LANG THANG VỀ
HAI KHOẢNG LẶNG
Quán Tâm Nguyễn Hiền
Nhu
PHẦN I
HỌ HỒNG BÀNG – NƯỚC
XÍCH QUỸ VÀ
NHÀ NƯỚC VĂN
LANG (2879tcn - 43scn)
Sách xưa lần giở
ra xem lại
Người cũ mờ trong
nét chữ mờ
Lời cũ thì thầm
bao nhắn nhủ
Người nay liệu có
nhớ người xưa
Tục truyền rằng
cháu ba đời của vua Thần Nông là Đế Minh đi tuần thú phương nam, gặp nàng tiên ở
núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam Trung Quốc) và sinh ra Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi
cho con là Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng
là Kinh Dương Vương. Đặt tên nước là Xích Quỹ (2879 BC).
Nước Xích Quỹ bắc
giáp hồ Động Đình (Hồ Nam),
nam giáp Hồ Tôn (sau này là Chiêm Thành), đông giáp Nam Hải, tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên).
Kinh Dương Vương lấy
con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là
Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra một bọc
có trăm trứng, nở ra được một trăm con trai. Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu
Cơ rằng:” Ta là giống rồng nàng giống tiên, nên chia nhau mỗi người năm mươi
con, Ta dẫn xuống biển, nàng đưa con lên núi”. Rồi phong cho con trưởng làm
vua. Vua xưng là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu
(Vĩnh Phúc). Tục truyền rằng từ đây ở vùng đất phía Nam sông Dương Tử, còn gọi
là sông Trường Giang, có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống nên gọi là Bách Việt.
Vua Hùng truyền ngôi được18 đời. Quan văn gọi là Lạc Hầu, quan võ gọi là Lạc Tướng,
con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ nương, các quan nhỏ gọi là
Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua Hùng chia nước ra 15 bộ
và cắt cử các anh em đứng đứng đầu mỗi bộ. Mười lăm bộ là; Giao Chỉ, Chu Diên,
Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài
Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang. Về tên gọi của mười
lăm bộ thì các sách Việt Sử lược của Sử Hy Nhan, Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, Lịch
Triều Hiến Chương Loại chí của Phan Huy Chú ghi không giống nhau về tên gọi
cũng như cương vực. Các tên trên ghi theo Dư Địa chí của Nguyễn Trãi.