Người theo dõi

Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021

Huyền Quang thiền sư

 



Huyền Quang thiền sư

Huyền Quang thiền sư 玄光禪師 (hay Huyền Quang tôn giả, 1254-1334) tên thật là Lý Ðạo Tái 李道載 (có sách chép Trần Ðạo Tái, Lý Tái Ðạo). Ông người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sinh năm Giáp Dần (1254), mất ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334).

Theo "Tổ gia thực lục" trong "Tam tổ thực lục" thì từ nhỏ ông đã có khiếu văn chương, năm hai mươi tuổi đỗ khoa thi hương và năm sau lại đỗ đầu khoa thi hội. Được bổ dụng vào Viện nội hàn, từng tiếp sứ Bắc, rất nổi tiếng về thơ văn. Nhưng không bao lâu ông một mực xin từ chức đi tu. Được người đứng đầu dòng Thiền Trúc lâm lúc bấy giờ là Trần Nhân Tông rất quý mến, giao cho Pháp Loa hướng dẫn. Về sau ông trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền này.

Huyền Quang là một nhà sư đồng thời là một thi sĩ có tiếng đời Trần. Thơ ông rất đậm chất trữ tình. Các nhà phê bình đời trước như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều khen thơ ông "ý tinh tế, cao siêu", "lời bay bướm, phóng khoáng". Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con người tôn giáo. Xung quanh thân thế ông có nhiều giai thoại khá hấp dẫn, đã trở thành những câu chuyện dân gian được lưu truyền rộng rãi, và cũng đã từng được nhà văn đương thời ghi lại dưới hình thức một truyện truyền kỳ, lý thú, đi vào kho sách vở nhà Phật từ nhiều thế kỷ nay.

Tác phẩm hiện còn 24 bài thơ, trong số đó có bài "Xuân nhật tức sự" gần đây được xác minh là thơ thiền đời Tống, một bài phú Nôm, sách vở cũ cho biết ông còn có các tác phẩm "Chư phẩm kính", "Công văn tập", thư từ tiếp sứ và tập thơ "Ngọc tiên tập" nhưng nay đều đã thất lạc.

Một số sách còn chép ông chính là tác giả câu thơ nôm cảm khái về nhân tình thái thế khá chua chát sau đây:

Khó khăn thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗ trạng, tám nghìn nhân duyên.

https://www.thivien.net/Huy%E1%BB%81n-Quang-thi%E1%BB%81n-s%C6%B0/author-ky6a-6Hq9AEiujrHK0DNTQ

 

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

Những vị nữ vương công chúa Việt

 

Những vị nữ vương công chúa Việt 
Trần Thị Hồng Sương

“… Không phải tình cờ mà phụ nữ đã đạt được đến đỉnh cao tri thức để có thể bày tỏ thân phận con người trong lốc xoáy chiến tranh độc tài xâm chiếm lãnh thổ …”



Lịch sử là quá khứ đã chết hẳn song vẫn ghi dấu lên nhân cách và hành động của con người qua dòng sinh mệnh của truyền thống, làm nên bản sắc dân tộc. Nhìn từ góc khác thì có người cho rằng văn hoá là những gì còn lại sau khi đã quên hết. Trải nghiệm của cuộc sống hay qua học hỏi được tiêu hoá chọn lọc đào thải mất dấu trong ý thức nhưng và ghi dấu trong tiềm thức, hình thành niềm tin và quan điểm rất sâu sắc mạnh mẻ nhiều hơn chúng ta từng nghĩ. Đã có thống kê kết luận rõ về những đứa trẻ bất hạnh lớn lên với đòn roi nhục mạ, nếu không tự tử chết như năm bé gái cột tay nhau nhảy xuống sông thì nhân thân cũng dễ phạm tội hơn nhiều lần những trẻ có tuổi thơ ít đau khổ hơn.

 
Đắm mình trong nền văn minh lúa nước “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, trong chiến tranh chống xâm lược phương Bắc là Trung Hoa (“Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng!”), rồi đến sự đa dạng văn hoá quốc gia khi Đại Việt có thêm cư dân người Chăm Pa và Khmer.


Gây chiến chính là một trong những “sự đồi trụy của quyền lực đàn ông”, chủ đề xuyên suốt của các tác phẩm của hai nhà văn nữ: Herta Müller (Đức gốc Roumania) đoạt giải Nobel 2009 “đã miêu tả phong cảnh của mảnh đất bị tước quyền sở hữu” gây ra nhiều phận người mang nỗi lòng tha hương ít nhiều lạc lõng, và giải Man Booker năm 2009 được trao tặng cho nhà văn Anh Hilary Mantel, với tác phẩm Wolf Hall (Đại sảnh sói)... Không phải tình cờ mà phụ nữ đã đạt được đến đỉnh cao tri thức để có thể bày tỏ thân phận con người trong lốc xoáy chiến tranh độc tài xâm chiếm lãnh thổ


Từ điểm nhìn này, bài viết muốn xem lại một bức tranh sơ thảo khi tìm hiểu những phụ nữ Việt Nam từng mang sứ mệnh và ghi dấu ấn vào lịch sử, và đặt lại một vài câu hỏi cho những nhà sử học.

 

*


Hai Bà Trưng: Trang sử Việt Nam được mở đầu năm 40-43 bằng chiến thắng quân xăm lược phương Bắc của Hai Bà Trưng: Trưng Trắc và Trưng Nhị (40-43) và mẹ là Bà Man Thiện theo cổ sử thời này người Việt chưa có họ chứ không phải họ Trưng hay họ Man. Nam Man là tiếng Trung Quốc hay gọi người Việt cổ dần dà chuyển theo đơn âm nên gọi người Việt cổ là “Mán” kiểu Trung Quốc gọi người Việt cổ lạc hậu man rợ. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương. Quân Hán sang đánh và Bà Trưng đã kháng cự. Cuộc kháng chiến chống quân nhà Hán và hai bà đều tử trận song hai bà vẫn kịp trở thành biểu tượng, sừng sững một tượng đài kháng chiến chống ngoại xăm phương Bắc làm nên niềm hảnh diện sâu thẫm trong lòng từng người dân Việt, trường tồn trong dòng sinh mệnh dân tộc thành ngọn lửa truyền thống chống ngoại xâm. 

“Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy.” (Lê Văn Hưu)


“Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai hoạ. Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực chính đại ấy ư?”( Ngô sĩ Liên )


“Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm ru!” ( Vua Tự Đức)


Việc những người đàn ông thuộc hàng danh tài sử gia vua chúa đều khen và học tấm gương của Bà Trưng cũng đã đủ để thấy những trang sử Việt này đáng trân trọng dường nào và đáng để lấy làm biểu tượng cho nền văn hoá Việt và xuất hiện chốn công đường. Trong đại sảnh, phòng khách chốn công đường như trước 1975 thường không thiếu bức tranh sơn mài truyền thống cội nguồn dân tộc vẻ cảnh dân quân cùng hai bà Trưng cưỡi voi đi đánh giặc. 


Vậy nên phải đòi lại công bằng và trung thực. Hoàng cung Huế, Văn Miếu, Dinh Độc Lập lẽ ra phải sinh tồn và tiếp nối lịch sử như điện Buckingham ở Anh, chứ sao lại là di tích, hàm ý xoá bỏ một thời kỳ như thể có đối kháng không có thể nào tìm ra khớp nối với lịch sử?



Tử cấm thành Trung Quốc ghi dấu 300 năm người Hán phải cạo nửa đầu cúi mặt khấu lạy ngoại bang Mãn Châu thống trị bằng bạo lực kinh hoàng nên người Hán có lý do biến nơi đó thành di tích. Nhưng cần tách chủ nghĩa đô hộ, phát xít, Cộng Sản chiến tranh ra khỏi những di chỉ văn hoá không mang nội hàm đó. Văn hoá nghệ thuật văn chương có thể dùng phục vụ chính trị và cũng có thể không có nội hàm chính trị nào. Những thứ không liên quan đến chính trị như một kiến trúc dinh thự lâu đài, một bài nhạc, một bài văn thì không thể phá huỷ vất bỏ. Hiện nay, trong Dinh Độc Lập không còn bóng dáng những bức tranh hoành tráng một thời. Tôi là một trong đoàn sinh viên Dược Khoa dự buổi chiêu đãi của đệ nhất phu nhân VNCH Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tại phòng Đại Yến Dinh Độc Lập, và bức tranh lớn trong phòng Đại Yến (nếu tôi nhớ không lầm, và nếu không do VNCH có thể sử dụng nhiều bức tranh thay đổi) là bức tranh Hai Bà Trưng đánh đuổi nhà Hán. Bức tranh này ở Dinh Độc Lập nay không thấy đâu! Hiện nay thay bằng tranh phong cảnh không có chút ý nghĩa nào. Như vậy mà nói xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc là dân tộc nào? Một điều chắc chắn nhất là không chốn công đường nào ngày nay treo tranh cảnh dân quân cùng hai bà Trưng đánh giặc như công sở VNCH thường treo trước 1975. Với truyền thống và hiểu rõ mưu đồ Trung Quốc với miền Bắc, ông Dương Văn Minh dứt khoát từ chối lời đề nghị của đại sứ Pháp Merillon trong biến cố 30.4.1975 là nhờ Trung Quốc áp lực để Pháp thương lượng buộc CS miền Bắc tuân thủ hiệp định Paris. 

Thứ hai là lá cờ VNCH cờ vàng ba sọc đỏ bằng gỗ trên tường ở phòng Trình uỷ nhiệm thư trong Dinh Độc Lập . Vì sao phải bôi bỏ? Di tích lịch sử mà thay đổi thì còn ý nghĩa gì về lịch sử? Ta có thể nào viết lại lịch sử VN mà bỏ đi thời VNCH không? Buồn thay, một lần nữa lá cờ đỏ sao vàng lại xuất hiện trong phim Nữ điệp báo nói về phong trào Cộng Sản trước Mao Trạch Đông (dù thoáng qua hơn phim Vạn lý trường chinh vài năm trước đây) đang chiếu trên đài Truyền hình VN. Đề nghị, nếu từng vì bất cứ lý do gì nghiệt ngã đến độ phải copy lá cờ dấy binh CS của Trung Quốc thì ngành quân sử, sử học, hoạ sĩ VN lẽ nào tiếp tục yếu kém đến độ không vẽ nổi một lá cờ riêng? CSVN không sợ bị mang tiếng nô lệ văn hoá Tàu đến mất thể diện quốc gia vậy sao?


Thời VNCH có một cuộc thi rất hào hứng cho giới trẻ, đó là thi viết diễn từ đọc trong Lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng hàng năm. Tôi đã tham dự và bị giải nhì do lời bình luận gây tranh luận trong giới chấm thi được cho là mới mẻ nhưng táo bạo, khó chấp nhận đưa ra công luận đọc trước công chúng! Hồi đó tôi viết: “Nếu nước Pháp tôn vinh Jeanne d’Arc là bậc thánh và cho rằng: “Lòng yêu nước xuất phát từ trái tim phụ nữ!” thì với công nghiệp Hai Bà Trưng vừa thắng quân nhà Hán vừa đưa Việt Nam ra khỏi thời huyền sử mông muội, bước vào thời đại có lịch sử, người Việt có thể kết luận là “Lòng yêu nước và nền văn minh Việt Nam xuất phát từ trái tim và khối óc của những những người phụ nữ!”. Đó là câu đánh giá đến nay ngẫm lại cũng không sai tuy có vẻ nên thêm vào câu “với sự góp công sức và trí tuệ toàn dân” cho tròn ý. 


Với Jeanne D’Arc của thế kỷ 15 (1412-1431) khi Pháp nỗ lực tìm bản sắc của mình sau các cuộc biến động chiến tranh chính trị làm đất nước tan hoang lòng người suy sụp, tìm kiếm một anh hùng chân chính, không có tai tiếng thì Jeanne d’Arc xuất thân từ một làng quê hẻo lánh, một cô thôn nữ thất học nhưng đánh thắng quân Anh xâm chiếm mà thành xuất chúng khi còn chưa quá tuổi thiếu niên đã đáp ứng được các tố chất đó và được phong thánh. Việt Nam đã có anh hùng tài đức vẹn toàn là Hai Bà Trưng từ thế kỷ thứ nhất là rất đáng tự hào! 


Lịch sử Viêt Nam bắt đầu từ Hai Bà Trưng chứ không phải Vua Hùng. Mười tám Vua Hùng là huyền sử nhuốm màu huyền thoại thần thánh kém tính khoa học. Ông Nguyễn Tất Thành có lẽ không muốn biết sử lập quốc Việt Nam do Hai bà Trưng viết những trang sử đầu và công bảo vệ đất nước chống Trung Quốc vào thế kỷ thứ I, hay vì sợ mà ngày nay chỉ nói đến vua Hùng? Nhưng dân VN vốn thông minh và chống xâm lược pghương Bắc ăn sâu tiềm thức nên nói đến các vua Hùng cũng chỉ nói nhiều đến Trọng Thuỷ-Mỵ Châu!


Nữ vương Lý Chiêu Hoàng cho thấy Đại Việt xưa không phân biệt Nam nữ so với hoàng gia Nhật Bổn đến nay 2009 còn không đồng thuận việc có nữ vương. Lý Chiêu Hoàng sinh năm 1218 lên ngôi lúc 7 tuổi 1224. Năm 1225 nhường ngôi cho Trần Cảnh và làm hoàng hậu. Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng lấy nhau 12 năm không con nên Trần Cảnh bị ép lập hoàng hậu khác là cũng là chị gái đang có mang với Trần Liễu. Trần Cảnh không đồng ý nhưng cũng bị ép lập Thuận Thiên làm hoàng hậu


Công chúa Mai Hoa là con của vua Lê Anh Tông (1556-1573) và là chị gái của vua Lê Thế Tông (1573-1599). Vua cha bị Trịnh Tùng đuổi bắt và giết chết, lúc 42 tuổi (1573), vua Lê Thế Tông (1573-1599) là con lên ngôi. Vì vua em này lên ngôi lúc 7 tuổi, nên chị là Mai Hoa được cử làm nhiếp chính. Là người có nhiều thế lực nhưng công chúa Mai Hoa cũng nổi tiếng đức độ, thuỳ mị và có lòng bác ái. Công Chúa Mai Hoa là Mẹ bề trên của Tu viện Đức Mẹ Vô Nhiễm đầu tiên tại Việt Nam. Công Chúa Mai Hoa còn được gọi là công chúa Chiêm vì là con bà phi người Chăm Pa, cũng gọi là “Công Chúa Chè” vì có công phát triển nghề trồng chè


Ngược dòng cổ sử thời nhà Lý tại vùng thượng du Bắc Việt nhiều nhóm thị tộc Mán Mường và thiểu số khác chiếm cứ và sinh sống trên những vùng miền có tính yết hầu chiến lược. Triều Lý có chính sách chiêu dụ và tạo thêm vây cánh, thắt chặt tình thân thiện với các thị tộc này bằng cách đem gả các công chúa cho các thủ lãnh Châu mục. Vào Năm 1029 vua Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho châu mục Lạng Châu (Lạng Sơn) là Thân Thiên Thái, 1036 Vua Lý Thái Tông lại gả công chúa Kim Thành cho châu mục Phong Châu (Phú Thọ, Sơn Tây) là Lê Tông Thuận và gả công chúa Trường Ninh cho châu mục Thượng Oai là Hà Thiện Lãm. Năm 1082, Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho Châu mục Vị Long (Tuyên Quang) là Hà Di Khánh, năm 1127 gả công chúa Diên Bình cho thủ lãnh phủ Phú Lương (Thái Nguyên) là Dương Tự Minh, vào năm 1144 chính Dương Tự Minh lại cưới thêm một công chúa Thiều Dung. Như vậy trong suốt triều đại nhà Lý đã có sáu công chúa được gả cho các châu mục có họ Thân, Hà, Dương, Lê. Những họ này là của người Mường, Mán -tức người Việt Nam trên miền cao, vì lý do gì đó sống tách biệt trên rừng hùng cứ một phương và có khả năng quân sự triều đình phải chiêu dụ. Châu mục là Tù trưởng một huyện miền núi. Chính các Châu mục này đã ngăn chặn trấn thủ biên giới phía Bắc. Giáo sư Phan Khoang ghi chú thêm như sau: “Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng du Bắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiếm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long...”.

Những dòng trên có thể xem là phản biện cho một số quan điểm sử gia thời trước, vì sử thần Ngô Sĩ Liên từng bàn về cuộc hôn nhân của Công chúa Huyền Trân như sau: “Ngày xưa Hán Cao hoàng vì nước Hung-nô thường quấy phá biên giới, mới lấy con gái của dân làm công chúa gả cho thiền vu, kết hôn với người không phải giống nòi, các tiên nho đã từng chê (...).Còn như Nhân Tôn đem con gái gả cho vua nước Chiêm-thành là nghĩa gì ? Nói rằng nhân khi đi chơi mà chót hứa gả, sợ thất tín, thì sao không làm việc đổi mệnh có được không ? Vua giữ ngôi trời mà thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi mệnh thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi cho đúng lời hẹn ước, rồi lại dùng mưu gian trá cướp lại về sau, thế thì tin ở đâu ?”.


Đầu năm Ất Dậu (1265), lúc đầu quân Nguyên Mông đánh tới Gia Lâm vây hãm Thành Thăng Long, để giảm nhẹ cơn quốc nạn công chúa An Tư được cống nạp cho Trấn Nam Vương Thoát Hoan con Hốt Tất Liệt.


Sau đó Đại Việt phản công và thắng trận. Bên cạnh chiến thắng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn còn có sự hy sinh thầm lặng của Công Chúa An Tư nhà Trần, em gái út của Trần Thánh Tông. Số phận vị công chúa này ra sao không rõ. Có tài liệu nói công chúa theo Thoát Hoan về Tàu và có hai người con


Công chúa Huyền Trân: Năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân lấy công chúa Huyền Trân và đổi lấy hai châu Ô Lý làm quà sính lễ. Tuy là dải đất lớn nhưng là vùng nắng bỏng cháy da, đất cày lên sỏi đá, gió Lào rát mặt khô cằn và mùa mưa thì hứng bão nên đến nay cũng vẫn là vùng nghèo nhất. Đây không phải là vùng đất làm giàu sinh lợi, cần nhận ra sự thật đó


Công chúa Ngọc Vạn: Vị vua mới lên ngôi của Chân Lạp là Chey Thettha II cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An Nam. Triều đại Chey-Chetta II công nữ Ngọc Vạn, năm 1920 kết hôn với vua Chân Lạp Chey-Chetta II lên ngôi năm 1623-1657. Sau hai lần giúp vua Chân Lạp đánh quân Xiêm, Đại Việt được tặng vùng đất nay là Biên Hoà Sài Gòn. Bà hoàng hậu rất xinh đẹp và có nhiều đức tính được vua Cao Miên cưng quý vô cùng. Bà đã góp nhiều ý kiến hữu ích vào công việc trị nước của vua Chey Chettha II. Tước hiệu đầy đủ là Somdach Prea Preaccac Vodey Prea Voreac Khsattey. Nhờ ảnh hưởng của hoàng hậu mà vua Cao Miên không phản đối khi bà xin cho nhiều người Việt Nam vào giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Cao Miên cũng như cho nhiều người Việt Nam lập hãng xưởng và buôn bán gần kinh đô


Từ năm 1628 đến 1642, quyền lực tại triều đình Oudong nằm trong tay Hoàng thân Outey, người Việt Nam đến lập nghiệp ở các vùng Gia Định, Bà Rịa, Biên Hoà ngày càng đông. Đất rộng người thưa và người Miên không muốn sống chung với người khác văn hoá nên hễ người Việt đến Người Miên vì không muốn sống chung với người khác văn hoá và mạnh hơn nên hễ người Việt đến sống gần họ thì họ bán đất lánh đi nơi khác. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra bắc đến biên giới Chiêm Thành tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hoà ngày nay, đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai


Vào năm 1631 Công chúa Ngọc Khoa lấy vua Chăm Pa Po Romé, một trong những vị vua được người Chăm hoá thần. 


Trong bài ca Chiêm Thành Ni Danak Po Romé có câu: “Vua Po Romé có ba vợ: hai người giống da sậm và một người Việt Nam, cả ba người đều ghen nhau, cãi vã ồn ào trong cung điện nhà vua”. Theo truyền thuyết Chiêm Thành, bà Ngọc Khoa hay Bia Ut đã dùng sắc đẹp mê hoặc Pô Ro mê, khiến ông chặt bỏ cây “kraik”, biểu tượng thiêng liêng của vương quốc Chiêm Thành, vì vậy sau đó vương quốc nầy sụp đổ. 


Theo gia phả chúa Nguyễn thì năm 1651 triều đình Chăm Pa nội loạn giết chết Vua và một Hoàng Hậu. Chúa Nguyễn phải đưa quân trấn áp. Riêng Công Chúa Ngọc Khoa, đối chiếu nhiều sử liệu thì có thể bà bị nhóm phản loạn hành hình vu khống có âm mưu gây hại cho Chăm Pa. 


Theo tài liệu Chăm Pa, “năm 1653, vua Champa là Po Nraop chuẩn bị lực lượng quân sự của mình để tuyên chiến với chúa Nguyễn, thu phục lại khu vực Phú Yên bị rơi vào tay của Nguyễn vào năm 1611. Trước tình thế này, chúa Nguyễn đã gởi một đoàn quân hùng mạnh sang tấn công Champa, tiến đến sông Phan Rang, bắt được vua Po Nraop và cưỡng bách vua này ngồi trong rọ bằng sắt để đưa về Huế. Không chịu để cho nhà Nguyễn đối xử khinh bạc, Po Nraop tự huỷ mình để nêu cao tinh thần bất khuất”.


Cách đối xử với vua Chăm Pa như thế là khinh bạc như thời đất trời con người còn mông muội. Thật ra sự khinh bạc với Vua tù binh này có lý do đặc biệt, nếu thật sự Công chúa Ngọc Khoa bị nhục hình bức tử của kẻ cướp ngôi phản loạn Po Nraop đã giết chết Vua và một bà hoàng hậu người Êđê sau đó giết công chúa Ngọc Khoa. Nếu thật sự có âm mưu, Công chúa Ngọc Khoa đã lấy vua Po Romé từ năm 1631. Vua Po Romé chết năm 1651, không có việc phải chờ đến 20 năm sau, rồi sau khi chồng bà chết 2 năm Chúa Nguyễn mới tiến đánh Chăm Pa khi Chăm Pa đã lọt vào tay vua phản loạn Po Nraop. Thời công chúa Ngọc Khoa hai nước không có chiến tranh không dính dáng gì về việc Chăm Pa tự ý hay bị buộc nhượng đất đai chuộc mạng 20 năm trước 1611.

Lịch sử cho thấy hai năm sau vua cướp ngôi, lấy cớ đòi lại đất đai có thể Po Nraop đã giết và triều đình Chăm Pa Po Nraop vu khống cho Công chúa Ngọc Khoa để che giấu tội phản loạn. Po Nraop chủ động chuẩn bị tấn công Phú Yên Đại Việt năm 1653 nên chúa Nguyễn mới đem quân tấn công, bắt bỏ rọ là hành động không thích hợp với tù binh là một vị vua nhưng có thể hiểu lòng người cha xót con, lòng các quân tướng người Việt xót thương vị công nương nước Việt bị bức tử nhục hình! Đối chiếu với trường hợp trước kia, công chúa Chiêm là Mai Hoa có mẹ người Chăm Pa được giáo dục theo người Việt và đã làm đến chức vị Nhiếp chính vương. Điều này cho thấy trình độ văn hoá và tính nhân văn của Đại Việt quả là có khoảng cách hình thành lối tư duy khác xa nhau hành xử khác nhau.


Nhà truyền giáo Jésuite Joseph Tissanier, theo như Nguyễn Đố dẫn lời, có thể viết sai vì ông không phải sử gia cũng có thể không biết rõ, nhưng Nguyễn Đố nhất thiết phải biết và đính chính nếu có lòng trong thực. Nếu biết mà còn dựa trên sai lầm tán rộng thành hiềm khích là bôi lọ người khác


Tôi hoàn toàn thông cảm nỗi niềm thương tiếc của người Chăm Pa nhìn lại giai đoạn lịch sử đất nước luôn bị chiến tranh dồn ép bởi vì Đại Việt cũng là một nạn nhân của Trung Hoa bị xâm chiếm nhưng cũng thật bàng hoàng khó chấp nhận việc bóp méo lịch sử chỉ để thoá mạ gây ra hiểu lầm nguy hại. Cần hiểu về các vị công nương Việt Nam từng góp sức kiến tạo hoà bình và vào thời đất rộng người thưa nhiều hoang địa, đã mang về cho Việt Nam những vùng đất hoang để khai khẩn lập nghiệp sinh sống trong hoà bình để tôn vinh những người phụ nữ có công với đất nước và kiến tạo hoà bình khu vực


Không nên trách Vua nước Việt vì các cuộc hôn nhân chính trị đều mang nhiều nguy cơ trở thành nạn nhân của các tranh chấp luôn luôn xảy ra trong chế độ quân chủ. Đại Việt xưa có thể viện dẫn nhiều lý do không thật để bảo đảm an toàn cho các công nương bị rơi vào thế không còn ai bảo vệ. Theo lịch sử thì công chúa Huyền Trân sau đó vào chùa tu hành làm sư nữ chứ không có cuộc sống nào khác đang chê trách! Có thể do việc Công chúa Huyền Trân về Đại Việt gây bất bình nên đến khi vua Po Romé chết Chúa Nguyễn không đưa Công Chúa Ngọc Khoa về nước và số phận bi thảm đã đổ lên đời nàng Công chúa Việt Nam


Cần hiểu ra sao, vì sao một người ít nhiều mang tính chuyên gia lại có cách viết quá sai, gán cho vua Chăm phản loạn tự tử Po Nraop thành Po Romé là chồng Công Chúa Ngọc Khoa để từ đó ám chỉ xa gần đến gán tội giết chồng và đặt cả dấu hỏi lên công chúa Huyền Trân về cái chết của Chế Mân dù sính lễ chỉ là vùng đất cày lên sỏi đá miền Trung đến nay vẫn nghèo và khó sống. Dominique Nguyen, tức là Nguyễn Ðố, dân tộc Chăm gốc làng Minh Mỳ, Bình Thuận, cựu sinh viên Sorbonne (Paris), cộng tác viên thuộc Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương. Dominique Nguyen, viết đăng trên tạp chí Champaka như sau: “Sau ngày kết hôn với vua Po Romé, bà ta đã tiếp tay với vua cha ở Phú Xuân hầu cung cấp tin tức liên quan đến chiến lược quân sự của chồng mình. Nhờ tin này, Chúa Nguyễn xua quân chinh phạt Champa bắt được vua Po Romé và nhốt trong rọ sắt. Vì quá hổ thẹn, Po Romé quyết định chấm dứt cuộc đời của mình bằng cách tự tử mà một người truyền giáo tây phương Jésuite Joseph Tissanier đã kể lại. 

Sau ngày chết của Po Romé, hoàng cung Champa đưa Bia Ut (Ngọc Khoa) ra pháp lý và kết tội tử hình vì tội phản bội tổ quốc bằng cách đạp đầu bà ta vào bùn lầy cho đến khi tắt thở. Sau đó, cung đình Champa ra lệnh tạc tượng bà ta với tư thế đầu chúi xuống đất để hậu thế không quên vụ án này. Theo Nghiêm Thẩm, tượng Bia Ut vẫn còn vào năm 1960 toạ lạc ở cánh đồng Hamu Biuh (Phan Rang) cách đền Po Romé vào khoảng 8 cây số. Bia Ut, tức là Ngọc Khoa, con của Chúa Sãi Vương bị hoàng cung Champa lên án tử hình vì tội làm gián điệp


Có chăng Huyền Trân cũng mang thân phận như công chúa Ngọc Khoa, tức là bị Champa lên án vì đã nhận sứ mệnh của triều đình Ðại Việt nhằm ám hại Chế Mân để rồi vua Trân Anh Tôn phải tìm mưu kế đưa Huyền Trân về Thăng Long. Ðây chỉ là giả thuyết của chúng tôi mà thôi...
” (Dominique Nguyen, “700 năm cuộc tình Chế Mân và Huyền Trân Công Chúa : 1306-2006”, Champaka, 06/06/2007)

Người Chăm Pa giải thích là chỉ có các vị hoàng hậu người Chăm Pa mới được phép lên dàn thiêu với chồng và là sự tự nguyện nên trách việc Vua nước Đại Việt đem công chúa Huyền Trân về lại Việt Nam với lý do là sợ phải lên dàn thiêu sau khi Chế Mân chết. Cho nên thời vua Po Romé bà hoàng hậu người Chăm lại không lên dàn hoả, không được thờ với vua Po Romé mà Vua Poromé được thờ cùng người vợ sắc tộc Êđê thì chắc hẳn bà hoàng Êđê này bị vua phản loạn cướp ngôi Po Nraop giết chứ không có thể là tự nguyện lên dàn thiêu vì trái với luật hoàng gia Chăm Pa, đúng như tư liệu còn lại ở Việt Nam. Ông vua cướp ngôi giết vua và hai hoàng hậu xứng đáng vào rọ sát vì là tử tội của hoàng gia, chứ không phải tư cách vua thất trận. 


Các nhà sử học ăn lương nhà nước Việt Nam của chế độ hiện nay nghĩ thế nào về những nghi án lịch sử như thế?


 

*


Việt Nam chia cắt Bắc Nam cả một thế hệ (20-25 năm có thể xem là một thế hệ VN), và miền Bắc trong nền lịch sử chính trị chủ trương chiến tranh bức tử truyền thống chứ không phải là một qua trình xem xét chọn lựa



Nhiều phụ nữ miền Bắc lớn tuổi còn lưu giữ phần nào truyền thống gia đình trước 1945. Phụ nữ mang danh cách mạng giai cấp có sự đột biến thành dị thường, hảnh tiến, tự tin mù quáng, tự hào lầm lạc qua hình ảnh các nữ quan toà không biết chữ, thản nhiên chứng kiến giết người để chờ được chia “quả thực“ là giường tủ bàn ghế chén nồi trong CCRĐ. Những phụ nữ này rất khác với tính cách người phụ nữ thường dân Nam bộ và cũng khác phụ nữ miền Nam có danh phận mà điển hình là Nam Phương hoàng hậu khuê danh Nguyễn Hữu Thị Lan và bà Nguyễn Thị Mai Anh phu nhân Tổng thống Thiệu, hai vị một là hoàng hậu và một là đệ nhất phu nhân đều trí tuệ khiêm cung nhân hậu. Riêng bà Ngô Đình Nhu là người phụ nữ thông minh Tây học dám phá lệ, mang tính cách tự tin của phụ nữ Châu Âu hiện đại, át quyền nam giới không e dè, thành thiếu cẩn trọng giữa xã hội còn nặng nam quyền và trong chính trường miền Nam phức tạp luôn bị bóp méo. Bà Nhu bị ghét nhưng khó thể bị chê nếu quy chiếu với tiêu chí của những người phụ nữ hiện đại, dù chưa sánh bằng nhưng giống tính cách tự tin dấn thân vào chính trường của một Hillary Clinton! Thời gian chứng minh những gì mà chính trị gia báo chí miền Nam và phong trào phản chiến trong ngoài nước trước 1975 nói về bà mới là thiển cận và nhiều việc là vu khống.


Ngày nay khi người dân miền Bắc có khuynh hướng tìm về truyền thống xưa nhưng gắn kết vào khớp nối lịch sử văn hoá xa xưa còn thấm đẫm sắc màu dị đoan hủ tục chứ không phải là tính hiện đại của thế kỷ công dân trong khoa học và luật pháp nên cũng không có tác dụng tích cực qua các lễ hội màu mè loè loẹt đồng bóng. Tuy nhiên việc hiện nay có quan tâm bảo tồn khôi phục trùng tu đền các danh nhân là việc làm đáng hoan nghênh, ví như đền Hai Bà Trưng ở tương truyền có từ thế kỷ XII [1].


Việt Nam mơ ước tiếp cận văn minh qua phong trào Đông Du và Tây học. May mắn thay sau 1955-1975 đã từ quân chủ chuyển sang dân chủ là chế độ VNCH. Mỹ giúp nhẹ nhàng gỡ tay đô hộ Pháp không tốn một chút máu xương. Ông hoàng Bảo Đại với tầm cao tri thức và cùng hoàng gia giàu lòng yêu nước đã giúp Việt Nam một bước chuyển biến rõ nét


Nhiều người nhận ra vai trò khá lớn của phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện tại đã nói đùa: “Ở Việt Nam còn chế độ mẫu hệ ngoại trừ việc con không theo họ mẹ!”. [2] Thật ra phụ nữ miền Nam đã từng ít bị phong kiến hủ tục bủa vây so với miền Bắc miền Trung là thủ đô của chế độ phong kiến và so với Trung Quốc mà thôi. Ở VN đến nay tuy không bạc đãi con gái song không muốn gia đình thiếu con trai. Con trai vẫn được hưởng gia tài nhiều hơn và có trách nhiệm thờ tự trong gia đình.


Chính bạo lực chiến tranh hình thành chế độ phong kiến mà tâm lý phụ nữ không tương thích nên bị đẩy xuống hàng thứ yếu mở ra lối sống trọng nam khinh nữ. Nhưng không có nước nào mà phụ nữ luôn có vai trò trong chiến tranh như suốt dọc dài lịch sử đất nước Việt Nam.

Trần Thị Hồng Sương

© Thông Luận 2009 [1] Nhân vớt được tượng Hai Bà, vua Lý Anh Tông cho lập đền thờ Hai Bà ở bãi Đồng Nhân, trên bờ sông Hồng, khi đó thuộc phường Bố Cái.

 
[2] So sánh với một câu nhận định tinh tế hơn câu nói đùa nhuốm mùi cay đắng về thang ưu tiên trong xã hội Mỹ: “Thứ nhất trẻ con, thứ hai người già thứ ba phụ nữ thứ tư chó mèo, thứ năm đàn ông!”

 

http://e-cadao.com/Nhanvatnu/nhungvinuvuongcongchuaviet.htm

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2021

Ngày Xuân đi chùa xưa

 

Lực bực trong lòng, lão phu chạy loanh quanh thành phố Rạch Giá, gặp thằng bạn già rủ đi chùa. Ừ thì đi, biết đâu lời kinh tiếng kệ cùng những hồi chuông chiêu mộ làm cho lòng yên tĩnh lại. Nhưng trời ạ! Yên tĩnh đâu chẳng thấy, chỉ thấy lòng thêm lực bực.

Thế là lão phu vội vã quay về và đi chùa xưa, hay đúng hơn là theo chân các cụ đi chùa quê. Những ngôi chùa dung dị, tĩnh lặng



 

題嘉林寺

心灰蝸角夢,
步履到禪堂。
春晚花容薄,
林幽蟬韻長。
雨收天一碧,
池凈月分涼。
客去僧無語,
松花滿地香。

 

Đề Gia Lâm tự

Tâm khôi oa giác* mộng,

Bộ lý đáo thiền đường.

Xuân vãn hoa dung bạc,

Lâm u thiền vận trường.

Vũ thu thiên nhất bích,

Trì tịnh nguyệt phân lương.

Khách khứ tăng vô ngữ,

Tùng hoa mãn địa hương.

Trần Quang Triều

 

ĐỀ CHÙA GIA LÂM

Giấc mộng bon chen đã nhạt

Rảo chân dọc theo hiên chùa

Xuân tàn sắc hoa dượm úa

Rừng vắng tiếng ve gọi hè

Mưa tạnh khung trời chợt biếc

Hồ trong bóng nguyệt lại về

Khách đi và sư không nói

Thông buông hương xuống bốn bề.

Quán Tâm. Nguyễn Hiền Nhu

 

梅村廢寺

荒草前朝寺,
秋風舊戰場。
殘碑沉暮雨,
古佛臥斜陽。
石室藏雲衲,
花臺供野香。
應身無處所,
與世共興亡。

 

Mai thôn phế tự

Hoang thảo tiền triều tự,
Thu phong cựu chiến trường.
Tàn bi trầm mộ vũ,
Cổ Phật ngọa tà dương.
Thạch thất tàng vân nạp,
Hoa đài cúng dã hương.
Ứng thân vô xứ sở,
Dữ thế cộng hưng vong.

 

Chùa Hoang Ở  Xóm Mai

Xanh úa cỏ loang chùa cũ

Chiến trường xưa gió thu đùa

Phật đài long lanh bóng ráng

Lất phất bia tàn, hạt mưa

Nhà đá khói mây mờ phủ                           

Hương đồng quấn quýt đài hoa

Một thân không nơi nương tựa

Còn mất theo đời đong đưa

Quán Tâm. Nguyễn Hiền Nhu

 

 

安子山龍洞寺

蒼蘿寒磴苦躋攀,
才到松門便解顏。
一簇樓臺藏世界,
四時花鳥別人間。
隔林有恨猿啼月,
倚榻無言僧對山。
安得身輕除物累,
紫霄峰頂伴雲閒。

阮忠彥

 

Yên Tử sơn Long Động tự

Thương la hàn đặng khổ tệ phan,
Tài đáo tùng môn tiện giải nhan.
Nhất thốc lâu đài tàng thế giới,
Tứ thời hoa điểu biệt nhân gian.
Cách lâm hữu hận viên minh nguyệt,
Ỷ tháp vô ngôn tăng đối san.
An đắc thân khinh trừ vật luỵ,
Tử Tiêu phong đỉnh bạn vân nhàn.

Nguyễn Trung Ngạn

 

Chùa Long Động trên núi Yên Tử

Dốc lạnh, bìm vương khổ bước chân

Đến chùa chợt thấy nhẹ lâng lâng

Tháp đền u nhã xa ô trọc

Năm tháng chim hoa cách cõi trần

Bên tháp Sư ngồi yên ắng núi

Dưới trăng vượn hót, xót xa rừng

Buông tay, phiền phức đều rơi xuống

Gió núi mây nhàn hóa bạn thân

Quán Tâm. Nguyễn Hiền Nhu

 

 

春夜野寺

和煙芳草綠凄凄,
彷彿僧家住隔溪。
忙裏不知春幾許,
滿庭龍蕊曉鶯啼。

 

Xuân dạ dã tự

Hòa yên phương thảo lục thê thê,
Phảng phất tăng gia trụ cách khê.
Mang lý bất tri xuân kỉ hứa,
Mãn đình long nhị hiểu oanh đề.

Nguyễn Trung Ngạn

 

Đêm Xuân Trong Chùa Quê

Cỏ biếc thơm thơm hòa khói nhạt

Qua khe loáng thoáng bóng sư già

Mãi vui xuân đến quên ngày tháng

Hoa nhãn đầy sân oanh hát ca

QT. Nguyễn Hiền Nhu

 

Chùa xưa lặng lẽ và an tĩnh. Con người, vạn vật, chuông mõ kinh kệ là một thể duy nhất hòa quyện vào nhau làm nên một vận hành thông suốt bình an

 

仙遊山萬福寺

佛祖壯嚴侈萬金,
松風吹起海朝音。
雲藏古寺山南北,
塔倚層霄世古今。
汲澗歸僧行木杪,
聽鐘眠客倚花陰。
爛柯問著仙碁事,
石上苔花積漸深。

 

Tiên Du sơn Vạn Phúc* tự

Phật tổ trang nghiêm xỉ vạn câm (kim),
Tùng phong xuy khởi hải trào âm.
Vân tàng cổ tự sơn nam bắc,
Tháp ỷ tằng tiêu thể cổ câm (kim).
Cấp giản qui tăng hành mộc diểu,
Thính chung miên khách ỷ hoa âm.
Lạn Kha* vấn khước tiên gia sự,
Thạch thượng đài hoa tích tiệm thâm.

Nguyễn Trung Ngạn

----------------------------------------------------

  *Chùa Vạn Phúc (Phật Tích) có tên là Thiên Phúc tự. Năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057), Lý Thánh Tông cất lên tháp cao ngàn trượng, dựng pho tượng Phật tổ mình vàng cao 6 thước xây chùa hơn trăm toà. Đến đời Trần, chùa đổi thành Vạn Phúc tự, chùa nằm ở sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn. 

** Nghĩa là cán búa nát, ghi lại tích Vương Chất lên núi đốn củi, gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem đến mức cán búa nát, ở trần gian đã qua 7 đời. Trên núi Lạn Kha còn tảng đá mặt phẳng lì gọi là bàn cờ tiên.

 

Chùa Vạn Phúc ở núi Tiên Du

Cõi Bụt nguy nga quá tốn tiền

Gió tùng, biển sóng thổi triền miên

Tuôn mây bốn phía chùa xưa khuất

Trải cuộc xưa nay tháp cũ còn

Sư gánh nước về cây thấp thoáng

Chuông lay hoa rụng khách mơ màng

Chuyện xưa cán búa tiều phu mục

Rêu biếc trùm xanh đá mấy hòn

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

 

 

重到瓊林碧洞庵留題

花表風吹騎去鶴,
草蘆雲護臥岡龍。
蒼生一念堪惆悵,
月冷瓊林半夜鍾。

 

Trùng Đáo Quế Lâm Bích Động Am Lưu Đề

Hoa biểu phong xuy kỵ khứ hạc,
Thảo lư vân hộ ngọa cương long.
Thương sinh nhất niệm kham trù trướng,
Nguyệt lãnh Quỳnh Lâm bán dạ chung.

Nguyễn Sưởng

 

Viết Khi Đến Am Bích Động ở Quỳnh Lâm

Gió vờn lay lắt cội hoa

Ơi người cưỡi hạc bay xa xa rồi

Nhà tranh mây phủ bời bời

Rồng nằm lưng núi ngắm trời trống không

Thương dân mà buốt cả lòng

Chuông rung bóng nguyệt lạnh thềm Quỳnh Lâm

QT. Nguyễn Hiền Nhu

 

訪僧

罷脫塵中簿牒忙,
暫攜僚吏訪僧房。
碧溪雪凈茶甌爽,
紅樹風多竹院涼。
徐步要窮終日興,
清談為解十年狂。
詩禪勘破聊歸去,
一路蒲花荻葉芳。

 

Phỏng Tăng

Bãi thoát trần trung bạ điệp mang,
Tạm huề liêu lại phỏng tăng phường.
Bích khê tuyết tịnh trà âu sảng,
Hồng thụ phong đa trúc viện lương.
Từ bộ yếu cùng chung nhật hứng,
Thanh đàm vi giải thập niên cuồng.
Thi thiền khám phá liêu quy khứ,
Nhất lộ bồ hoa địch diệp phương.

Phạm Mại

 

Thăm Sư

Thoát cảnh lu bu mới chạy rông

Rủ rê bạn cũ đến chùa không

Trúc xanh cây đỏ long rong gió

Suối biếc trà thơm sóng sánh giòng

Chậm rãi bước đi ngày khoai khoái

Tha hồ cười nói chuyện lông bông

Thiền thơ thấm ý  xin từ tạ

Sậy cói đưa hương loáng thoáng nồng

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

 

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2021

Hiến Chương Giáo Dục

 

Tên giáo gian Phùng Xuân Nhạ sẽ mất chức. Vấn đề không phải ai là Bộ Trưởng. Mà vấn đề là cái nền Giáo Dục Đào Tạo Tiến Sĩ Dỏm đang là quốc sách để đào tạo con người XHCN. LTD gởi đến các bạn một tác phẩm của nhà giáo Phạm Kim Định (1914-1997)




Hiến Chương Giáo Dục

Kim Định

Mục Lục


TỰA

I. ĐẠI CHÚNG LẤN ÁT DÂN TỘC

II. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN VĂN HÓA GIÁO

DỤC TÂY ÂU

III. TỪ CỔ ĐIỂN TỚI TRỤC VẬT

IV. TỪ HUẤN LINH TỚI BÁC VẤN

V. TÌM HIỂUCHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VÀ THI CỬ

NƯỚC NHÀ

VI. SÁCH DÂN TỘC

VII. HỌC KINH ĐIỂN VÀO TUỔI NÀO?

VIII. VẤN ĐỀ CHỮ NHO

IX. ĐỊA VỊ TRIẾT TRONG GIÁO DỤC

X. VIỆT VĂN LÀ CHƯƠNG TRÌNH VIỆT

XI. NGUYÊN TẮC HƯỚNG DẪN VIỆC PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH

XII. VẤN ĐỀ TRƯỜNG CÔNG

KẾT

PHỤ TRƯƠNG

 

TỰA

Nền giáo dục trên toàn cầu hiện đại có hai khuyết điểm và cả hai đều ở mức độ trầm trọng có thể gây xáo trộn trong đời sống: một là chương trình quá nặng về bách khoa, mà quá nhẹ về chuyên môn, hai là thiếu một chủ đạo hướng dẫn đời sống tinh thần. Điểm thứ nhất tương đối dễ sửa vì nó thuộc thành công, hiện hình ngay ra trong hậu quả có thể đo đếm kiểm chứng, vì thế nhiều nước đã sửa được rồi, thí dụ: Nga, Mỹ, Anh, Đức; còn chưa cải tổ thì như Pháp và sau đây là thí dụ hậu quả: trong 170 phát minh từ thế chiến đến nay thì Mỹ chiếm 62%, Anh 17%, Đức 14% còn Pháp 2% (Nhân đọc báo dịp Pháp bị khủng hoảng tháng 5/1968 nay không nhớ hẳn. Nhưng nếu có sai ít chút thì là về Anh và Đức).

Điểm thứ hai trầm trọng hơn nhiều vì thuộc thành nhân hay nghệ thuật sống thì chưa đâu tìm ra đầu mối để cải tổ. Quyển giáo dục của Henri Adam một sách uy tín vào bậc nhất trong vấn đề giáo dục bình luận về nền giáo dục Mỹ như sau: “hết chín phần mười chương trình là vô ích, còn một phần thì có hại. Tất cả đều không dẫn người học đi vào sự chín chắn nào cả mà chỉ làm cho trượt ngã trong mọi địa hạt vì không một mối ràng buộc cấu kết nào, nhưng chỉ là một đống những mảnh đổ vỡ”. Vì thế con người thời đại đang cảm thấy xao xuyến, khắc khoải, lo âu cám cảnh như kẻ không nhà không cửa, không quê nước.

Quyển này nhằm đóng góp vào việc cải tổ chương trình giáo dục, nhất là ở điểm hai bằng cách đề nghị một cơ sở tinh thần cho nền giáo dục và văn hóa. Cho tới nay thường các sách viết về giáo dục chỉ bàn rộng ở hai đợt đầu là phươg pháp (dạy cách nào cho học sinh dễ hiểu dễ nhớ) và hành chánh (về các giải pháp, tổ chức…) còn về triết thì bàn rất ít. Lên tới cấp hiến chương thì hầu chưa. Bởi vì muốn nói tới hiến chương là phải đưa ra một cơ sở tinh thần làm nền móng cho giáo dục mà hiện cái đó còn chưa đặt xong. Quyển này muốn bàn đến chuyện đó, nên xin độc giả đừng coi đây như một vận động cải tổ chương trình suông, nhưng nó là, nó phải là một sách trong bộ triết nhân sinh bàn về những vấn đề quan trọng liên hệ tới giáo dục. Chính vì muốn nó là như thế nên chúng tôi đã vượt qua ngần ngại để gọi nó bằng một tên có phần to tát là “HIẾN CHƯƠNG GIÁO DỤC”. Xin độc giả hiểu cho đó chỉ là một lối neo chú ý. 3 Hiến Chương Giáo Dục - Kim Định www.vietnamvanhien.net

I. ĐẠI CHÚNG LẤN ÁT DÂN TỘC

Dân tộc là gì?

Làm thế nào để duy trì dân tộc tính v.v… Đó là những mối bận tâm không phải chỉ của những dân mới thoát ách đô hộ như nước ta, nhưng còn là vấn đề chung cho nhân loại, và

được đặt ra với một ý thức khốn khổ đau thương hơn hết ở bên Âu Mỹ, nơi mà những khó khăn trong việc mưu sinh đã không còn tính chất quá khẩn trương cấp bách nên thả cho tâm trí con người vươn lên cảm nghiệm được tất cả mọi chiều kích thâm sâu của con người trong đó có vấn đề dân tộc tính.

Vậy thì vấn đề dân tộc là của chung nhân loại như sau đây chúng tôi sẽ trưng một số nhân chứng chẳng hạn Joseph Follier trong quyển Avènement de Prométhée, Karl Jasper trong quyển Situation spirituelle de notre temps v.v…

Nhìn tổng quát nền văn hóa toàn cầu hiện đại người ta nhận thấy đang hiện hình lên một hiện tượng rất đáng ái ngại, đó là sự lấn át mau lẹ của đại chúng tính trên dân tộc tính. Các triết gia xã hội học, tâm lý học… đang lo nghĩ tìm phương thế để duy trì dân tộc tính chống sự tiến triển của đại chúng tính. Đại chúng là gì? Là nhiều cá nhân làm nên một đống, chỉ có giá trị về thể tích, vì đông, ta tạm dịch là đại chúng: la masse. Một nhóm người đi đàng đứng lại xem một tai nạn xe hơi là một đại chúng.

Trái với dân tộc đồng nghĩa với nhân vị mà để được kể là nhân vị thì phải biết tự phán đoán, có sự chín chắn, độc đáo và óc trách nhiệm, có cảm tình mạnh mẽ sâu xa. Đại chúng, như vậy chỉ là đám đông tụ đấy mà tan đấy: không có cơ sở tinh thần bền chặt nên trôi nổi như đám bèo bồng không nơi bám víu không tinh thần trách nhiệm. Khác hẳn với dân tộc có cơ sở tinh thần, có sự liên tục, có truyền thống làm như cột trụ đầy óc trách nhiệm về quốc gia hưng vong. Đoàn thể của dân tộc gọi là công thể (communauté) với ý thức nói lên cơ thể tính, nội khởi tính là những đức tính vắng mặt trong đại chúng, đầy tính chất cưỡng bách, ngoại khởi, hàm chứa những yếu tố như sau:

Banalisation de jugement == sự phán đoán bị đồng đều hóa theo huấn lệnh từ trên ban xuống, thiếu phần độc đáo tư riêng, nên sự phê phán rất nông cạn bì phu.

Vì thế thiếu hẳn sự làm chủ được mình (khắc kỷ = maitrise de soi) mà chỉ có buông lung.

Trong những địa hạt luật pháp tự trên không lo tới thì cá nhân chỉ biết buông xuôi theo những bản năng hạ cấp.

Sống theo bản năng, theo hiện tại và từ chối phong tục (vivre de l’instinct et de l’instant,

l’homme des masses renonce aux coutumes) Av. Prométhée p.46. Jaspers: 4 Hiến Chương Giáo Dục - Kim Định www.vietnamvanhien.net

“Dân tộc bao hàm một phẩm trật, một ý thức về những cách sống, cách suy tư và truyền thống riêng biệt của nó. Nó là một bản thể, có phẩm trật, có hồn. Cá nhân được nó nuôi dưỡng có tư cách một phần nhờ những đức tính của dân tộc mình.

“Trái lại, đại chúng không biết đến phẩm trật, nó vô ý thức, đồng nhất như nhau, chỉ có lượng, không có mẫu người điển hình, không có truyền thống, vô định tính, trống rỗng. Nó là mảnh đất lý tưởng cho sự tuyên truyền, dễ bị xui giục, vô trách nhiệm, trình độ ý thức của nó thấp vào hạng bét. Dân tộc có những sách của nó, trường tồn và đi theo nó suốt đời. Đại chúng rất chóng thay đổi, không có bản ngã, không có sách riêng nó đại diện cho một nếp sống trong đó yếu tố nhân bản phải phân tán.” (Sens et l’origine de l’histoire,

Jaspers p.158-160)

Như vậy, dân tộc là đi lên, đại chúng là đi xuống. Victor Hugo viết: “Còn chuyện a dua đại chúng thì hỡi linh hồn tôi ơi! Nhất định là không. Bởi vì dân tộc ở trên mà đại chúng ởdưới”. Quand à flatter la foule! Oh! Mon esprit non pas. Car le peuple est en haut mais lafoule est en bas. “Hiện tượng đại chúng lan rộng mỗi ngày mỗi mạnh đến độ trở thành mối lo âu cho các nhà thức giả chẳng hạn của một Nietzsche mà Jaspers nhắc nhở trong quyển

Nietzsche của ông rằng:

“Chúng ta không còn sự thống nhất dân tộc trong văn hóa: tính chất của nền văn hóa mớitừ trung cổ trở đi thật đáng ghê sợ (abominable). Giá trị của một dân tộc ở tại chỗ nó in vàođời sống của người dân một con dấu của sự vĩnh cửu” (la valeur du peuple… consiste à imprimer sur sa vie elle même le sceau d’étenité, p.423-424).

Một dân tộc khi thực sự là một dân tộc, thì nó sống trong kỷ niệm rất bao la, với những khả năng về tương lai man mác. Dân tộc càng ngày càng trở nên đại chúng nghĩa là nó tiến đến sự nghèo nàn tinh thần. Tại đâu gây nên sự thể. Có người nhận xét tại vì “ông Cộng bóp cổ bà Thông” (Mr. Lefèbre étouffe Madame Lesage). Nói thế rất trúng nhưng chưa đủ sâu. Chúng ta cần biết lý do tại sao bà lại để cho ông lộng quyền. Có phải tại kỹ thuật lớn mạnh quá mau. Nhưng tại sao văn hóa lại không theo kịp đà tiến kỹ thuật?…

Cần thiết phải đi ngược thời gian để tìm ra căn do ngọn nguồn của hiện tượng này mới mong đề ra được một toa thuốc hữu hiệu. 5 Hiến Chương Giáo Dục - Kim Định www.vietnamvanhien.net

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

Tầm Xuân

 


Tầm Xuân

 

Hốt nhiên nước chảy ngược lên

Gió vung tay vẫy lộc tươm vào nhành

Sương gieo mấy giọt long lanh

Pha thêm sắc biếc cho cành tầm xuân

Nắng tuôn mấy áng trong ngần

Nụ tung cánh nở, rập rờn hương say

Ong vờn cánh, bướm tung bay

Bên hiên có một nụ cười thơm thơm

Sau xuân hoa rửa, trái hườm

Sân trưa rê rủ bầy chim bay về

Lối vô thường ngọt đắm mê

Có câu nhỏ nhẻ “em về với anh”

Nắng mưa dẫu có đành hanh

Đất trời vẫn cứ vi hành êm ru

Mặc cho thiên hạ lu bu

Con đường hoa trái luôn màu xuân xanh

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

Ca Dao Và Lịch Sử

 


 

Ca Dao Và Lịch Sử

Tuệ Chương - Hoàng Long Hải

 ó lẽ trong cuộc sống cũ trước năm 1975, sau khi rời ghế nhà trường, chúng ta không có thì giờ, không có cơ hội để trở lại với văn chương bình dân mà chúng ta đã được học trong chương trình giáo khoa. Qua tới Mỹ, vấn đề văn hóa bỗng trở nên có sự cọ xát mãnh liệt giữa chúng ta và con cái, giữa văn minh Âu Mỹ và văn minh Việt nam nên có nhiều người muốn tìm hiểu lại văn hóa của dân tộc, nhất là trong lãnh vực giáo dục con cái. Điều đó không phải không có khó khăn

Chúng ta lãnh hội ý nghĩa ca dao tục ngữ một cách dễ dàng vì chúng ta lớn lên trong môi trường văn hóa Việt nam. Nói chi xa, chúng ta được giáo dục không những chỉ ở cha mẹ ông bà mà ngay cả nơi bà con, hàng xóm láng giềng. Nói như thế, có nghĩa là chúng ta không chỉ học văn chương bình dân ở ghế nhà trường mà thôi mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, khi con đi học hay khi đã vào đời

Sự cọ xát giữa hai nền văn minh làm cho chúng ta thấy văn chương bình dân VN là hay, nhất là trong ca dao, tục ngữ và muốn truyền thụ lại cho em chúng ta những tinh hoa của người xưa mà một thời vì công ăn việc làm, vì đeo đuổi công danh sự nghiệp, mà chúng ta hầu như lãng quên


Theo các nhà tây phương nghiên cứu văn học VN thì họ cho rằng tục ngữ là cái túi khôn của người VN. Họ tìm thấy trong đó những kiến thức mà một đứa bé mới chập chững biết đi đã được dạy dỗ. Chẳng hạn như câu "Con mèo con chó có lông, ống tre có mắt, nồi đồng có quai." Người lớn, ai chẳng biết như thế. Nhưng với trẻ em mới bắt đầu biết nhận xét, thì những câu nói như thế lại rất ích lợi cho nó. Đứa bé thấy cái lông con chó, thấy cái mắt ống tre, nhưng chưa biết gọi những cái ấy bằng tên gì. Đó là cách dạy cho đứa bé gọi tên những đồ vật trong nhà. Đó chỉ là một ví dụ đơn giản. Ngoài ra, tục ngữ còn dạy ta bao nhiều tri thức khác. Chẳng hạn như về thời tiết thì "Vàng gió, đỏ mưa". "Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão." Nước ta là một nước nông nghiệp. Thời xưa, chưa có đài khí tượng, việc xem xét "thiên văn" để trồng trọt là điều rất cần thiết. Không có kinh nghiệm đó, gieo mạ, cấy lúa (hoặc ra khơi nếu ở vùng biển làm nghề đánh cá) vào lúc chuồn chuồn bay thì sẽ gặp bão

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2021

Hành Trang Cuối Cùng

 

Hành Trang Cuối Cùng

 


Rồi muôn màu sẽ chìm về đâu đó,

Mọi lu bu im bặt giữa muôn trùng

Ta lặng lẽ đi vào nơi chẳng rõ

Hành trang mang theo một tí điên khùng

 

Chút ý thức mỏng manh còn sót lại

Ta chờ người xưa nhỏ nhẻ gọi mời

Hành trình mới đang mở ra lộng lẫy

Hẹn hò nhau tiếp tục cuộc rong chơi.