Người theo dõi

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

MÚA GẬY VƯỜN HOANG - CHƯƠNG BA-

THỜI KỲ CHỐNG VĂN HÓA NÔ DỊCH  VÀ KHẲNG ĐỊNH MỘT QUỐC GIA
(111tcn-880scn)
            Tôi không chấp nhận cái nhóm từ “ thời kỳ bắc thuộc” mà trong các cuốn sử đã ghi và cho đến hôm nay cũng có rất nhiều người còn sử dụng.
              Thử nhìn lại lịch sử và nghiêm túc sóat xét một cách thật khách quan về các vấn đề sau để tìm xem Văn Hóa Việt Nam được xây dựng và phát triển ra sao.
         
A. Cuộc chiến giữ nước không giống ai
Sự thôn tính của Hán tộc vô cùng bạo liệt. Gần một trăm tộc Việt lần lượt bị đồng hóa bởi tư tưởng, văn hóa và các lĩnh vực khác, một số khác thì tuôn ra biển đông tìm về phương nam ở Bắc Bộ ngày nay và tạo nên Lạc Việt, một số khác dạt về Tây nhập vào Âu Việt vùng Quảng Tây và tây bắc Bắc bộ ngày nay tạo nên sự gắn kết lần nữa của Núi Non và Sông Nước để sau này các nhà viết sử gọi là Âu Lạc của An Dương Vương, mà ông An Dương Vương không biết có thực hay không, nhưng Âu Lạc (núi, sông) thì có thật và còn mãi đến hôm nay.

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG CUỐI -

                                              CHƯƠNG CUỐI
                                      TÙY TIỆN MỘT CƠN SAY


Vâng. Tùy tiện một cơn say. Xem như đó là những phút giây sống cho chính bản thân mình. Làm điều này để tôi biết mình đang sống. Mà đang sống là đang lu bu, đang lu bu thì làm sao gọi là chấm hết. Tôi đã có thể giải quyết một cách khá ngoạn mục cái cảnh một kiểng hai huê và sau đó là một cú choáng người vì tụt huyết áp. Tôi tỉnh lại bởi hai nguồn nước mắt của hai huê sau gần hai mươi giờ sống đời cây cỏ. Và khi tôi viết được những giòng dưới đây thì tôi mới hiểu ra là mình muốn cái gì.
Nợ cơm áo chất nặng lòng sĩ diện,
Đôi chân ta lếch thếch quệch quanh đời.
Chợt một bữa tấm thân ta hoá rổng,
Đầu trống không và nhẹ bước rong chơi.

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG -CHƯƠNG XI-


CHƯƠNG XI :
PHÍA BÊN NÀY HAY PHÍA BÊN KIA SÔNG

         Cứ say đắm cuộc đời đi,
Dẫu đời ta chẳng có gì ngon cơm.
        Nhưng hoa vẫn cứ còn thơm,
Cây còn xanh lá. Gió còn reo vui
        Sóng thì thào mãi không thôi,
Vầng trăng vẫn sáng cho người mộng mơ.
        Nắng mai sưởi ấm câu thơ
Sợi tình theo những giọt mưa vào lòng.
       Con thuyền nối những giòng sông,
Bao bờ bến đợi tấm lòng của nhau.
       Nâng lên chén rượu quên sầu,
À không. Đâu có chi sầu mà quên.                                                         


Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2016

THƠ VIẾT VỘI Ở SÂN ĐIỆN DIÊN HỒNG

THƠ VIẾT VỘI Ở SÂN ĐIỆN DIÊN HỒNG
Diên Hồng Điện hôm kia trời lạ lắm
Mây ngừng trôi rợp mát khoảng sân dài
Chim chóc cũng từ đâu về lớp lớp
Tranh nhau cùng đậu kín các tàng cây
Các bô lão từ khắp nơi tề tựu
Người đồng quê chân còn lấm vệt bùn
Người miệt biển da nâu thơm mùi nắng
Người non xanh tóc phảng phất hương rừng
Họ cười nói vì từ lâu không gặp
Tiếng đồng trầm chen lẫn tiếng non cao
Hòa với giọng ồm ồm người miệt biển
Như chim kêu, lại như tiếng mưa rào
Bỗng ngưng bặt. Kiệu Thượng Hoàng xịch đến
Bốn tên phu lực lưỡng đã dừng chân
Các bô lão dập đầu quỳ phủ phục
Giữa sân trời tiếng vạn tuế vang rân
Người xuống kiệu, đưa mắt nhìn khắp lượt
Dáng uy nghi như rồng ngự trong sân
Rồi cất tiếng cười khà khà, “Thôi được,
Ngồi dậy cả đi, ta có việc muốn bàn!”
Để khỏi tốn thì giờ, ta hỏi nhé
Nay giặc Nguyên nó vô đánh nước mình
Thế nó mạnh ào ào như hổ báo
Vậy thì mình nên đánh hay làm thinh?
Một bô lão người vùng chiêm nước trũng
Bước ra tâu, “Thưa với Thái Thượng Hoàng
Xin cứ đánh. Việc quân trang quân dụng
Việc nuôi quân, đừng sợ, có chúng dân!”
Thái Thượng Hoàng vuốt râu, cười ha hả:
“Đánh giặc Nguyên, cần đâu chỉ gạo cơm
Ta chỉ ngại quân mình còn thưa quá
Và tiền đâu mà rèn giáo rèn gươm?
Già miệt biển vốn tính tình phóng khoáng
Bước ra thưa, “Thánh Thượng ngại làm chi
Tôi về biển gọi mọi người góp lại
Chỉ mấy hôm thôi thì tiền bạc thiếu gì!”
Già miền núi tiếng cao cao như gió
Nói nhẹ nhàng mà nghe rõ từng câu
“ Việc sung lính, tôi về kêu con cháu
Nghỉ đi rừng vài bữa có sao đâu!
Con cháu tôi cùng trai đồng, trai biển
Mấy lâu nay chúng sôi sục lắm rồi
Nếu mất nước thì không còn chi cả
Chần chừ gì! Ngài cho đánh đi thôi!”
Thái Thượng Hoàng nghe xong, bèn phán xuống
“Chuyện quân mưu, bọn ta tính cả rồi
Nay ta gọi các ngươi về định liệu
Các ngươi đều bảo đánh thì đánh thôi!
Các ngươi già mà còn gân guốc vậy
Ta, cha vua, không có lẽ chịu hèn
Thôi thế nhé, uống trà rồi giải tán
Về bảo cháu con lo giáo mác cung tên!
Bảo chúng nó: sung quân thì cực lắm
Nhưng giặc vào, chịu cực đánh cho xong
Đánh xong giặc, tha hồ mà săn bắn
Mặc sức câu, và mặc sức cấy trồng!
Người nói xong nâng chén trà ngang mặt
Kính cẩn mời các bô lão một ly
Chén trà thô thời binh đao khói lửa
Tình chúa tôi sao thơm ngát diệu kỳ.
Chúa lên kiệu, hướng Bắc cung mất hút
Lòng muôn dân còn mãi ghé trông theo
Lòng muôn dân đã hừng như than đỏ
Quyết hy sinh trước vận nước hiểm nghèo
Buổi Diên Hồng diễn ra bình thản vậy
Không ồn ào, không cờ xí khoa trương
Chỉ lũ chim rời cành bay loạn xạ
Đem tin mừng loan báo khắp muôn phương
LÊ TUẤN ĐẠT






Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

18 đời vua Hùng Vương

18 đời vua Hùng Vương:
Một ý niệm về liên tục
Nguyên Nguyên

Bài này được chuẩn bị viết cách đây cũng 3-4 tháng. Nhưng bận chuyện này chuyện nọ nên cứ bị đình hoãn hoài. Hay cũng không bằng hên. Chính nhờ ở việc trì hoãn đó, nhiều chứng liệu rất quan trọng liên tiếp đập vào mắt người viết. Đặc biệt qua những phim kung fu thời 60-70 của Shaw Brothers, ngày nay được tung ra lại thị trường dưới dạng DVD.
Đề tài chính của bài này: Chuyện 18 đời vua Hùng Vương có thật hay không? Con số 18 có chính xác chỉ 18 đời vua hay không? Hoặc giả được ghi sai chép trật? Từ 80 đời hoặc 180 đời, chép lộn ra thành 18 đời? Hoặc không có gì hết.
Sau đây xin quan sát 'chuyện 18 đời' dưới một góc độ tương đối mới, và sẽ cố gắng tránh đề cập đến những vấn đề liên hệ, như: trăm con, gốc gác Âu Cơ và Lạc Long Quân, Hùng Vương, Văn Lang, v.v. Xin để dành cho những dịp khác.
Viết về Họ Hồng Bàng, quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim [1] có chép:
'Cứ theo tục truyền thì Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.''