Người theo dõi
Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021
Chủ Nhật, 21 tháng 3, 2021
TÔI ĐANG NGỒI ĐÂY TRÊN MẢNH ĐẤT CỦA ÔNG CHA
TÔI ĐANG NGỒI ĐÂY TRÊN
MẢNH ĐẤT
CỦA ÔNG CHA
Bây giờ
tôi ngồi đây, bên giòng sông Cái Lớn, giòng sông không ghềnh thác, cặm cụi chảy
về Tây. Trong mênh mông và khoáng đạt của nước trời để cảm nhận lòng mình, để
cảm thụ thơ và để… thơ. Tôi viết
ÁNH
MẮT
Còn
thơm mãi bàn tay người vỡ đất
Hành
phương nam từ ấy bốn trăm năm
Chào
người đến con muỗi nâng sáo thổi
Con
vắt đo ruộng đỏ máu chân trần
Nhưng
cánh gió đồng bằng thơm nắng ấm
Vạt
năng xanh hóa lúa bởi mồ hôi
Cò
trắng muốt, con trích cồ xanh biếc
Những
giòng sông tím ngát lục bình trôi
Lá
dừa nước che cuộc đời nên xám
Cho
khói lam quấn quýt lấy khung trời
Mang
theo những tấm lòng về phương Bắc
Những
tấm lòng chia sớt những buồn vui
Theo
năm tháng, mồ hôi thơm ngát gió
Xóm
theo làng lớp lớp vệt tre xanh
Gió
chướng về cho sóng lúa vờn quanh
Sông
phương nam bình yên không ghềnh thác
Lượn
lờ trôi ăm ắp một tình người
Những
chiếc ghe, chiếc xuồng luôn chở nặng
Một
vầng trăng khúc khích tiếng ai cười
Câu
ca dao của một thời lãnh lót
Đồng
mênh mông bổng chốc hoá mượt mà
Tỉn
rượu đế và cơn say hào sảng
Từng
phút từng giờ quyện chặt lấy tình quê
Từ
nơi ấy dãy Hoành Sơn chất ngất
Hơn
bốn trăm năm có đôi mắt dõi nhìn
Trong
trùng điệp những cánh đồng thơm ngát
Ánh
mắt Người vạn đại vẫn luôn xanh
Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021
Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021
Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư
http://e-cadao.com/tieuluan/linhtinh/Sau50namdocQVGKT.htm
Bài
1: Thân phận lạc loài
Những
ai, trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn
Giáo Khoa Thư ( QVGKT); Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc
qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Ðã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó.
Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít
nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cấp sách đến trường, thời
ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò.
Trong
buổi sơ khai của chữ quốc ngữ (không phải chữ Hán, chữ Tây), bộ QVGKT là bộ
sách giáo khoa, do nhà nước Pháp, mà trực tiếp là Nha Học Chánh Ðông Pháp, giao
cho quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng
biên soạn. Bộ QVGKT gồm có 3 quyển:
- Quyển dành cho lớp Ðồâng Ấu ( Cours Enfantin) là quyển dạy về luân lý
(Morale) qua các bài tập đọc và tập viết.
- Quyển dành cho lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)
- Và quyển dành cho lớp Sơ Ðẳng (Cours Elementaire).
Hai quyển Dự Bị và Sơ Ðẳng gồm các bài tập đọc (lecture), chứa đựng nội dung
bao gồm: Sử ký, Ðịa Dư, Cách trí, Vạn vật, Vệ Sinh, Ðạo Ðức, Gia Ðình...
Chưa có
dịp tìm một cách chính xác xem coi bộ QVGKT xuất bản đầu tiên năm nào, nhưng
theo bản mà chúng tôi đọc, xuất bản năm 1939 thì đã in lần thứ mười ba. Như vậy
án chừng sách xuất bản đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 20.
QVGKT là bộ sách giáo khoa đầu tiên của Việt
Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021
TRIẾT HỌC BÌNH DÂN Trong Tục Ngữ, Phong Dao
TRIẾT HỌC BÌNH DÂN
Trong Tục Ngữ, Phong
Dao
Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC
Tư tưởng suy luận bình dân
Tư tưởng suy luận bình dân có thể
gọi là triết lý bình dân Việt Nam như giáo sĩ Léopold-Cadière đã viết dưới nhan
đề “Philosophie populaire Annamite”. Theo giáo sĩ thì:
“Người ta, bất cứ
ở trình độ văn minh nào, đều có những ý tưởng về thế giới và về sự vật trong
thế giới, những ý tưởng ấy có thể phát triển hơn hay kém minh bạch, hay lờ mờ,
ý thức nhiều hay ít. Nhưng chúng có thật và người ta phô diễn ra tiếng nói.
Tiếng nói là tấm gương phản chiếu tính tình của một dân tộc. Nó phản chiếu tất
cả những ý niệm của con người. Chính nhờ ngôn ngữ mà người ta tập trung suy
nghĩ và chính nhờ ngôn ngữ mà nó diễn tả những điều nó cảm thấy và quan niệm.
Ngôn ngữ vừa là cái khuôn vừa là môi giới của tinh thần. Vậy thì nếu chúng ta
muốn biết dân Việt họ suy nghĩ thế nào, thì chúng ta phải hỏi ngôn ngữ của họ…
Ngôn ngữ diễn tả một mớ ý tưởng triết học lưu hành một cách ý thức hay vô ý
thức trong dân gian mà những thế hệ nọ truyền lại cho thế hệ kia không hề biến
đổi đi mấy. Và những ý tưởng ấy biểu lộ cách thức người dân gian quan niệm về
thế giới và sự vật tạo nên thế giới, con người, bản tính của nó, đời sống luân
lý và trí thức của nó. Đấy là triết học bình dân.” (Triết học
bình dân Việt Nam, L.Cadière – Ecole Francaise d’Extrême-Orient, trong
Croyances et Pratiques religieuses des Vietnamiens, t.III)
Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2021
Kinh Nghiệm Sống Của Dân Gian Qua Văn Chương Bình Dân
Kinh Nghiệm Sống Của Dân Gian Qua Văn Chương Bình Dân
Đã nhiều tháng qua, tôi bị hấp dẫn bởi những tiếng nổ của các kho đạn, những chuyện kỳ cục, những điều "trồi", "nổi" quanh mình nen trong một chừng mực nào đó, tôi đã quên bẵng đi những vần ca dao mà bà nhà Bắc Kỳ của tôi đã chép ra từ trong trí nhớ của bả, để trên bàn viết mỗi ngày như một sự nhắc nhở tôi đừng quên chuyện ngày xưa. Càng hít thở không khí trên cõi đời phiền muộn, đầy dẫy oái ăm này càng lâu chừng nào, người ta càng nhớ và sống với quá khứ nhiều chừng nấy. Vui hay buồn gì, ai trong chúng ta cũng đều có quá khứ và sống với nó ít hay nhiều thì tùy thuộc tâm trạng mỗi người. Thế nhưng, cái "chuyện xưa" mà tôi đề cập dưới đây là chuyện chung, không thuộc về ai cả. Và tôi cũng xin tầm phào tào lao một chút về những kinh nghiệm sống trong dân gian qua những vần ca dao, xem người xưa đã suy nghĩ, và sinh hoạt ra sao, âu cũng là một điều "vệ sinh và bổ". Bây giờ, xin mời bạn đọc những vần ca dao sau:
Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ lòng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.
Bạn cũng như tôi, có lẽ đều thuộc "nòi tình"? Bạn nghĩ gì và có thấy vừa thương vừa tội nghiệp cho người con gái xưng "em" ấy không? Thương và tội nghiệp cho nàng vì nàng biết phận mình, không có cái chuyện "đến sau" mà cứ ghen ngược, đòi chiếm cứ làm của riêng như chúng ta thường thấy xảy ra trong đời sống hàng ngày. Nàng có đòi hỏi điều gì quá đáng đâu, chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" cho vui thôi mà. Dễ thương biết chừng nào! Đó là nói về nàng, còn người viết ra mấy câu trên thì tôi tin chắc cũng thuộc thành phần "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh Trinh). Đó là một người ham thích của lạ, muốn đèo bòng chạy một lúc vài ba "máy" cho đời thêm vui, và thêm...rắc rối. Thật ra, trong 10 anh "đần ông" (không phải đàn ông) thì hết 11 anh có máu loạng quạng, léng phéng không ít thì nhiều. Quý vị nam nhi chi chí nào tự xưng mình là người mẫu mực, đạo đức, không hề phiêu lưu, mơ tưởng đến những "vùng đất xa lạ" thì người ấy có thể được sánh ngang với hàng "thánh sống" rồi. Đa phần còn lại, trong đó có tôi, thuộc loại phàm phu tục tử, một thứ "đần ông" chính hiệu ngất ngư con tàu đi. Cho nên, xin có lời bái phục! Phải bái phục các vị thánh sống đó là bởi vì, chính các cụ đạo đức cùng mình ngày xưa, đã không ngần ngại mà thốt lên rằng:
Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.
Một nàng thì rất dịu dàng, e ấp, chịu phần lép vế chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" thôi, nàng kia thì can đảm hơn, chận anh giữa đường, níu áo anh lại để than thở với anh vài lời:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.
Và một nàng khác, tuy cũng thương anh nhưng rất thực tế, nàng cảnh giác tối đa chỉ sợ bà cả vác dao chém cho vài nhát thì còn chi là đời nữa:
Gặp anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.
Tục ngữ có câu "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là coi chuyện nhan sắc của người phụ nữ không quan trọng bằng tính nết. Tục ngữ nói vậy thì ta cứ biết như vậy, nhưng cái hấp dẫn đầu tiên của người phụ nữ đối với các đấng nam nhi là cái gì? Có phải nhan sắc của người phụ nữ ấy không? Tôi không biết người yêu của Chí Phèo trong tiểu thuyết của Nam Cao xấu xí ra sao nhưng các cụ ngày xưa vẫn một mực cương quyết:
Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
Còn hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.
Cằm lẹm, răng hô thì các cụ chê đã đành rồi mà ngay cả đến cô nàng có cái mặt mo phinh phinh, chân lại đi vòng kiền chữ bát thì có cho không, các cụ cũng chẳng thèm:
Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm
Ngược lại, người con gái có đôi mắt lá răm, chân mày lá liễu thì đúng là của quý, đáng trăm quan tiền:
Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Đến đây các bạn có thể thắc mắc: thế cái loại nhan sắc nào của các nàng khiến cá cụ nhìn rồi muốn chửi(?):
Mặt má miếng bầu, nhìn lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.
Các cụ có được những hiểu biết về cách ăn ở, đối xử của người chung quanh là do quan sát, tích lũy kinh nghiệm rồi đói chiếu, so sánh để có một nhận định chung. Theo đó, người phụ nữ nào mà đáy thắt lưng ong thì khéo chiều chồng và khéo nuôi con. Còn "mệ" nào béo trục béo tròn thì ăn vụng như mèo lại hay rầy rà con cái. Đúng được bao nhiêu phần trăm thì khó mà khẳng định, có điều những hình ảnh đó đã truyền lại cho con cháu suốt bao thế hệ và đã ở lại mãi mãi trong văn chương bình dân:
Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.
Cũng qua kinh nghiệm trên một số người mà các cụ có nhận xét:
Trai Nhâm Đinh Quý thì tài,
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò.
Hai lần đò là trong cuộc đời của người phụ nữ có cái tuổi Nhâm Đinh Quý này sẽ có tới hai đời chồng. Ngày xưa, ít có vụ ly dị mà chỉ khi chồng chết rồi người đàn bà mới tái giá, đi thêm một bước nữa. Còn thời nay, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do một cách kỳ cục này thì không hẳn là do chồng chết mà là do không còn "hợp" nhau nữa nên "anh đường anh, tôi đường tôi" đấy thôi. Không nói tới chuyện tiền bạc, dốp diếc làm chi, chỉ cần chàng ngủ ngáy hơi lớn tiếng là nàng vác đơn ra tòa ca bài "hai giòng sông ly biệt" rồi. (Nhân nói về một người đàn bà đi thêm bước nữa gọi là tái giá, tôi thấy Tiếng Việt ta thật hay và phong phú. Đàn ông vợ chết, lấy vợ khác gọi là tục huyền, còn đàn bà lấy chồng khác gọi là tái giá. Tôi đã lẩn thẩn nghĩ rằng trong trường hợp các bà, sao ta không gọi là "tục tỉu", có phải vui hơn không? Nghĩa là: đàn ông, vợ chết lấy vợ khác; gọi là tục huyền. Đàn bà, chồng chết, lấy chồng khác: gọi là tục tỉu. Cũng đều bắt đầu bằng chữ "tục" cả. Tái nạm, tái gầu vào đây làm chi cho thêm phiền toái!)
Trong khi đó, về cánh đàn ông, các cụ không e ngại gì mà tuyên bố thẳng thừng rằng:
Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng
Hoặc:
Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại còn muốn những nhung sâm nước ngoài.
Và đây là một chàng tuy đã có vợ nhưng không lúc nào quên bồ nhí của mình:
Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.
Chàng có vợ bé hoặc bồ nhí hay cho rằng vợ người khác đẹp hơn vợ mình thì cũng là chuyện thường tình nhưng chàng sẽ là một tên "đại cà chớn" nếu có tà ý đem lòng thương yêu vợ bạn. Chàng cũng hiểu như thế là bất nhơn, là không đạo đức:
Ai xui ai khiến bất nhơn
Tui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.
Còn chàng có thương vợ người khác mà không được thì thôi chứ chẳng lẽ ăn vạ hay tự tử(?):
Buồn tình chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được thì thôi.
Thương không được thì thôi chứ không như mấy anh chàng có máu "dê" đầy mình và gan góc, chết thì chịu chứ quyết theo đuổi nàng tới cùng:
Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.
Nếu chàng gan dạ và can đảm cùng mình như thế thì hẳn chàng có nhiều lá gan và không chỉ chàng dành cho vợ mà còn cho người khác nữa.:
Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Đó chỉ mới là "toan tính" thôi chứ chưa chắc đã dám hành động rõ ràng dứt khoát như trường hợp của phe tóc dài dưới đây:
Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.
Như thế, cuộc sống lứa đôi của cặp vợ chồng trên đây không có gì bảo đảm sẽ tồn tại với thời gian, không thể nào ăn đời ở kiếp đến răng long đầu bạc được. Người chồng ở đây là một người chồng đau khổ. anh đau khổ là vì lỗi là do chính anh chứ không phải nguyên do nào khác. Vợ anh không thương anh mà đem lòng thương trai là do anh đần độn quá sức:
Một là em lấy chồng quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng dân
Nhưng em không chịu lấy chồng đần,
Về nhà cha mẹ mắng, ra đường chị em khinh.
Cái quan niệm chọn chồng của người đàn bà ở trên thật minh bạch. Lấy ai cũng được, sang hèn gì cũng xong nhưng không thể đi nâng khăn sửa túi cho một anh ngu đần, ăn nói vụng về luôn luôn gây phật lòng người khác. Có một câu chuyện kể rất tiếu lâm về một anh chồng đần độn kiểu này như sau:
"Một anh chồng trong một gia đình nọ, vừa ngu vừa vụng về. Hễ mở miệng ra là đem bực mình đến cho người khác. Vì thế, trong mọi giao tiếp, bà vợ phải cấm chỉ anh ta, không nói gì hết. Một hôm, hai vợ chồng được mời dự bữa tiệc đầy tháng con của một người bạn. Bà vợ dặn chồng là suốt bữa tiệc phải im lặng hoàn toàn. Anh chồng nghe lời. Đến dự, mặc cho thiên hạ nói gì thì nói, suốt buổi anh thủ khẩu như bình. Đến khi tiệc tan, mọi người chia tay nhau ra về, mỗi người đều nói một lời chúc tụng nào đó cho cháu bé. Anh chồng buộc lời phải phát ngôn. Anh bèn nói với chủ nhà, là mẹ của đứa trẻ sơ sinh: Chị thấy đó, từ đầu tiệc đến giờ tôi hoàn toàn không có nói điều chi cả. Lỡ ngày mai cháu bé có chết, chị đừng có đổ thừa là tại tôi đấy nhá!"
Cánh đàn ông chúng ta thường tự nhận mình là "đần ông" để vuốt ve, thỏa mãn tự ái của các bà chứ nếu các bà thật sự chê chúng ta là ngốc, là đần thì ta đành phải xách xe không chạy mút chỉ cả tha thôi:
Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.
Hay:
Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài
Từ Đông sang Tây, một ngàn năm trước hay hay một triệu năm sau, bất cứ ở đâu, thời nào cũng có những người đàn bà không đoan chính, tự do xả láng sáng về sớm. Có chồng thì càng dễ..."lăng ba vị bộ", vì đã có người đứng mũi chịu sào rồi mà.
Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?
Và còn ra cái điều "thách thức" nữa các cụ ạ:
Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.
Không những thách thức mà còn trân tráo, đanh đá, trơ mặt ngồi xổm trên luân thường đạo lý mới là kinh hãi. Trong đời, bạn đã từng gặp loại người đàn bà này chưa:
Lẳng lơ cũng chẳng có mòn ,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.
Trường hợp nàng gặp phải một anh chàng ba phải, phổi bò, không quan tâm thắc mắc gì đời sống của nàng, ra cái điều rộng lượng thì nàng cũng có quyền rong chơi với tháng ngày chứ:
Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em còn chơi Xuân.
Thà là như thế còn hơn cái cảnh đêm nay để cửa chờ chồng, đêm mai thì chờ ông láng giềng:
Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.
Ngày xưa, khi người chồng qua đời, người vợ để tang 3 năm, sau đó có quyền lấy chồng khác. Tuy thế, cũng không ít trường hợp chưa mãn tang, người đàn bà đã vội có người đàn ông khác:
Mả chồng còn đó trơ trơ,
Đã cùng người khác đợi chờ năm canh.
Bên cạnh đó cũng có những người vợ rất đàng hoàng, đoan chính, nhỏ nhẹ, thưa với người đi theo tán tỉnh rằng "cám ơn những tình cảm anh dành cho tui nhưng xin anh đừng đến nhà tui nữa kẻo chồng tui ghen":
Có lòng thì tạ ơn lòng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.
Trong đời sống hàng ngay, vợ chồng chia bùi xẻ ngọt với nhau. Không ai có thể săn sóc lo lắng cho nhau tận tình như vợ với chồng. Thử hình dung ra cảnh người chồng đau nằm liệt giường, người vợ lo thuốc thang, chân thấp chân cao bưng thuốc đến cho chồng uống, vừa đi vừa vái trời cho chồng mạnh khỏe để cùng ăn đời ở kiếp...Làm sao ta không thương hết mình những người vợ như thế được:
Cầm con dao sắc cắt đôi củ gừng,
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân.
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh, ở đời với em.
Nếu người đàn bà thương chồng nhiều đến thế thì hẳn nhiên là cũng thương con ngập lòng. Nàng bương chải đi làm nuôi con, mặc cho áo rách sờn vai:
Em đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo em rách, cho vai em mòn.
Em đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai sờn mặc vai.
Một vài hình ảnh khác cho thấy sự buôn tần bán tảo và bương chải ngược xuôi, đầu tắt mặt tối để lo sinh kế gia đình của người đàn bà đến nỗi vú xẹp, lưng nàng teo:
Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?
Nhìn chung, qua những vần ca dao, chúng ta có thể hình dung và hiểu được những suy nghĩ cùng tâm tình và cách sống của dân gian. Cũng qua ca dao, người xưa đã để lại cho chúng ta một kho tàng về kinh nghiệm sống trên mọi lãnh vực, trong đó đáng kể nhất là kinh nghiệm nói về bản chất không thể thay đổi ở một số người, hay nói nôm na là khi đã thành "tật" rồi thì khó mà chữa được:
Trời nắng rồi trời lại mưa,
Tính nào tật nấy có chừa được đâu.
HUỲNH VĂN PHÚ
http://e-cadao.com/tieuluan/phongtuctapquan/kinhnghiemsongcuadangian.htm
Thứ Hai, 8 tháng 3, 2021
Huyền Quang thiền sư
Huyền Quang
thiền sư
Huyền Quang thiền sư 玄光禪師 (hay Huyền Quang tôn giả, 1254-1334) tên thật là
Lý Ðạo Tái 李道載 (có sách chép Trần Ðạo Tái, Lý Tái Ðạo). Ông
người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sinh năm Giáp Dần (1254),
mất ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334).
Theo "Tổ gia thực lục" trong "Tam tổ thực lục"
thì từ nhỏ ông đã có khiếu văn chương, năm hai mươi tuổi đỗ khoa thi hương và
năm sau lại đỗ đầu khoa thi hội. Được bổ dụng vào Viện nội hàn, từng tiếp sứ
Bắc, rất nổi tiếng về thơ văn. Nhưng không bao lâu ông một mực xin từ chức đi
tu. Được người đứng đầu dòng Thiền Trúc lâm lúc bấy giờ là Trần Nhân Tông rất
quý mến, giao cho Pháp Loa hướng dẫn. Về sau ông trở thành vị tổ thứ ba của
dòng thiền này.
Huyền Quang là một nhà sư đồng thời là một thi sĩ có tiếng đời
Trần. Thơ ông rất đậm chất trữ tình. Các nhà phê bình đời trước như Lê Quý Đôn,
Phan Huy Chú đều khen thơ ông "ý tinh tế, cao siêu", "lời bay
bướm, phóng khoáng". Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con
người tôn giáo. Xung quanh thân thế ông có nhiều giai thoại khá hấp dẫn, đã trở
thành những câu chuyện dân gian được lưu truyền rộng rãi, và cũng đã từng được
nhà văn đương thời ghi lại dưới hình thức một truyện truyền kỳ, lý thú, đi vào
kho sách vở nhà Phật từ nhiều thế kỷ nay.
Tác phẩm hiện còn 24 bài thơ, trong số đó có bài "Xuân nhật
tức sự" gần đây được xác minh là thơ thiền đời Tống, một bài phú Nôm, sách
vở cũ cho biết ông còn có các tác phẩm "Chư phẩm kính", "Công
văn tập", thư từ tiếp sứ và tập thơ "Ngọc tiên tập" nhưng nay
đều đã thất lạc.
Một số sách còn chép ông chính là tác giả câu thơ nôm cảm khái về
nhân tình thái thế khá chua chát sau đây:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ trạng, tám nghìn nhân duyên.
https://www.thivien.net/Huy%E1%BB%81n-Quang-thi%E1%BB%81n-s%C6%B0/author-ky6a-6Hq9AEiujrHK0DNTQ

