Người theo dõi

Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

XUÂN ẤY QUA THÌ XUÂN KHÁC CÒN.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1585)
Chín mươi thì kể xuân đà muộn,
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.



Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện trong một hoàn cảnh đất nước đầy rối ren. Không nhiều sóng gió trên đường hoạn lộ (1534-1542), nhưng lại đầy sóng gió trong lòng. Các thế lực phân liệt làm cho nhân dân điêu đứng, nhân tâm phân hóa. Tài hoa như ông, thấu hiểu lẽ đời như ông thì sự phân vân càng lớn. Gần một thế kỷ có mặt trên nhân gian, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn một con đường khác. Thời cuộc ấy, tài năng ấy mà…“Quan cái tinh xu diệu lý môn” Được thôi. bởi vì ông vẫn còn có một cái khác. Đẹp hơn nhiều.
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào ?
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây ta sẽ uống
Nhìn xe phú quý tựa chiêm bao
Nguyễn Bỉnh Khiêm


Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

HƠI THỞ CỦA TRẦN NHÂN TÔN (1258-1308)



            Lần đầu tiên tôi đến với thơ của Trần Nhân Tôn bằng bài thơ dưới đây.
Thân như hô hấp tị trung khí
Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú
Bất thị tầm thường không quá xuân
Trần Nhân Tôn
Thân là không khí đi qua phổi
Đỉnh núi mây bay, một kiếp người
Khắc khoải quyên kêu trăng sáng mãi
Mùa Xuân còn mãi ở đây thôi.
Không hiểu các bậc thức giả thưởng thức và cảm thụ bài thơ này như thế nào? Nhưng với tôi thì… không thể nào nói được cảm giác của mình. Thú thật, từ khi biết thở đến khi cảm nhận được hơi thở mình, tôi hoàn toàn không hiểu tí gì về hơi thở. Và khi đọc được bài thơ này, tôi cũng chẳng hiểu gì ráo. Đã vậy lại gặp tiếp…

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

NGUYỄN TRÃI (1380-1442) VÀ TÔI, MỘT HẬU SINH


NGUYỄN TRÃI (1380-1442)
VÀ TÔI, MỘT HẬU SINH

Tôi có lý do để kết thúc chương viết nền thi ca thời Trần với Nguyễn Trãi, dù bài thơ cuối cùng mà ông viết thì nhà Trần đã diệt vong gần nửa thế kỷ. Bởi vì hơi thơ của ông dù được viết bằng một quan điểm Nho giáo, nhưng mà là một thứ Nho giáo chỉ là phương tiện của đạo Bụt chứ không phải là một thứ Nho gia hãnh tiến như Lê Thánh Tôn.
            Tiếng Nôm tản mạn, bàng bạc trong cuộc sống,  trong ca dao, suốt một thời gian dài trong bóng đêm của thời kỳ sống trong sự áp bức. Rồi khi những hạt giống tự chủ được gieo mầm thì văn hóa bắc phương vẫn còn cái mộng làm mưa làm gió. Hơn bốn trăm năm giành lại giang sơn. Độc lập dân tộc được khẳng định, độc lập văn hóa đã hình thành từ thời dựng nước đã được củng cố và phát triển sau một thời gian dài chao đảo, nhưng vẫn phải đi trên con thuyền Hán Việt. Các vua Trần, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Thuyên, Huyền Quang… từng bước đặt những viên gạch mang tính nền móng suốt 200 năm. Nhưng mạnh mẽ nhất là Hồ Quý Ly khi đưa chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của nhà nước. Nhưng tiếc thay…
Giờ đây tiếng Nôm dồn tụ lại để làm nên Nguyễn Trãi. Dưới ngọn bút tài hoa của ông, thơ Nôm lên tiếng thật mạnh mẽ. Một sự chuyển đổi đến kinh ngạc và đầy dũng khí.
Danh chăng chuốc, lộc chăng cầu
Được chẳng mừng, mất chẳng âu
Có nước nhiễu song, non nhiễu cửa
Còn thơ đầy túi, rượu đầy bầu
Người tri âm ít, cầm nên lặng
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu
Mấy kẻ công danh nhàn lẳng đẳng
Mồ hoang, cỏ lục thấy ai đâu.
Nguyễn Trãi

Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2017

Vài ngẫm nghĩ về bài Thơ Cổ Thời Bắc Sơn

Vài ngẫm nghĩ về bài Thơ Cổ Thời Bắc Sơn (7000-1000 tr.c.n)
“ Khoảng trên 40 năm trứơc đây, nhà giáo Sử địa An Phong Nguyên Vân Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một làng Mường trong rừng Ban Mê Thuột di tản vào từ rừng Thanh Hóa.” (BS Nguyễn thị Thanh ) (1)
 
1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ (bồn = vồn = luống; cổ = củ)
2. Ðậu ba lá thì bừa un (bừa = vừa; un = vun = đắp)
3. Gà mất mạ thì lâu khun (mạ = mẹ; khun = khôn)
4. Gái thiếu trai thì thậm khổ
5. Trai thiếu gái thì thậm khổ.
6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ.
7. Ðất sinh giếng thì sinh mo (mo cau làm gàu múc nước).
8. Người sinh Oa thì sinh tui (Oa = O = cô, chị, dì).
9. Oa một miềng thì khôn đặng.
10. Tui một miềng thì khôn đặng. (miềng = mình)
11. Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô = vô).
12. Mây trên trời hắn ún lại (ún = tụ)
13. Oa với tui cùng cuốn lại.
14. Tui với Oa cùng cuốn lại.
15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại.
-----------------------------------------------

NHÌN NGẮM MÙA XUÂN

NHÌN NGẮM MÙA XUÂN
 

Năm mươi năm trước ta mười chín
Giữ mãi xuân xanh đến tận giờ
Xệu xạo hàm răng, mồm móm mém
Nhưng chưa hề chịu bỏ nàng thơ

Thục nữ tỏa hương khi yểu điệu
Ta không quân tử vẫn mong cầu
Ngàn hồng muôn tía đang phô sắc
Mai biếc, hồng thơm, cúc rợp màu…

Và em thì vẫn luôn như vậy
Yểu điệu cho đời những giấc mơ
Hương tỏa thơm thơm thêm cánh gió
Sắc phô gời gợi những câu thơ

Hôm nay cũng vẫn  xuân xanh ấy
Lòng cứ xuân xanh không nhạt phai
Đón ánh xuân hồng ta mãi trẻ
Nghĩa là còn tiếp tục xuân tươi


Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

CHỜ MỘT CƠN MƠ

CHỜ MỘT CƠN MƠ

Ta thao thức đợi chờ cơn mơ tới,
Màu tình yêu theo đó sẽ quay về.
Em mắt biếc nên nhìn xuyên cổ độ,
Tấm lòng buồn run rẫy mấy đam mê.

Đốt điếu thuốc nhìn khói bay lơ đãng,
Hồn lượn lờ theo khói bay về đâu?
Em môi thắm nụ cười xuân đến hạ,
Tấm lòng buồn run rẫy giữa đêm sâu.

Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ

Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ
Bụi thu mờ ai phủi với hai tay
BÙI GIÁNG (1926-1998)

Những năm giữa thập niên 60, tôi, một thằng nhóc vừa mới tập tọng nhón chân vào rừng thơ, đã biết đến thơ Bùi Giáng. Đọc trên báo nên bài được bài không. Ông xuất hiện như là một tinh cầu hoàn toàn xa lạ khác hẵn với những ngôi sao thơ ca đương thời đang lấp lánh ở miền Nam. Sự xa lạ mà đầy cuốn hút trên mọi phương diện ấy từ bấy đến ngày ông mất và cả cho đến hôm nay.
Khoảng những năm 1964-1966, ông đả rất nổi tiếng và tôi tình cờ gặp ông ngồi một mình, lặng lẻ bên chai bia ở một quán trên đường Cường Để, bạn tôi kháo như thế. Trông ông không có gì đặc biệt, một ngườn đàn ông trung niên mặc chiếc áo chemis ngắn tay màu trắng ngà, quần kaki vàng mang giày không đánh xira, nhưng nói chung là khá tươm tất. Ông nhỏ hơn ba tôi vài tuổi nên một thằng nhóc con như tôi chỉ đứng nhìn “kính nhi viễn chi”. Nhưng đôi mắt của ông làm cho tôi có một cảm giác khó tả.
Rồi thời cuộc đã cuốn hút rồi bứt tôi ra khỏi giấc mơ thơ thẩn của mình. Tôi gần như quên ông suốt hai mươi năm, dù vậy tôi vẫn còn nhìn thấy ông qua tập thơ Lá Hoa Cồn và bản dịch Le petite Prince của Saint Exupéry mà mấy thằng bạn dúi cho. Nhưng chỉ đọc được lai rai mấy tháng rồi mất (tôi giữ sách dỡ cũng như giữ mạng của mình vậy, nhưng không hiểu sao đến giờ này, sách thì mất gần hết mà tôi vẫn còn… sống). Thỉnh thoảng, tôi cũng nghe ai đó nhắc về ông và đôi mắt ấy lại về ám ảnh. Rồi khi tôi có thể nguệch ngoạc lại được đôi giòng thì ánh mắt ông như không rời khỏi tôi 
Cứ như vậy cho đến một ngày năm 1992, lúc lang thang Sài Gòn, tôi lại gặp ông. Ông đang loay hoay và tôi cố nhìn, nhưng không thể nhận ra đó là ông của lần gặp trước, nếu như không có câu nói vô tình của ai đó. Điều lạ lùng nhất là đôi mắt ấy không hề thay đổi. Trong veo, hoàn toàn tương phản với bộ dạng dị kỳ đầy bụi bặm của ông.