch sao nổi lại tướng hai giò đầy đủ lưỡng nhãn. Qua mấy hiệp nó đánh không lại tôi, nó thua nó bèn dùng chưởng miệng (nghề của bè đảng nó mà!) chửi tôi là lính ngụy, là thế nọ thế kia. Tôi chửi lại nó "quân Bắc kỳ bẻo, đểu cáng". Rồi nó cứ luôn rình rập phá đám tôi hoài. Nổi hung tôi định giở trò đấm đá thì nó bỏ chạy. Thấy mình nguôi nguôi nó lại sáp lại chọc phá đám, không để yên cho mình làm ăn. Bọn ăn mày ở đây ai cũng căm ghét quân Bắc kỳ cục. Chúng nó đổ tại bị bọn này giải phóng nên mới phải đi ăn mày. Một hôm tôi hỏi nó: "Tao thua tao phải đi ăn mày. Mày thắng tại sao mày cũng đi ăn mày?". Nó đốp chát liền: "Tao với mày cả hai thằng đều thua cả nên mới trở thành ăn mày. Tao mất cái chân, mày mất cái tay coi như huề. Chúng nó mới là kẻ thắng!". "Chúng nó là ai?". Tôi hỏi. "Là bọn đồ tể hiện đang ngồi ngất ngưởng những chỗ cao nhất nước hưởng thụ xương máu bọn tao đó!". Nói xong nó bỗng òa khóc như con nít. Tới đây Lâm nhắng ngừng nói quay nhìn gã cựu bộ đội ăn mày xem phản ứng. Thấy gã vẫn thản nhiên ăn uống như không có chuyện gì xẩy ra. Có lẽ lâu lắm rồi gã mới được ăn uống một bữa khoái khẩu hả hê như vậy. Lâm nhắng vui vẻ tiếp tục kể: "Giải phóng miền Nam xong, nó cũng được đảng "giải phóng" cho về quê.nghỉ luôn. "Ngày trở về. anh bước lê.. trên quãng đường đê..." (Lâm nhắng nói như hát). Về tới làng xưa xóm cũ thì bố mẹ đều chết hết, còn cô vợ yêu quý nay đã trở thành bà Xã đội trưởng. Thế là mất tất cả. Hận đời hận tình, nó bỏ vào Nam. Chẳng có nghề ngỗng gì anh chàng trở thành đệ tử của Lão tổ Cái Bang Hồng Thất công. Một hôm ngồi mãi không thấy ai thẩy cho nó một đồng trong khi đó bà con Việt kiều biết tôi là lính cũ cho tiền ào ào, nó chửi đổng: "Ðịt mẹ, cùng là kẻ thua cả mà vẫn còn trò phe phái, ngụy bênh ngụy, ngụy giúp ngụy. Còn thằng này lỡ làm lính bắc kỳ cộng sản thì tẩy chay thì bỏ mặc. Kỳ thị đến thế là cùng! Thế mà luôn mồm bầu ơi thương lấy bí cùng.." "Nhưng rồi chính các đồng chí của nó cũng tẩy chay, cũng kỳ thị, cũng bỏ mặc và còn hắt hủi nó nữa. Bữa đó có mấy trự có vẻ là quan to tới ăn uống. Khi các quan ra về thằng ăn mày cựu bộ đội Bắc kỳ chạy theo tả oán xin xỏ. Chẳng những không được bố thí nó còn bị các quan mắng như tát nước vào mặt là quân phá hoại, tiêu cực, bôi bác, bêu riếu chế độ, nên tóm cổ quẳng vào trại cải tạo! Thế là nó nổi giận chẳng còn nể nang sợ hãi gì nữa. Nó văng tục chửi thẳng vào mặt các quan, nào là "bọn phản bội" nào là "quân chó má uống máu ăn thịt chiến sĩ đồng bào" nào là "hãy trả lại chúng tao những cánh tay, những cái chân và cả triệu người chết...". Thế là nó bị mấy thằng bảo vệ đi theo các quan tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết. Nó bò lê bò càng trên hè phố mà miệng vẫn không ngừng chửi bới nguyền rủa. Tôi thương nó bắt đầu từ đấy".
Trở về Mỹ cả tháng mà ông cựu Trung úy Võ Trung Úy vẫn còn băn khoăn thắc mắc trăn trở về hai gã ăn mày từng là lính của hai chế độ. Ðúng họ là những kẻ thua và mãi vẫn còn thua. Và bây giờ làm sao họ đòi lại được những cánh tay, những cái chân, những con mắt đã bị mất nơi chiến trường để biến họ thành con người như ngày hôm nay? Ông cựu Trung úy Võ Trung Úy bất chợt nghĩ tới bốn chữ "Tổ Quốc Ghi Công". Tổ quốc nào ghi công những người cựu chiến binh ăn mày này đây?

THANH THƯƠNG HOÀNG
QuanDo FaceBook

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG IV -


CHƯƠNG IV :
LỬNG THỬNG QUANH NĂM, NGHÍA LẼ ĐỜI.

Tưởng như thành được ước mơ.
Giựt mình tỉnh giấc ai ngờ. Chiêm bao
Mồ hôi ứa giữa đêm thâu
          Mộng thì không thật. Đời đâu dễ dàng 

       Tiếng loa báo cài dây an toàn đưa tôi về thực tại. Cài xong dây, nghiêng đầu nhìn qua cửa kính. Tỉnh lỵ Rạch Giá hiện ra trọn vẹn dưới mắt tôi gần hơn, gần hơn… và tôi xốc lại balô. Gần nửa giờ bay, tôi về lại cái tỉnh lỵ thân thuộc của mình. Một thoáng náo nức chạy ùa vào lòng. Chỉ hơn một tháng thôi mà, có lâu lắc gì cho cam. Tôi bước ra cầu thang, từng bước một chầm chậm hít thở cái không khí mằn mặn quen thuộc. Phi trường Rạch Sỏi nhỏ xíu và tĩnh lặng như một bến xe miền quê. Bước vào nhà chờ đợi, tôi đưa mắt nhìn quanh bổng có tiếng ai đó gọi:
         

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG III -

CHƯƠNG III.
LÊNH ĐÊNH NGÀY THÁNG, MỎNG CƠM ÁO

                                                    Nắng mưa là chuyện của trời
Lu bu là chuyện của tôi. Mắc cười.
Đi vào chỗ hiểm rong chơi
Mộng mơ thì lớn. Tài thời con con.

Tôi trở về nhà sau gần bốn năm lêu bêu nơi xứ người. Chuyến trở về, tôi ghé lại Sài Gòn, ở đó thêm gần một tháng nữa, nên hành trang nhiều gấp bội so với lúc ra đi vì có bốn bao sách, nhưng chỉ có một ít sách mua ở các quầy sách cũ, còn lại là sách cho, sách tặng và sách xin, thậm chí sách của người ta dạt ra cân ký lô. Người mừng rỡ nhất là ông nội, ông vuốt ve từng ngón tay tôi, hỏi tôi rất nhiều điều về cái khoảng thời gian lêu bêu ấy. Tôi chỉ trả lời cho ông những điều cần thiết. Còn cái chuyện dấn thân quái quỷ, Lan và Người Góa Phụ Trồng Hoa thì tôi dấu nhẹm. Nhưng nếu tôi nói ra thì chắc ông cười một phát và nói “Thằng này nó giống tao“. Cuối cùng ông lại nói gần như là tự nói với chính mình “ Ông dượng tám của mày coi vậy mà hay, mày có cái số mà cái sướng và cái khổ đi liền kề nhau trong tích tắc“. Người mừng rỡ nhì là các em tôi, mừng anh hai thì ít, mừng mấy bao sách thì nhiều. Ba mẹ tôi già đi nhiều, dù còn hơi lâu mới tới ngưỡng năm mươi. Cực nhọc vẫn vây quanh, các em tôi dần lớn lên đỡ đần khá nhiều những cực nhọc cho ba mẹ. Con em út nhỏ hơn tôi những mười hai tuổi, nhìn ông anh cả như người lạ hoắc, lạ huơ. Nhưng rồi cũng sà vào lòng tôi nói huyên thuyên cơ man nào là chuyện. Cô em kế tôi đang học may. Hai thằng em vẫn hằng ngày vừa đi học vừa kéo xe cây kiếm tiền phụ cho ba mẹ. Sau mấy ngày tỉ mẩn mua ván đóng cái kệ sách, tôi bắt đầu đi kéo xe cây và hai thằng em thì đẩy phía sau.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

PHÍA BÊN KIA SÔNG -CHƯƠNG II.-

CHƯƠNG II.
HAY THỜI KHÔNG HAY, TỒI CHƯA TỒI.

Cái mộng văn chương cứ nhạt dần.
Tìm không ra hướng chạy loăng quăng,
Cơm ăn mà nhịn thì xơi cháo,
Áo mặc dù không cũng phải quần.
Lóng ngóng lo toan cơm áo mãi,
Ngẩn ngơ gác lại thẩn thơ luôn.
Nhưng trò chữ nghĩa bỏ không được,
Đem chữ thầy cho tập bán buôn!

 Cuộc sống càng ngày càng khó khăn vì tình hình an ninh ngày càng phức tạp. Ba tôi không thể đi về trên giòng sông ấy nữa. Và tôi, chán phèo cái cảnh ngồi không lại bị ba tôi cằn nhằn. Lúc này, ba tôi rất khó khăn với con cái. Cuộc sống càng lúc càng bẩn chật. Anh em chúng tôi đang tuổi lớn và hằng trăm thứ bà rằn khác đổ vào. Nên chúng tôi hở ra một chút là bị rầy.
  Thế là tôi đi bụi.
  Việc tôi tập tành làm thơ đã tạo nên một sự cố khá buồn cười. Những bài thơ được làm và được gởi đi đăng báo, mà báo có đăng hay không thì tôi không bao giờ biết. Vì những tờ báo tôi được xem thường là coi cọp, mà coi cọp thì một bữa có năm mười bữa không. Còn báo mua thì không bao giờ có tiền để mua. Với lại lúc này thơ đăng không có nhuận bút. Đúng là thơ rẽ hơn bèo. Ồ. Mà có giá cả chi đâu mà mắc với rẻ.
  

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

PHÍA BÊN KIA SÔNG -CHƯƠNG I -

NGUYỄN HIỀN QUÁN TÂM

PHÍA BÊN KIA SÔNG
PHẦN I


天 何 言 哉 !
四 時 行 焉 .
百 物 生 焉 .
天 何 言 哉 !
論 語

“ Thiên hà ngôn tai!”
     “ Tứ thời hành yên,”
     “ Bách vật sinh yên,”
“ Thiên hà ngôn tai!”
                   Luận Ngữ