Người theo dõi

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

BIÊN NIÊN CỦA HAI CON MẮT


             BIÊN NIÊN CỦA HAI CON MẮT

            Năm 1960, tui mười ba tuổi học lớp đệ lục trường bán công Lâm Quang Ky. Bài thơ Đường Luật đầu tiên tui làm là cũng là lúc nền hoà bình tạm bợ lại vướng mùi thuốc súng. Có trời mà biết tại làm sao mà người ta uýnh lộn. Và cũng chả biết tại làm sao tui lại làm bài thơ ấy. Nhưng là con nít, con nôi nên bài thơ ấy đọc lên nghe mắc cười thấy mồ. Vậy mà tui lại không quên, nó ám tui như ma ám. Rồi không hiểu tự bao giờ, cứ lâu lâu tui lại có một bài. Hôm nay già rồi gom lại mới thấy hai con mắt mí lót của tui nhìn sự đời coi bộ… cũng được.
Lê Thường Dân

1960
Vọng gác đêm sương nhớ đến nàng.
Cách xa ngàn dặm cõi biên quan.
Đì đùng tiếng súng thời ly loạn,
Tan nát hồn đơn cảnh bẽ bàng.
Chinh chiến anh đi vì đại nghĩa,
Quê nhà em đợi bởi giang san.
Ngày anh trở lại khi non nước,
Khắp nẻo hoan ca khúc khải hoàn?
                                 

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

Chí Phèo

Chí Phèo 2017 (Truyện ngắn)
Có một con hạc giấy
Tôi mang mãi theo người
Nàng nay xa xôi mắt
Chú hạc, im, ngậm ngùi
Sớm mai, nắng thăm vườn
Đường thênh, ta dạo bước
Nắng rừng sau lưng rượt
Gió lồng, ướt mi sương
---------

Giữa chiều Chủ nhật, trời còn năng nắng, Chí Phèo lên chiếc xe Future xám, mần một cú dạo bờ sông Sài Gòn… Vừa chạy, gã vừa hát nghêu ngao: ‘ My songs quietly implore you through the night down to the silent wood. My love, come to me!…’ (Chiều buồn nhẹ xuống đời. Người tình tìm đến người. Thấy run run trong chiều phai… Lời Việt: Phạm Duy).

Phạm Duy dịch như thế!, thế mà gã dịch thoáng là:
Chạm nắng ai ngờ chạm… áo em
Chiều buông vẽ trọn núi cong mềm
Cỏ may lướt gối vô tình kéo
Ta biết nên về hay ở… thêm!

Chả biết gã học tiếng Anh từ tụi Tây nào!, nhưng trước mắt thì gã đúng là cái đồ ‘xxx đến thế là cùng’, mà ông Lỗ Tấn nói là nổ như… A Cu!, hehe…

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Tiếq Việt Có Phải Là Một Âm Mưu Nhập Háng

Tiếq Việt Có Phải Là Một Âm Mưu Nhập Háng

Một đề xuất của Bùi Hiền đang làm dậy sóng trên mạng. Theo như lời tác giả của đề án này thì đây là một công trình nghiên cứu 40 năm và chưa hoàn chỉnh. Mục đích là để tiết kiệm giấy và thời gian khi viết một văn bản và làm cho người viết đỡ sai chính tả… cùng với hàng lô hàng lốc những lý do khác. Một lập luận rất khiên cưỡng nhưng lại bỏ qua những bất cập của chúng khi áp dụng.
Cái cần lưu ý là “một công trình chưa hoàn chỉnh” mà lại tung ra trong lúc này để nhận lấy một phản ứng dữ dội như mấy ngày nay (một phản ứng có thể lường trước được) thì liệu có đáng không?
Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy xem lại phản ứng của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam. Hầu hết đều không đồng tình (trừ Đoàn Hương) nhưng cho rằng đây là một công trình đáng được ghi nhận để coi chơi. (!?)
Trong quá trình hình thành cách sử dụng mẫu tự Latin để viết và đọc tiếng Việt như hiện nay đã trãi qua nhiều lần cải cách. Không cần phải liệt kê như thế nào chúng ta hãy nhìn và đọc lại văn bản “Phép giảng tám ngày “– Tự điển Việt-Bồ-La của Alessandre De Rhodes (1651), Quấc Âm tự vị của  Huỳnh Tịnh Của (1895), Chính Tả Việt Ngữ của Lê Ngọc Trụ (1951), Tự Điển Tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (2005), chúng ta sẽ nhận ra ngay sự thay đổi trong cách viết tiếng Việt theo mẫu tự Latin. Sự thay đổi ấy không xuất phát từ những công trình nghiên cứu nào mà là sự biến thiên trong quá trình của cuộc sống. Tự thân xã hội sẽ thay đổi để đáp ứng yêu cầu làm cho chữ viết và tiếng nói luôn luôn khế hợp nhau một cách hài hòa và đáp ứng đúng theo yêu cầu của cuộc sống. Trong quá khứ cũng đã từng có những cá nhân đưa ra những công trình thay đổi cách viết như Nguyễn văn Vĩnh, Tản Đà, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Ngu Ý… nhưng tất cả đều chìm vào lãng quên và không ai muốn nhắc đến nữa, (ngoại trừ của Nguyễn văn Vĩnh, vì những thay đổi của ông hoàn toàn chính xác và được đông đảo mọi người châp nhận)
Trong suốt quá trình tồn tại của mình tiếng Việt đã nhiều lần thay đổi chữ viết, cách viết, cách đọc tiếng nói của dân tộc mình, dù mượn chữ Hán, sáng chế chữ Nôm, rồi ký tự Latin. Cái độc đáo của người Việt là dù chữ nào, ký tự nào thì người Việt cũng chỉ diễn âm chớ không hề diễn nghĩa và tiếng Việt tồn tại suốt hơn 4000 năm. Đó là phần cốt lõi của văn hóa. Một ngàn năm sống dưới nền văn hóa nô dịch của Hán Nho. Sĩ Nhiếp đã tiêu diệt chữ Việt cổ (để cho mấy ông Việt Nho co ro cúm rúm tôn là Nam Giao học tổ) cũng chỉ là cách đưa giáo Tàu cho người Việt đâm Chệt. Người Việt đọc chữ Hán bằng tiếng Việt với đầy đủ sáu thanh chứ không đọc bằng tiếng Tàu (bốn thanh) và tạo nên âm Hán-Việt
Trở lại công trình của Bùi Hiền, cái cách viết tiếng Việt như ông đề xuất, dù vẫn còn đủ sáu thanh (không, sắc, hỏi, huyền, nặng, ngã) nhưng với cái thói quen đọc tiếng Việt như hiện nay thì người đọc bổng trở nên xì xồ, xì xào, người nghe thì có cảm giác như nghe tiếng Quan Thoại hay tiếng Quảng, tiếng Tiều.
Nhưng cốt lõi thì lại nằm ở đây:
"Tôi thấy nhiều người rất mâu thuẫn bởi trên mạng xã hội họ chê lên chê xuống, bảo khó học nhưng buồn cười là sau đêm đầu tiên, họ đã dùng chính chữ của tôi để chửi tôi!", PGS.TS Bùi Hiền chia sẻ về lùm xùm ngôn ngữ trong những ngày qua.
Hàng ngày chúng ta thấy cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường hay sử dụng cách viết gọi là teencode để chát chít trên laptop, Ipad, Iphone mà những ngừời đứng tuổi phải banh mắt ra đọc mà chả hiểu các bạn trẻ ấy nói gì? Nhưng lần hồi cũng mày mò ra được và tí tởn mần theo.
Nắm được yếu tố này, cái công trình chết tiệt này được tung ra, để người người đọc ngọng, nhà nhà nói nghịu, từ 6 thanh còn lại 4 thanh. Họ chấp nhận bị ném đá, và khi chúng ta thấy các văn bản kỳ khu ấy được viết tràn lan trên mạng (dù chỉ để chơi hay chửi rủa thôi), dần dần người ta quen cái cách viết ấy, cách đọc, cách nói ấy. Thế là người ta (khi bị bắt buột) học tiếng Quan Thoại thì học rất nhanh, vì không còn nhấn nhá, lên bổng xuống trầm 6 thanh như tiếng Việt. Những phản ứng dữ dội như hiện nay sẽ chìm dần vào “hiệu ứng đám đông”. Thế là tiếng Việt chết queo. Đại công Nhập Háng hoàn thành.
Để Kết luận. Xin mượn một câu nói của Tưởng Giới Thạch “Lãnh thổ quốc gia bị mất có thể khôi phục. Nhưng văn hóa bị mất thì dân tộc đó tiêu vong”
Yêu cầu các bạn trẻ cứ thoải mái teencode và đừng bao giờ rớ động đến buồicode
Rạch Giá 1g ngày 1/12/2017
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

THƯ GỞI BÙI HIÊN


Thưa giáo sư Bùi Hiền! 
Đầu tiên cháu cảm ơn tâm huyết 40 năm nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt của giáo sư. 
_Thưa giáo sư, cháu không phải là giới nghiên cứu. Cháu chỉ là một người lính canh trời trong QĐND Việt Nam, nhưng thú thật với giáo sư, mấy hôm nay cháu và mọi người bất an quá. Thậm chí là rất giận giáo sư, giáo sư có biết không? 
_Đôi lúc cháu cũng đã nghĩ ngược lại suy nghĩ của quần chúng xem như thế nào? Nghĩa là cháu liên hệ với các phát minh trên thế giới, trước kia người ta bảo rằng đấy là điên rồ. Nhưng sau đấy lại là công trình vĩ đại được ứng dụng cho nhân loại. 
_

Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

Xứ Đàng Trong

Xứ Đàng Trong
This entry was posted on Tháng Năm 9, 2013, in Lịch sử Việt Nam and tagged Nguyễn Văn Kim. Bookmark the permalink. 1 Phản hồi
Xứ Đàng Trong
This entry was posted on Tháng Năm 9, 2013, in Lịch sử Việt Nam and tagged Nguyễn Văn Kim. Bookmark the permalink. 1 Phản hồi


XỨ ĐÀNG TRONG TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ TƯƠNG TÁC QUYỀN LỰC KHU VỰC
 PGS.TS. Nguyễn Văn Kim
1. NGUYỄN HOÀNG VÀ SỰ NGHIỆP KHAI MỞ ĐẤT ĐÀNG TRONG
Mặc dù còn có những ý kiến khác biệt nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng sau khi cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn kết thúc vào năm 1572 một thế cuộc phân cát Đàng Ngoài – Đàng Trong đã xác lập.  Từ mốc thời gian đó đến tháng 6-1786, khi quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, tiến đánh Phú Xuân rồi thừa thắng vượt sông Gianh, đánh tan quân Trịnh, làm chủ Thăng Long tháng Tám năm đó… lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn hai thế kỷ (214 năm) với nhiều thách thức và biến chuyển lớn.

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

TUỔI 70 ĐỌC KHÓA HƯ NGỮ LỤC

TUỔI 70 ĐỌC KHÓA HƯ NGỮ LỤC

“Nhân Bất Vị Kỷ Thiên Tru Địa Diệt”
Đây là một câu tục ngữ của Trung Hoa, không biết nó xuất hiện từ bao giờ, và nó đã khuynh loát xã hội Trung Hoa một cách tàn khốc, hầu hết những người được gọi là “danh nhân” Trung Hoa đều ít nhất một lần trong đời đã nói hay nghĩ tới câu này và thực hiện nó một cách triệt để và tàn bạo mà đỉnh điểm là Tào Tháo đã tàn sát cả nhà Tả Bá Xa (khi nghe lén gia đình ông này bàn cách mỗ heo để thết đãi Tháo) và sau đó Hoa Đà, khi nghe Hoa Đà đòi phẩu thuật não cho Tháo để trị chứng nhức đầu) cùng một câu nói nổi tiếng “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta.”. tiếp theo là sự kiện Huyền Vũ Môn, Lý Thế Dân giết anh Kiến Thành, giết em Nguyên Cát để giành lấy ngai vàng… Cả một quá trình lịch sử của Trung Hoa được xây dựng như thế. Và 18 thế kỷ sau có một nhóm người Trung Hoa khác đồng tình và thực hiện một cách chỉnh chu quan điểm chết tiệt này: Mao Trạch Đông và đảng cộng sản Trung Hoa. Hiện nay nó xuất hiện nhan nhãn trên các phim ảnh Trung Hoa
Kết hợp với Nho Giáo, quan điểm “nhân bất vị kỷ thiên tru địa diệt” theo gót chân xâm lược tràn vào Đại Việt gây không ít hệ lụy cho dân tộc hiền hòa này.
Nhưng tính cách của người Âu Lạc khế hợp cùng tư tưởng Đạo Bụt và…

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Cổ sử và công cuộc mở mang bờ cõi Việt Nam –

Cổ sử và công cuộc mở mang bờ cõi Việt Nam
phản biện
nhà Việt Nam học người Hàn Quốc
Trần Thị Hồng Sương
24.1.2009
http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/tths.htm



“… Sao lại đi theo con đường mất nước của các quốc gia lo lăng mộ tượng đài lễ hội khi người sống còn phong trần tha phương xứ người kiếm sống, đâu đó còn người bữa đói bữa no, dân chúng biết dùng tiền phúng điếu làm thiện nguyện còn quan chức lại làm chuyện trái đạo là xài tiền phung phí tổ chức lễ hội, xây đền đài và giữ gìn xác ướp!…”

Nhìn vào chiều sâu thì mỗi một công cuộc một xung đột quốc gia đều có nét đặc thù khó thể khái quát thành quy luật chung. Xung đột biên giới phía Bắc Trung Quốc Việt Nam khác, lịch sử người Chăm Pa miền Trung suy tàn hoà nhập vào xã hội Việt Nam khác và đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long vì sao thuộc về Việt Nam càng có nét đặc thù khác.

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

NHỮNG TỪ DÙNG SAI TRONG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
*Book Hunter:  Trong ngôn ngữ giao tiếp và hành chính của người Việt chúng ta hiện nay, nhiều từ đã bị sử dụng không chính xác, bị biến nghĩa hoặc ghép từ một cách kệch cỡm. Điều này thể hiện tư duy tạm bợ và tinh thần thiếu trách nhiệm trong sử dụng ngôn từ. Việc đưa ra những khái niệm không chính xác này tạo thành một thói quen chấp nhận sự mù mờ trong định nghĩa từ, dễ gây hiểu lầm và tranh cãi, khiến cho văn bản kém tính chính xác. Đây là một bài chúng tôi sưu tầm, liệt kê các trường hợp sử dụng từ sai trong tiếng Việt hiện nay.

KỶ NIỆM 183 NĂM NGÀY SINH CỦA VUA TỰ ĐỨC (22/9/1829-22/9/2012),

KỶ NIỆM 183 NĂM NGÀY SINH CỦA VUA TỰ ĐỨC (22/9/1829-22/9/2012), NHÌN LẠI TẤM GƯƠNG HIẾU HỌC & HIẾU THẢO CỦA VỊ VUA ĐƯỢC CHO LÀ THÔNG MINH, YÊU NƯỚC NHƯNG GẶP NHIỀU BẤT HẠNH NÀY


Tự Đức là vị vua thứ 4 và ở ngôi lâu nhất trong tổng số 13 vị vua triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại). 

Ông tên là Nguyễn Phúc Thì, hiệu là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, sinh ngày 25/8 năm Kỷ Sửu (1829), là con thứ hai của vua Thiệu Trị với bà Phạm Thị Hằng (tức Từ Dũ/Từ Dụ), lên ngôi vua từ tháng 10/1847 đến năm 1848 thì đặt niên hiệu là Tự Đức, mất ngày 16/6/ Quý Mùi 1883 (tức ngày 19/7/1883), thọ 54 tuổi, ở ngôi 36 năm. 

Cả thời gian dài, do đánh giá chưa đúng về nhà Nguyễn nên hầu như người ta chỉ biết đến Tự Đức với những tội lỗi: nào là nhu nhược, hèn nhát, bán nước, đầu hàng giặc...mà quên mất rằng chính ông là người rất thông minh và cũng nặng lòng với nước. 

Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017

NÉN HƯƠNG LÒNG GỞI ĐẾN NHỮNG QUÝ THẦY CÔ YÊU KÍNH CỦA TÔI.

NÉN HƯƠNG LÒNG GỞI ĐẾN NHỮNG QUÝ THẦY CÔ YÊU KÍNH CỦA TÔI.

Tôi vốn dĩ là một tên lơ mơ, chưa bao giờ quan tâm đến những ngày lễ, tết. Nhất là những ngày như Valentine, Ngày Phụ Nữ, ngày của Mẹ, ngày của Cha, ngày Nhà Giáo và kể cả những ngày Tết mang tính truyền thống như Nguyên Đán, Trung Thu, Giáng Sinh hay Phật Đản hay ngày sinh nhật của tôi. Tôi có một lý do chắc nịch để biện bạch cho cái tính lơ mơ này là ngày nào tôi cũng yêu bồ tôi, chăm lo chu đáo cho vợ tôi, ngày nào tôi cũng vâng lời và kính trọng Ba Mẹ, người sinh thành dưỡng dục tôi. Thầy cô giáo đã dạy dỗ và trao truyền kiến thức cho tôi. Ngày nào tôi cũng vui vẻ và hòa nhã đối với mội người chung quanh, ngày nào tôi cũng nghe và tuân theo lời răn của Chúa, nhìn theo ngón tay của Bụt, thế thì tại sao tôi bận bịu cái giống gì mà mỗi năm chỉ dành cho họ có một ngày.
Nhưng từ khi lang thang trên Net, thì hễ tới ngày nào đó thì mọi người ồn ào hoa, quà cùng những lời chúc tụng không bao giờ có thật gởi đến nhau. Hóa ra trong cái thế giới ảo này cũa màu mè ra phết.
Thôi thì nhập gia tùy tục vậy. Hôm nay ngày Nhà Giáo 20-11. Tôi cũng hoa hòe hoa sói viết đôi giòng màu mè cùng một nén hương lòng kính gởi đến quý Thầy Cô đã từng dạy dỗ cho tôi có một ít kiến thức và tính cách mà tôi mang vào đời gần 70 năm qua.

UỐNG RƯỢU VỚI DIÊM VƯƠNG

UỐNG RƯỢU VỚI DIÊM VƯƠNG

Bữa say quá, tôi lơ mơ nằm ngủ
Thấy Diêm vương cầm lưỡi hái tới gần
Tôi kinh hãi, phút giây bừng tỉnh rượu
Bật vùng lên, toan tìm kế thoát thân

Diêm vương nói: Tao kiếm mày uống rượu,
Lưỡi hái đây chưa tới lượt của mày
Đừng có sợ mà mất đi hứng thú
Nào ngồi đi, tao chấp trước chai này!

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

NGHỀ CAO QUÝ



Một ngày tôi bị bệnh

Không đến lớp một ngày

Học trò lấy sách đọc

Ba phần cũng hiểu hai



Một tuần tôi bị bệnh

Không tới lớp một tuần

Học trò vẫn học được

Học nhiều từ chung quanh



Chị công nhân quét rác

Chỉ cần bệnh một ngày

Đôi tay ngưng cầm chổi

Rác mọc đầy đường ngay.



Chị công nhân bị bệnh

Không quét rác một tuần

Rác ngập đè lên phố

Phố không còn mùa xuân



Chị công nhân bị bệnh

Nhiều người sẽ bệnh theo

Chị công nhân biết vậy

Không dám bệnh nhà nghèo



Nghề của tôi cao quý

Được nhiều người tôn vinh

Sao nhìn chị quét rác 

Thấy mình nên nín thinh?


Lê Tuấn Đạt

https://www.facebook.com/lythiendang/posts/1993218610941238?comment_id=1995123660750733&notif_id=1510840123645788&notif_t=feed_comment_reply

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

MỘT CÁI NHÌN VỀ “HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG”

PHẦN MỘT :
MỘT CÁI NHÌN VỀ “HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG”
Lê Việt Thường
KINH QUA VĂN HÓA VIỄN ĐÔNG (I)
Published  | Posted in 

http://minhtrietviet.net/lemontee/wp-content/uploads/2017/05/LuanBanVanHoa-DuoiAnhSang-AnViVietNho-Tap0109-LeVietThuong.pdf 

DẪN NHẬP
Trên hành trình đi về với Văn Hóa Viễn Đông và Việt Nam, có một TRỞ NGẠI lớn lao là đại đa số giới Trí Thức gọi là “Tây Học” thường không nắm vững Tinh Hoa của Văn Hóa Viễn Đông và Việt Nam, nên có thói quen áp dụng một cách Sai Lạc, không đúng chỗ các Phạm Trù của TÂY PHƯƠNG vào môi trường Văn Hóa Viễn Đông và Việt Nam, nhất là trong lãnh vực Huyền Thoại học. Do dó, vấn đề ưu tiên và cốt yếu ở đây có lẽ là phải HIỂU ĐÚNG Thần Thoại,Huyền Thoại, Huyền Sử là gì?

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017

14 lần xâm lược nước Việt của giặc phương Bắc


Không kể những cuộc xâm lấn nhỏ, đã có 14 lần các triều đại phương Bắc xua đại quân xâm lược toàn diện nước Việt.
1. Cuộc xâm lược của nhà ÂnTheo sách vở Trung Hoa, năm 1218 TCN, Ân Cao Tôn đã đánh Quỷ Phương, vùng Đồng Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn ‘không thắng’. [Nhà Ân còn được gọi là Nhà Hậu Thương].
Theo Truyền kỳ Phù Đổng của Việt Lạc, Ân Cao Tôn đã xâm lấn nước ta ba năm và đã bị đánh bại.
Như thế, theo Truyền kỳ Phù Đổng, cách đây 3200 năm, dân Việt Lạc đã là một quốc gia vững mạnh. Nước nầy đã có tổ chức chặt chẽ, có vua quan, có làng xã, có cúng tế, có lúa gạo, có vải áo, có lũy tre… đã đúc được ngựa sắt, roi sắt, đã có tinh thần dân tộc cao độ… và, theo sách vở Trung Hoa, đã chiến thắng giặc Ân vào thời kỳ hùng mạnh nhất của chúng.
[Vào thời kỳ nầy, tộc Hoa chưa thành hình. Phải hơn 100 năm sau, bộ lạc Chu mới gom góp các bộ lạc du mục khác ở vùng Thiểm Tây, và thành lập Nhà Chu. Từ đó, tộc Hoa mới thành hình và phát triển].

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2017

NHỮNG VỊ NỮ VƯƠNG CÔNG CHÚA VIỆT


NHỮNG VỊ NỮ VƯƠNG CÔNG CHÚA VIỆT 
Trần Thị Hồng Sương

“… Không phải tình cờ mà phụ nữ đã đạt được đến đỉnh cao tri thức để có thể bày tỏ thân phận con người trong lốc xoáy chiến tranh độc tài xâm chiếm lãnh thổ …”
 

Lịch sử là quá khứ đã chết hẳn song vẫn ghi dấu lên nhân cách và hành động của con người qua dòng sinh mệnh của truyền thống, làm nên bản sắc dân tộc. Nhìn từ góc khác thì có người cho rằng văn hoá là những gì còn lại sau khi đã quên hết. Trải nghiệm của cuộc sống hay qua học hỏi được tiêu hoá chọn lọc đào thải mất dấu trong ý thức nhưng và ghi dấu trong tiềm thức, hình thành niềm tin và quan điểm rất sâu sắc mạnh mẻ nhiều hơn chúng ta từng nghĩ. Đã có thống kê kết luận rõ về những đứa trẻ bất hạnh lớn lên với đòn roi nhục mạ, nếu không tự tử chết như năm bé gái cột tay nhau nhảy xuống sông thì nhân thân cũng dễ phạm tội hơn nhiều lần những trẻ có tuổi thơ ít đau khổ hơn.

Đắm mình trong nền văn minh lúa nước “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, trong chiến tranh chống xâm lược phương Bắc là Trung Hoa (“Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng!”), rồi đến sự đa dạng văn hoá quốc gia khi Đại Việt có thêm cư dân người Chăm Pa và Khmer.

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

Con cặc

Con cặc
Viết xong bài “...Và những thứ con khác”,[1] tôi cứ bị ám ảnh mãi một điều: tại sao khi thấy Trần Dần văng tục “Nắm, nắm cái con cặc”, tôi lại thấy rất.. đã. Ðã, không phải vì nó tục mà vì... nó hiên ngang, nó hùng dũng, nó... đầy khí thế. Tại sao?
Tôi biết chắc không phải chỉ mình tôi mới có cảm giác ấy. Trong đám bạn bè tôi, hầu hết là trí thức và một số là phụ nữ, cũng có nhiều người nói với tôi như vậy. Họ cũng thấy câu văng tục ấy hiên ngang, hùng dũng và đầy... khí thế. Tại sao?
Tôi sực nhớ một câu chuyện xảy ra hồi cuối năm 2002, lúc tôi về thăm Việt Nam. Trong một bữa nhậu, một nhà thơ từ Canada về nửa đùa nửa thật chê một nhà thơ ở Sài Gòn là hay viết sai chính tả. Ví dụ anh nêu lên là: trong một bài thơ gửi in trong một tuyển tập của những nhà thơ được xem là tiêu biểu của Việt Nam hiện nay, thay vì viết “cặc”, nhà thơ ấy lại viết “cặt”. Nhà thơ ở Sài Gòn nhìn sang tôi như tìm một trọng tài. Tôi gật đầu xác nhận: “C”. Anh không cãi, nhưng lại cố chống chế: “Tôi nghĩ viết chữ ‘cặt’ với chữ ‘t’ nghe nó mạnh mẽ hơn. ‘Cặc’, với chữ ‘c’, thấy nó cong cong và nghe nó yếu xìu.”

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

VIẾT LÚC HẾT TIỀN UỐNG CAFÉ


VIẾT LÚC HẾT TIỀN UỐNG CAFÉ

Có những đận thèm café mờ mắt
Thuốc cong queo hối hả lụi tàn
Nghiện làm chi toàn là đồ mắc dịch
Không thì buồn mà có lại lăng nhăng

Như vậy đấy đi suốt đường say đắm
Sách và thơ, thuốc lá với café
Nhưng mà tiền thì lơ mơ quá đỗi
Lúc có, lúc không đều cũng tê mê

Nghèo hay giàu, cao danh hay tiểu tốt
Hèn hay sang… chừng như quá mơ hồ
Sống và chết liệu là điều có thật
Sắc và không, tất cả cũng hư vô

Nhưng dù gì thì lòng ta cố giữ…
… một điều thôi. Không trợn mắt phùng mang
Chẳng giận dỗi và trách phiền ai cả
Cứ tà tà đi suốt lối yêu thương

Thôi cũng đã lỡ mang vào vận số
Cứ chơi luôn chớ thắc mắc làm gì
Mai mốt rời cuộc chơi, tay trắng bóc
Bao nhiều điều tắt ngùm… Có hề chi

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu




Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

TUYÊN NGÔN CỦA MỘT NGƯỜI LÀM THƠ CỰU CHIẾN BINH



Quý vị muốn làm gì thì làm
Muốn mị dân muốn yêu nước muốn bán nước bằng mồm thây kệ
Tôi không thù người Tàu cũng chẳng ghét xứ Trung Hoa
Nhưng đứa nào xâm lược nước tôi là chết ngay tại chỗ
Quý vị cứ việc đi đêm cứ việc sửa lại bản đồ lịch sử
Cứ việc quên bẵng ải Nam Quan cho Nguyễn Trãi đội mồ
Nhưng đứa nào bứt của thân nhân tôi sợi tóc
Là tôi đập nát đầu chứ không đập bằng thơ
Quý vị cứ việc chơi gôn cứ việc sắm sửa phi cơ
Cứ đầu cơ địa ốc cứ kiếm tiền vi vút
Nhưng đứa nào bắt dân ngu cu đen thay quý vị ở tù
Là tôi đào mả ba đời quý vị lên trét cứt
Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Gaddafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Nhưng lúc đường cùng đừng năn nỉ tôi nghen !
Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đĩ
Quý vị phải như vậy mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân !



BÙI CHÍ VINH

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt



I/ Thuyết “Sở-Việt” của nguồn gốc dân tộc Việt và những đệ tử

Năm 1904, trong cuốn Le Cambodge xuất bản tại Paris, học giả người Pháp E. Aymonier đề xuất giả thuyết: “Tổ tiên những người ngôn ngữ Mon-khmer bắt nguồn từ những sườn núi phía nam Tây Tạng rồi di chuyển về phương nam theo hai hướng, hướng tây nam sinh ra người Munda ở Ấn Độ, hướng đông nam sinh ra các tộc Mon-khmer ở Đông Dương.” (1)

Từ thuyết này, vào đầu những năm 20 thế kỷ trước, L. Aurousseau khai thác thư tịch Trung Hoa, cho rằng: “Người Việt Nam trước ở Trung Hoa rồi mới di cư qua miền Bắc Việt Nam. Nước Sở thuộc giòng Bách Việt, lãnh thổ bao gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay, xuất hiện trước thế kỷ thứ XI trước CN. Ðến thế kỷ thứ IX trước CN, một ngành nước Sở di cư về phía Nam, dọc theo sông Dương Tử, định cư ở Chiết giang, thành lập nước Việt (Việt Vương Câu Tiễn) vào thế kỷ thứ VI trước CN. Năm 333 trước CN, nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy về phương Nam theo bốn nhóm: Nhóm Ðông Âu hay là Việt Ðông ở miền Ôn Châu (Chiết Giang). Mân Việt ở Phúc Kiến. Nam Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Lạc Việt ở phía Nam Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam. Các nhóm kể trên bị Hán hóa, chỉ còn lại nhóm Lạc Việt là tồn tại…”

“Những chúa dẫn các dân Việt di cư xuống miền Nam Quảng Tây và đến tận Bắc kỳ ngày nay về thế kỷ thứ IV và thứ III trước Gia tô là cùng một dòng họ với các vua Việt đến định cư ở Ôn Châu, Phúc Châu và Quảng Ðông vậy.”

Vậy thời ta có đủ chứng cớ mà nói quyết rằng người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333, và tiên tổ ngàn xưa, về thế kỷ thứ VI trước Gia tô, đã ở miền tỉnh Triết Giang nước Tàu ngày nay, vào khoảng lưu vực con sông cùng tên ấy”(2).


TÌNH VÀ QUÊ

Có một thứ muôn đời luôn luôn đẹp
Đó là quê, nơi chứa những ân tinh
Um sùm suốt cũng chỉ vì ngần ấy
Đi huốt là thành quỷ sứ, yêu tinh

Nhưng bây giờ quỷ yêu đông đảo quá
Cứ nhe nanh múa vuốt nát hồn quê
Gây hờn oán bao năm tanh mùi máu
Bọn quỷ yêu đã hết lối quay về.

Nên quê cứ dần dần teo tóp lại
Và bao nhiêu gốc gác cũng lung lay
Cũng lắm kẻ dỡ hơi đang chăm chút
Mà ân tình cũng theo gió độc hồ phai

Từ dạo đó quê chìm trong bóng tối
Và ân tình cũng lặng lẽ đi đâu
Nhưng quê vẫn là quê không thể mất
Những ân tình vẫn ái ngại nhìn nhau

Người bé mọn và tài năng tí nị
La vu vơ rồi bay tuốt lên trời
Đến ông trời cũng nín thinh không nói
Theo hạt mưa về sông nước trôi xuôi

Thôi cũng được, cũng làm xanh cây lá
Và núi, sông, rừng, biển vẫn về đây
Còn ân tình thì còn quê tươi thắm
Nếu còn yêu, còn giữ nước non này

11.7.2014

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

TĨNH LẶNG CÙNG ỨC TRAI


TĨNH LẶNG CÙNG ỨC TRAI



chút lòng xin gởi vào quê
bảy mươi mốt tuổi lè nhè vài câu
xin muôn loài tựa nương nhau
trời xanh nước biếc nên màu bình yên
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

























Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

Một Thời Để Thơ Và Một Thời Để Thở




Một Thời Để Thơ Và Một Thời Để Thở

Những cánh rừng có từ thời mở nước
Đầy oai linh hùng vĩ một màu xanh
Những ngọn núi ngất trời đang ngạo nghễ
Suối thác reo trắng xóa những trong lành

Những giòng sông, kênh đào con lạch nhỏ
Vẫn miên man chuyên chở những tình yêu
Ẩn nấp dưới ngàn xanh bờ bến đợi
Sóng rì rào muôn câu hát trong veo

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

VỀ VIỆC THƯỞNG THỨC THƠ CỦA TIỀN NHÂN

VỀ VIỆC THƯỞNG THỨC THƠ CỦA TIỀN NHÂN

“Để thưởng thức thơ cổ cho thú, ta cần nhớ điểm sau đây. Tâm hốn ta thay đổi quá nhiều. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới do ta chế tạo ra và do những quy luật tự nhiên mà ta nắm bắt được một phần tạo nên. Thói quen ấy càng tăng lên với nền văn minh tiêu thụ đã cắt đứt mối quan hệ của ta với vũ trụ. Ta nhìn thế giới với con mắt của tên ăn cướp, cho nên không thể nào có lại được cái cảm quan rắng mình thống nhất với vũ trụ. Thằng ăn cướp ấy xem núi sông cây cỏ như những đồ dùng và con người dược hắn nhìn ở khía cạnh một đối tượng để rút ra một công dụng gì đấy. Không chỉ một cái nhìn ngây thơ vào thế giới thần linh mất đi. Và những cái nhìn ngây thơ vào thế giới bên ngoài cũng mất nốt. Quan hệ bạn bè thu hẹp vào quan hệ công việc. Quan hệ thầy trò cũng thế, quan hệ vua tôi mất đi chuyển thành quan hệ phân công. Rồi quan hệ nam nữ có nguy cơ chuyển thành quan hệ tính giao. Luật pháp là những đồ vật do ta chế tạo ra đang thay thế mọi xã hội, dù đó là quan hệ gia đình. Cái khâu cuối cùng tưởng chừng như vĩnh viển là quan hệ mẹ con đang mất với lối đẻ con trong môi trường nhân tạo (và nuôi dưỡng con cái bằng sữa bình và nhà trẻ.NV). Ta đang ra sức đồ vật hóa thế giới thì thế giới đồ vật sẽ trả thù: ta biến thành đồ vật. Và nghệ thuật dĩ nhiên cũng không thoát khỏi tình trạng ấy.

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.



Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó - vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.
Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài" (Thực lục I, tr.531).


Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Nước Mắt Quê Hương


Nước Mắt Quê Hương
Kính tặng anh Đỗ Minh Quân

Ly rượu đế của một thời binh lửa
Bổng dưng thành giọt nước mắt quê hương*
Chiều buông xuống dừng quân nơi xóm nhỏ
Chén đưa cay khơi giòng lệ tràn tuôn

Đời cay cực anh em chung giòng máu
Súng ai đâu mà đánh đấm ì ầm
Máu đã dổ và hận thù lãng nhách
Mẹ khóc con nước mắt mãi tuôn dầm

Những giòng lệ cứ thì nhau tuôn chảy
Lời nguyện cầu không dứt máu đừng tuôn
Chồng vợ, mẹ cha, anh em, bè bạn
Và khơi luôn cả hàng xóm láng giềng

Nước mắt cay hay rượu cay. Không biết
Chỉ có lòng là cay xót. Trời ơi
Rồi đến khi chiến tranh không còn nữa
Nước mắt vẫn rơi. Quê hương vẫn ngậm ngùi

Bốn mươi năm. Tay cầm lên chén rượu
Lòng rưng rưng thương kẻ mất người còn
Hận thù. Kẻ đã quên, thằng thì khơi lại mãi 
Rượu vẫn cay lòng. Nước mắt quê hương

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu 2015

-----------------------
* trước ngày 30/4/1076, những người lính QL/VNCH sử dụng cụm từ "nước mắt quê hương" để chỉ Rượu đế.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Tâm Kinh Ra Phố

Tâm Kinh Ra Phố

Những lúc trong lòng dấy lên lực bực
Ngồi thầm thì đọc Bát Nhã tâm kinh
Hơi thở điều hòa, nhẹ tênh đầu óc
Ngưng đọc rồi lại có có không không

Cứ tưởng như những câu kinh cứu khổ
Cứ vin vào và lảm nhảm từng câu
Quên là Bụt tại tâm, ở ngoài đâu có
À. Hóa ra là ta xà oát, xà mâu

Bèn bỏ Blog, bỏ mail đi ra phố
Rồi cũng quên luôn chát chít like, love
Nắng vẫn trong veo kèm mưa lất phất
Trời đất hữu tình mà ta có biết đâu

Chợt nhận ra dưới bóng cây râm mát
Không mưa rơi, không nắng chói chang lòng
Chờ đèn xanh ta vèo đi quanh quẩn
Hóa ra đời là quanh quẩn có không

Hít thật sâu vào trong buồng phổi trống
Một mùi hương thật lạ của cuộc đời
Không khẩu trang nên mùi hương lầm bụi
Thở ra rồi ta tiếp tục rong chơi

Có ông Bụt trong bụng cười khúc khích
Thằng nhóc này coi vậy cũng hay hay
Mặt chù ụ đã biết cười tủm tỉm
Cùng người bên kia rồi người ở bên này

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu