Người theo dõi

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

TĨNH LẶNG CÙNG ỨC TRAI


TĨNH LẶNG CÙNG ỨC TRAI



chút lòng xin gởi vào quê
bảy mươi mốt tuổi lè nhè vài câu
xin muôn loài tựa nương nhau
trời xanh nước biếc nên màu bình yên
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

























Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

Một Thời Để Thơ Và Một Thời Để Thở




Một Thời Để Thơ Và Một Thời Để Thở

Những cánh rừng có từ thời mở nước
Đầy oai linh hùng vĩ một màu xanh
Những ngọn núi ngất trời đang ngạo nghễ
Suối thác reo trắng xóa những trong lành

Những giòng sông, kênh đào con lạch nhỏ
Vẫn miên man chuyên chở những tình yêu
Ẩn nấp dưới ngàn xanh bờ bến đợi
Sóng rì rào muôn câu hát trong veo

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

VỀ VIỆC THƯỞNG THỨC THƠ CỦA TIỀN NHÂN

VỀ VIỆC THƯỞNG THỨC THƠ CỦA TIỀN NHÂN

“Để thưởng thức thơ cổ cho thú, ta cần nhớ điểm sau đây. Tâm hốn ta thay đổi quá nhiều. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới do ta chế tạo ra và do những quy luật tự nhiên mà ta nắm bắt được một phần tạo nên. Thói quen ấy càng tăng lên với nền văn minh tiêu thụ đã cắt đứt mối quan hệ của ta với vũ trụ. Ta nhìn thế giới với con mắt của tên ăn cướp, cho nên không thể nào có lại được cái cảm quan rắng mình thống nhất với vũ trụ. Thằng ăn cướp ấy xem núi sông cây cỏ như những đồ dùng và con người dược hắn nhìn ở khía cạnh một đối tượng để rút ra một công dụng gì đấy. Không chỉ một cái nhìn ngây thơ vào thế giới thần linh mất đi. Và những cái nhìn ngây thơ vào thế giới bên ngoài cũng mất nốt. Quan hệ bạn bè thu hẹp vào quan hệ công việc. Quan hệ thầy trò cũng thế, quan hệ vua tôi mất đi chuyển thành quan hệ phân công. Rồi quan hệ nam nữ có nguy cơ chuyển thành quan hệ tính giao. Luật pháp là những đồ vật do ta chế tạo ra đang thay thế mọi xã hội, dù đó là quan hệ gia đình. Cái khâu cuối cùng tưởng chừng như vĩnh viển là quan hệ mẹ con đang mất với lối đẻ con trong môi trường nhân tạo (và nuôi dưỡng con cái bằng sữa bình và nhà trẻ.NV). Ta đang ra sức đồ vật hóa thế giới thì thế giới đồ vật sẽ trả thù: ta biến thành đồ vật. Và nghệ thuật dĩ nhiên cũng không thoát khỏi tình trạng ấy.

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.

Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó - vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.
Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài" (Thực lục I, tr.531).

Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

Nước Mắt Quê Hương


Nước Mắt Quê Hương
Kính tặng anh Đỗ Minh Quân

Ly rượu đế của một thời binh lửa
Bổng dưng thành giọt nước mắt quê hương*
Chiều buông xuống dừng quân nơi xóm nhỏ
Chén đưa cay khơi giòng lệ tràn tuôn

Đời cay cực anh em chung giòng máu
Súng ai đâu mà đánh đấm ì ầm
Máu đã dổ và hận thù lãng nhách
Mẹ khóc con nước mắt mãi tuôn dầm

Những giòng lệ cứ thì nhau tuôn chảy
Lời nguyện cầu không dứt máu đừng tuôn
Chồng vợ, mẹ cha, anh em, bè bạn
Và khơi luôn cả hàng xóm láng giềng

Nước mắt cay hay rượu cay. Không biết
Chỉ có lòng là cay xót. Trời ơi
Rồi đến khi chiến tranh không còn nữa
Nước mắt vẫn rơi. Quê hương vẫn ngậm ngùi

Bốn mươi năm. Tay cầm lên chén rượu
Lòng rưng rưng thương kẻ mất người còn
Hận thù. Kẻ đã quên, thằng thì khơi lại mãi 
Rượu vẫn cay lòng. Nước mắt quê hương

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu 2015

-----------------------
* trước ngày 30/4/1076, những người lính QL/VNCH sử dụng cụm từ "nước mắt quê hương" để chỉ Rượu đế.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Tâm Kinh Ra Phố

Tâm Kinh Ra Phố

Những lúc trong lòng dấy lên lực bực

Ngồi thầm thì đọc Bát Nhã tâm kinh

Hơi thở điều hòa, nhẹ tênh đầu óc

Ngưng đọc rồi lại có có không không


Cứ tưởng như những câu kinh cứu khổ

Cứ vin vào và lảm nhảm từng câu

Quên là Bụt tại tâm, ở ngoài đâu có

À. Hóa ra là ta xà oát, xà mâu


Bèn bỏ Blog, bỏ mail đi ra phố

Rồi cũng quên luôn chát chít like, love

Nắng vẫn trong veo kèm mưa lất phất

Trời đất hữu tình mà ta có biết đâu

Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2017

ĐẤT NƯỚC TÔI

Đất nước tôi.
Tôi nói rằng không thể mất
Dù ngoại xâm có lớn giọng ngông cuồng
Đất nước tôi.
Tôi nói rằng không thể mất
Dù quân thù có dí súng vào lưng

Bốn ngàn năm ông cha tôi vẫn thế
Quân xâm lăng biết bao bận bưu đầu
Bốn ngàn năm ông cha tôi vẫn thế
Dù bọn tàn dân hại nước thiếu chi đâu

Hán bao lần vỡ mật
Đường mấy lượt kinh hồn
Tống đòi phen xính vính
Mông vùi  xác Bạch Đằng

Minh mười năm tan tác
Thanh một trận kinh hoàng
Pháp vùi thây lớp lớp
Bốn ngàn năm Việt Nam

Vẫn còn kẻ chưa thuộc bài xâm lược
Vẫn còn kẻ tàn nước hại dân
Và hôm nay đồng bào tôi  vẫn thế
Quân xâm lăng giấc mộng phải tan tành
Và hôm nay đồng bào tôi vẫn thế
Bọn tham tàn phải gục mặt trước toàn dân

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu




Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

KHÔNG THỂ LÀM THƠ TÌNH

Tôi có người bạn học, từng một thời làm thơ thẩn.  Và bây giờ thì hắn vẫn thẩn thơ. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ làm thơ tình mà chỉ làm thơ móc họng. Nhưng hắn làm rồi chỉ để riêng xem, cùng lắm là cho bạn bè chí cốt đọc dăm bài.
Có một lần hắn nói với tôi: “Tao muốn làm một bài thơ  thật mùi mẩn cho vợ tao mà không bao giờ viết nổi. Chả biết tại sao? Làm như người ta đem chữ nghĩa đi viết diễn văn hay kẻ khẩu hiệu hết rồi vậy”
Thế rồi hắn ra đi, đi đâu không ai biết, nghe loáng thoáng là đi tu, để lại nhà gần một chục cuốn bản thảo, viết trên đủ loại giấy. Tuyệt nhiên không có thơ tình. LTD


KHÔNG THỂ LÀM THƠ TÌNH
Viết cho bạn tôi.

Có rất nhiều khi muốn làm thơ tình
Như cái thuở biết run khi thấy gái
Nhưng cầm cây viết lên thì ái ngại
Vì bốn chục năm rồi quên yêu thương

Bốn mươi năm không hoa nở trên đường
Cái lý lịch không ai cho ngẩng mặt
Những câu thơ viết ra lòng oặn thắt
Nhét hốc này kẹt nọ để riêng xem

Chữ nghĩa quên dần, tình cũng dần quên
Gục mặt kiếm cơm dưới màu cờ đỏ
Những yêu ghét, buồn vui không đám ngõ
Ai bảo sao làm vậy, nén cơn ho

Hôm nay sung, nhìn lại người yêu xưa
Thấy bà ấy già, xấu còn thêm xí
Ở bên nhau hơn bốn mươi năm rồi đấy
Tình vợ chồng chưa thành nổi câu thơ

Cầm viết lên rồi buông xuống. Ngẩn ngơ…
Thơ tình… thơ tình… thôi không thể viết
Chữ nghĩa. Ôi đã đi đâu mất biệt
Có phải là thành khẩu hiệu hết rồi chăng?
2.2.2015

 Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

CÓ NHỮNG ĐẬN NHƯ THẾ


CÓ NHỮNG ĐẬN NHƯ THẾ

Có những đận ngồi nghe bờ cỏ nói
Lời tâm tình xào xạc mấy ven sông
Con sóng nhỏ phập phều từng nõn biếc
Con cá rô khoái chí lội long rong

Có những đận ngồi nghe cành lá hát
Từ thiên thu ngần ấy điệu thì thào
Yên ắng gió, rì rào mưa cũng thế
Chưa bao giờ cây cối hết yêu nhau

Có những đận ngồi nghe con ong múa
Vi vu hoa này lượn đến cành kia
Chút mật ngọt tỏa hương đi khắp khắp
Nắng trong xanh trên suốt lối đi về

Có những đận quá nhiều con chim hót
Góp cho lòng những vần điệu nên thơ
Trăng và gió nắng mưa và hơi thở
Trộn vào nhau say đắm đến không ngờ

Có những đận ngồi nghe con dế gáy
Đang gọi nhau trong lục biếc nâu non
Nước loang loáng con chuồn chuồn chấp chới
Và những cành hoa dại âm thầm hương

Có những đận người đi qua chốn ấy
Tìm đến nhau thơm hai cánh môi mềm
Trời đất bủa cơn say lòng thật nhẹ
Buông trong veo vào ánh mắt êm đềm.
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu



Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

CA DAO VÀ MINH TRIẾT VIỆT


CA DAO VÀ MINH TRIẾT VIỆT




Có một ai đó khá nổi tiếng, tiếc rằng tôi không nhớ tên, nói rằng “triết Đông, triết Tây v…v…và v…v… đều có nhưng không có triết ta”.
Mà triết thì tôi kỵ dữ lắm, dù cũng đọc, thậm chí đọc nhiều, khi thiếu sách, mà chả hiểu mô tê gì: Luận ngữ, Tư bản luận, Bách gia chư tử, Jean Paul Sartre, Henry David Thoreau… Kinh Phật và cả Tân Ước, Cựu Ước… nhưng nói theo kiểu Nguyễn Thế Duyên Vấn đề không phải là ăn, vấn đề ở chỗ tiêu hóa. Phải tiêu hóa đươc thì nó mới là của mình còn ăn ngô lại ỉa ra ngô thì cơ thể vẫn suy dinh dưỡng. Có lẽ chính vì vậy mà tôi rất ghét trích dẫn”. 
Nhưng cái chuyện trong sinh hoạt văn hóa của người Việt cái gì cũng Tàu thì cái này hơi bị… đúng. tôi đã từng học chữ Tàu vì khoái thơ Đường và thơ của những nhà thơ VN thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Nhưng bây giờ thì không khoái nữa vì ghét Mao Trạch Đông và Cộng Sản Tàu.
Trở lại vấn đề triết ta thì theo tôi nghĩ là có đấy. Nó nằm trong cái kho khổng lồ của văn hóa dân tộc. Ca Dao. Có điều là chưa có ai hệ thống nó lại
Rồi khi lật tung các tự điển để xem các nhà tự điển giải nghĩa từ triết như thế nào, tôi mới biết tạm tàm như thế này; “Triết” là phong cách sống được đa số trong một cộng đồng chấp nhận. Khi đã biết sơ sơ như vậy, LTD mày mò trong cái nhà kho khổng lồ kia và khoái nhất hai câu này:

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

MỘT NĂM KHÔNG LÀM THƠ


MỘT NĂM KHÔNG LÀM THƠ

Lặt vặt làng quê, xóm nhỏ
Tủn mủn rẻo cao, bản xa
Lụn vụn bốn phương góp lại
Nghênh ngang hoành tráng quê ta

Mót mày từng đồng bạc lẻ
Góp vào lít xăng xe ôm
Chắt chiu từng đồng bạc lẻ
Chìa ra đóng phí cầu đường

Nhặt nhạnh từng bông lúa sót
Chút chăm từng chú cá vồ
Mắc rẻ đều đem bán tuốt
Để thu vén về tỷ đô

Khụt khịt cơn ho viện phí
Khò khè viên thuốc Pharma
Loăng quăng nước ngoài mọi, đỉ
Gởi về tứng xấp đô la

Oặn đau khúc ruột ngàn dặm
Khói hoài hương lẫn tuyết rơi
Mũ ngụy trên đầu đội lệch
Nhớ quê, kiều hối ngậm ngùi

Từ nơi đó làm đất nước
Lấm lem mày mặt với đời
Đường xá cầu kỳ  lộng lẫy
Xe con tiền tỷ rong chơi

Tủm mủn, tẳn mẵn phận người
Lụn vụn lặt vặt mảnh đời
Ai thổi một cơn trốt đỏ
Làm nên hoành tráng coi chơi


Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Hừng đông ở U Minh


Hừng đông ở U Minh

Một thoáng hồng xuyên qua vầng mây trắng

Chiếc lá non he hé mắt ra nhìn

Rồi tất cả vươn vai và hiển lộ

Nhẹ nhàng thôi để chuẩn bị long lanh



Bầy chim rộn trong cành. Chào buổi sáng

Con cá rô lên ngớp đón hừng đông

Sao lặn xuống rửa trôi màu lá thẩm

Để cho xanh lồng lộng dưới trời trong



Con cò trắng chừng như còn ngáy ngủ

Mắt trong veo lơ đãng nhìn xung quanh

Gió khởi động êm ru đôi cánh trắng

Chấp chới cùng bờ sậy trắng rung rinh



Một mùi hương theo sương đêm lắng xuống

Chợt bừng lên theo ánh nắng vàng tươm

Cơn gió thoảng mang đi mời ong bướm

Đất và trời cũng theo đó mà thơm



Rừng thức dậy như một nàng dâu mới

Và bông hoa lặng lẽ hé môi cười

Nét tươi tỉnh mượt dần đêm tóc rối

Ánh dương hồng lại dìu dặt rong chơi

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

GIA TÀI ĐỂ LẠI



Gia Tài Để Lại

Còn được gì để lại cho con cháu,
Khi non sông từng chút một hao mòn.
Sóng Hoàng Sa bốn mươi năm uất hận,
Đảo Garma rít róng gió căm hờn.

Trên Bản Giốc thác chia hai ngã nước,
Thủy bất phân mà cắt được cho đành.
Đỉnh Lão Sơn tím vầng mây vong quốc,
Ải Nam Quan rơi lệ dưới trời xanh.

Cột mốc mới, những nụ cười chó má,
Cứ từng giờ rạch nát một biên cương.
Hồn tử sĩ lập lờ sương khói phủ,
Máu xương còn đẫm ướt cả quê hương.

Những nghĩa trang bị vùi trong quên lãng,
Của những anh linh chống lại bạo tàn.
Bia xiêu ngã cỏ xanh đành ấp ủ,
Khi lòng người lớn lối thói vong ân.

Đâu lẽ nào để lại cho con cháu,
Một phần non sông mất mát phảỉ thu hồi.
Một quê hương ngày từng ngày rách nát,
Đàn cháu con lại máu đổ xương phơi.

Đâu lẽ nào một gia tài để lại,
Là bao điều nhục nhã thế này sao.
Rừng nát, biển sôi, núi non nham nhỡ,
Và những giòng sông, con suối nghẹn ngào.

Ôi ông cha bốn ngàn năm dạy dỗ,
Biết giữ quê hương, yêu mến giống nòi.
Gương trung liệt vẫn luôn luôn ngời sáng,
Trang sử vàng son ta xé mất rồi.

Đâu lẽ nào để lại cho con cháu,
Giòng máu của ta là giòng máu ngu si.
Buổi chiều phủ xuống đời, ta cúi mặt,
Đi chết đi. Hèn hạ sống làm gì.
18.54 – 5/7/2014
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2017

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam

Đặt Lại Vấn Đề Nguồn Gốc Dân Tộc Và Văn Minh Việt Nam



Hỏi một người Việt bình thường về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, câu trả lời mà người ta thường nghe là tổ tiên của chúng ta xuất phát từ Trung Quốc.  Ngay cả người có kiến thức rộng, có quan tâm đến dân tộc và văn hóa Việt cũng có những ý kiến tương tự.  Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn hóa Sử cương;  và Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, cũng từng cho rằng người Việt có nguồn gốc hoặc từ Trung Quốc[1] hay từ Tây Tạng [2], dù họ có chút dè dặt và thận trọng trong phát biểu.  Gần đây, một người làm chính trị nhưng có quan tâm đến văn hóa Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng, trong Tổ quốc ăn năn, cũng cho rằng nước Văn Lang xưa kia là do người Trung Quốc sáng lập [3] ra. 



Bản đồ Đông Nam Á vào thời đại Băng Hà

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

VUA LÊ LONG ĐỈNH VÀ SỰ THẬT CỦA LỊCH SỬ CẦN PHẢI XÁC ĐỊNH

Hơn 10 thế kỷ, những người viết sử, đọc sử, người dạy sử và học sử, đều bị đóng đinh về một vài nhân vật lịch sử, mà cũng là tổ tiên mình, như: Lê Long Đỉnh, Trần Thủ Độ, Lê Thánh Tông, Nguyễn Ánh… Trong đó vua Lê Long Đỉnh là nặng nề nhất. Ông bị gán cho những tội lỗi năng nề, bị bôi bác nhân cách một cách thảm thương.
Tại sao lại thế?
Từ nhừng trang sử cũ, từ những thông tin ít ỏi và những lời phê, nhưng hầu hết đều không căn cứ vào những sự kiện, mà cứ sái cỗ tin vào những lời phê của các nhà viết sử. Nhưng quên rằng khi phê như thế thì các sử thần như Lê văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô thì Sĩ, Nguyễn Nghiễm, Phan Phu Tiên… vẫn để lại cho hậu thế những thông tin thú vị cho hậu thế có cái mà nhận định được sự thật. Chúng ta có thể nhận ra là vua Lê Long Đỉnh đẽ có những việc làm mà chúng ta phải thán phục, có thể liệt kê ra một số:
- Là người đầu tiên mang về VN Đại Tạng kinh, một bộ kinh nền tảng của Phật giáo
- Là người đặt trụ cây số xuống đường đầu tiên của thế giới.
- Là người đầu tiên xác định khái niệm ngoại thương trên tầm cỡ quốc gia.
Gần đấy có những ý kiến phản biện lại, mình sưu tập những ý kiến đó để chúng ta có thể có một cái nhìn đúng đắn hơn về tiền nhân
Những bài viết dưới đây là của những cá nhân, họ không có khả năng hay tham vọng hoặc không đủ điều kiện viết lại lịch sử. Nhưng theo ý của tôi là. Họ chỉ muốn đưa lên một cách nhìn nhận khác về lịch sử. Rất mong nhận được sự phản hồi
Lê Thường Dân

VUA LÊ LONG ĐỈNH VÀ SỰ THẬT CỦA LỊCH SỬ CẦN PHẢI XÁC ĐỊNH

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Chiến tranh Biên giới 1979 trong SGK

Chiến tranh Biên giới 1979 trong SGK đã bị cắt từ 4 trang xuống 11 dòng

http://doilinh.net/chien-tranh-bien-gioi-1979-trong-sgk-da-bi-cat-tu-4-trang-xuong-11-dong.dl/amp


Trong suốt chiều dài lịch sử, đã rất nhiều lần dân tộc Việt Nam phải chiến đấu, hi sinh chống lại sự xâm lăng của quân xâm lược phương Bắc. Nhưng cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 lại vẫn đang có một khoảng trống ngay trong sách giao khoa Lịch sử phổ thông khác hẳn những cuộc kháng chiến oanh liệt khác của dân tộc ta…
Không thể lãng quên Chiến tranh biên giới 1979 (ảnh: Mạnh Thường)

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục

18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục
Nguyên Nguyên
http://e-cadao.com/Coinguon/18doihungvuong1yniem.htm#Có_bao_nhiêu_đời_vua_Hùng
Bài này được chuẩn bị viết cách đây cũng 3-4 tháng. Nhưng bận chuyện này chuyện nọ nên cứ bị đình hoãn hoài. Hay cũng không bằng hên. Chính nhờ ở việc trì hoãn đó, nhiều chứng liệu rất quan trọng liên tiếp đập vào mắt người viết. Đặc biệt qua những phim kung fu thời 60-70 của Shaw Brothers, ngày nay được tung ra lại thị trường dưới dạng DVD.
Đề tài chính của bài này: Chuyện 18 đời vua Hùng Vương có thật hay không? Con số 18 có chính xác chỉ 18 đời vua hay không? Hoặc giả được ghi sai chép trật? Từ 80 đời hoặc 180 đời, chép lộn ra thành 18 đời? Hoặc không có gì hết.
Sau đây xin quan sát 'chuyện 18 đời' dưới một góc độ tương đối mới, và sẽ cố gắng tránh đề cập đến những vấn đề liên hệ, như: trăm con, gốc gác Âu Cơ và Lạc Long Quân, Hùng Vương, Văn Lang, v.v. Xin để dành cho những dịp khác.
Viết về Họ Hồng Bàng, quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim [1] có chép:
'Cứ theo tục truyền thì Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.''

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Nến Hồng



Nến Hồng

Xóm quê không ánh điện
Hết dầu thắp nến hồng
Phất phơ cơn gió đảo
Xôn xao, xôn xao lòng

Em giờ xa biền biệt
Sao còn hương, còn hương
Của lần đầu hò hẹn
Môi hồng thơm, còn thơm

Ta một đời phiêu bạt
Em một đời ấm êm
Em thôi không thắp nến
Ta, nến hồng đêm đêm

Bao nhiêu là ngày tháng
Bao nhiêu là nhớ nhung
Ta mang về tất cả
Chênh chao ánh nến hồng

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

TÉ ÊNG



Vừa mới dắt xe ra đầu hẽm thì con dế lại reo. Chà chắc tay nào rủ uống cafe đây. Alô, tôi nghe. Mày hả. Ừ. Đi thăm thằng Kỷ, nó té xe. Nó mà té xe, ai tông vào nó thì có. Chẳng ai tông cả, nó té êng thôi. Mày xạo, làm sao mà té êng được, hổng lẽ nó xỉn. Thôi đi, tao chờ mày ở cổng phòng cứu cấp. Cúp máy.
Thế là tôi lại chui vào bệnh viện. Đúng là Kỷ nó té êng thật. mà suy cho cùng thì chẳng phải nó té êng. Cái bọc ny lông quái quỷ bay tấp vào mặt nó. Thế là rầm, nằm một đống. Ôi bạn tôi, tên sao người vậy thế mà… vẫn té. Nghe thằng bạn kể lại như thế
Nhìn thằng bạn kỷ tính của tôi, đầu cỗ, tay chân băng trắng vừa thấy tội tội vừa thấy mắc cười. Cái bọc ny lông quái quỷ từ đâu không biết tung cánh bay lên đáp vào khuôn mặt nghiêm nghị của nó. Chỉ có vậy mà nó té. May mà không có gì, chỉ là tróc nước sơn hơi nhiều; sơn xe và cả sơn người.  Mà tại sao cái bọc tự nhiên lại bay lên cao thế nhỉ? Hắn phều phào nói, chắc là tại chiếc xe khách chạy quá nhanh hay là tại một quý khách nào đó từ trên xe quăng xuống hổng chừng.

Thứ Sáu, 30 tháng 6, 2017

TẤM VÉ SỐ RÁCH

TẤM VÉ SỐ RÁCH
                      

Trên con đường chạy dọc theo khu lấn biển có vô số hàng quán. Con đường đến lạ lùng. Ban ngày chỉ lác đác các xe tải chở cá hoặc vật liệu xây dựng, còn nếu không thì rất yên ắng. Nhưng khi phố đã lên đèn thì thì có khối xe gắn máy đan qua lượn lại rồi biến đi đâu đó. Những nơi đâu đó, thì thôi là thượng vàng hạ cám từ những quán nhậu, nhà hàng, quán café nhạc... Không ít trong các quán đó có một số quán giải khát không cần thức uống. Trong loại quán này có quán Hằng, lấy theo tên của bà chủ. Xuất thân từ là một tiếp viên nhà hàng. Bà chủ quán bước vào thời quá date. Quá date vì tuổi tác, quá date vì trọng lượng cơ thể dư dã, hậu quả của việc nốc bia thay nước. Bà chủ quán có một thời lừng danh vì có dáng đi chậm rãi, từ tốn, hơi nghiêng nghiêng với cái mỹ danh mà giới chơi khuya đặt cho “Hằng dancing“ dù chưa bao giờ biết nhảy đầm. Nhưng bây giờ nó cũng đã trở thành quá khứ mịt mờ, dù thời gian quên lãng chẳng lâu la gì. Cái đã trở thành quá khứ ấy bắt đầu khi từ cái mỹ danh Hằng Dancing biến thành Hằng Hủ lô. Quán của bà chủ có cái đặc điểm là được trang trí bằng hàng trăm cây bạch đàn bao quanh, lúc nào cũng rì rào tiếng gió, trên một diện tích khá oách, hơn năm trăm mét vuông. Trải qua bao sóng gió bởi các đợt càn quét của công an và thông tin văn hóa. Quán vẫn tồn tại và càng lúc càng đông khách hơn, nhưng lạ ở chỗ là ít ồn ào và lời lãi nhiều hơn. Nhiều khi Hằng ngẫm nghĩ và không hiểu tại sao mình lọt qua một cách ngon ơ như thế.
             
              
Làn nước lạnh ngắt giữa đêm khuya, đã rửa sạch những phấn son và hàng trăm thứ hằm bà rằn trên người của Hằng, kể cả những ước mơ cháy lòng. Nhưng có một thứ nó không bao giờ rửa sạch. Đó là mùi bia, rượu, khói thuốc lá và nỗi nhục nhằn. Tròng vào người cái quần lót, Hằng cứ để trần như vậy ra khỏi phòng tắm, vừa đi Hằng vừa cười thầm với ý nghĩ “ Thằng cha nào mà nhìn thấy cái thân hình ngót nghét bảy chục ký lô với độc cái quần lót,  mà cao có một mét năm lăm thì không nhồi máu cơ tim cũng tai biến mạch máu não”.
Đã bước sang ngày mới. Yên ắng của đêm khuya không làm giảm đi cái oi nồng của khí hậu tháng tư. Có lẽ trời sắp mưa. Bổng dưng nỗi nhớ nhung cái làng quê nghèo khó của Hằng tràn về. Tưởng đâu xa lâu quá sẽ quên luôn. Ai dè, mỗi khi màn đêm trở lại thì nỗi nhớ thêm đầy, thêm sâu. Không biết bây giờ ảnh làm sao? Vợ con chắc cũng đã đùm đề rồi. Tiếng thở hắt ra của Hằng hòa theo một thoáng gió lay lay qua cửa sổ. Hằng nhìn lại cái thân thể dư thừa thịt mỡ của mình mà ngao ngán. Bộ ngực đồ sộ chưa có dấu bàn tay con nít, nhưng bàn tay của người lớn thì chẳng biết là cơ man nào mà đếm, mà nhớ nổi. Những người giúp việc đã về nhà từ lâu, họ cực khổ, chẳng son phấn nước hoa, bia rượu. Nhưng bù lại họ có một nơi để mà về. Các tiếp viên cũng lần lượt rời khỏi quán đi về một nơi nào đó không định trước cũng như những bất trắc mà họ gặp phải. Cái định trước duy nhất mà họ có là đôi mắt thâm quầng vì nhiều thứ và từng lát mỏng sức khỏe bị bào mòn bởi những sinh hoạt trác táng bất kỳ. Không định trước cũng là một tương lai dành cho những con người trong cái quán này và cả cho những người thường hay lui tới. Chua xót thay cái không định trước ấy chưa bao giờ là một cú trúng số lô đặc biệt. Xác xuất của nó là không phẩy không không một, trên vô cực. Trong khi mua vé số thì xác xuất là một trên trăm ngàn. Mua vé số xác xuất cao như vậy, mà ngày nào cũng một, hai chục tấm, chưa bao giờ Hằng trúng được lô nào coi cho được, còn với người khác thì chỉ nghe chớ chưa thấy. Nhưng vẫn cứ mua như mua một niềm hy vọng mong manh đã nhạt nhòa theo thời gian. Hằng chợt nhận ra, dù đây là nhà của mình, nhưng Hằng chưa bao giờ có cảm giác nó là của mình. Bởi vì nếu là của mình thì tại sao? Tại sao giờ này Hằng chưa được ngủ. Trời tháng tư vẫn cứ oi oi dù đã hơn nữa đêm. Mệt mỏi rã rời nhưng đôi mắt Hằng ráo hoảnh. Cứ để cho chín mươi bảy phần trăm diện tích da tiếp xúc thoải mái với không khí. Hằng lục tủ lạnh làm một ly café đá. Mang ly café đến cái ghế sofa, vói tay mở cái quạt máy. Hằng nằm trên ghế nhấm nháp vừa nghe những cảm giác của làn gió phất qua phất lại đều đều trên da. Bổng dưng Hằng thèm thuồng cái làn gió mang mùi mồ hôi của mình hắt đi từ cái nón lá mỗi khi cô quạt, mà hồi còn ở trong quê Hằng thường hay làm mỗi khi đi đâu đó ngoài nắng. Nhanh thật, mới đó mà đã hơn mười năm rồi. Gió của quạt điện càng lúc càng làm cho làn da được tiếp xúc với nó lạnh ra, nhưng lại đẩy cái oi nồng sang khu vực mà cơn gió không tới được, mồ hôi lại rịn ra, nhớp nháp dưới lưng và ở những nơi khuất gió làm cho Hằng khó chịu. Cô quay người lại, cái ghế sofa oằn người trước sự chuyển động của cái cơ thể đồ sộ. Tiếng cọt kẹt là Hằng bực bội. Nếu không biết dành dụm, nếu không biết cách trấn lột những thằng cha lắm tiền rửng mỡ, để lập ra cái quán này thì Hằng không biết phải sống ra sao? Khi mà cái vốn tự có càng ngày càng nâng cấp thảm hại (?). Đã lâu lắm rồi nguồn vốn ấy không sinh lãi, không sinh lãi để nuôi thân, cũng không sinh lãi để có một niềm vui trong ân ái, dù chỉ là những cuộc ái ân tạm bợ chiều theo đòi hỏi của bản thân. Những giọt nước mắt nào đó còn sót lại bổng dưng lại ứa ra với ý nghĩ này. Ôi mấy giọt nước mắt cộng lại chừng vài mililít mà sao nó cay muốn nổ con ngươi. Hằng nấc lên. Sau một thoáng chập chờn, giờ đây quá khứ ùa về

Út Quẹo ngồi dưới rặng bạch đàn nhìn ra miếng ruộng xanh rờn, lúa lột mình trông thiệt đã mắt, nghỉ một lát xuống nhổ tiếp một vạt cỏ khoảng chục tầm vuông nữa là xong. Gió tháng chín làm cho lá bạch khua lào xào, Út Quẹo mơ màng nghĩ đến ngày mai. Còn hơn năm nữa là ảnh ra quân. Thiệt tình, từ ngày đi nghĩa vụ tới giờ gần một năm mà gởi có mấy cái thơ, mà cái nào cũng dặn là không cho lên thăm. Thây kệ. Đỡ tốn tiền, thử coi ai nhớ ai cho biết. Nghĩ thì nghĩ vậy chớ Út Quẹo biết tỏng là cô nhớ nhiều hơn. Làm sao mà biết người ta nhớ hay không nhớ? Mà ảnh cũng kỳ thiệt, hết chuyện đi thương con nhỏ xi cà que. Bổng nhiên Út Quẹo thấy buồn buồn, phải chi hồi nhỏ đừng có nghịch ngợm leo trèo thì đâu có té gãy giò. Mai mốt là đám cưới với ảnh, rồi có con, mình dứt khoát không cho nó nhảy lưng tưng như mình hồi nhỏ. Nghe mấy người lớn nói xương con nít mềm dễ gãy. Phải chi mình đừng mang tên Út Quẹo thì bây giờ làm cô giáo rồi. Mà sao kỳ vậy ta. Đi cà nhắc đâu có mắc mớ gì tới cái chuyện làm cô giáo. Vậy mà anh hai với má mình không cho mình đi học lớp Mười. Viện dẫn đủ lý do để buộc mình nghỉ học, lý do gì mình nghe cũng xuôi tai, mà nói đi cà nhắc làm cô giáo không được thì học làm gì làm mình phát quạu. Mà mình đi cà nhắc đâu có nhiều, chẳng qua là hơi nghiêng một chút thôi mà. Đi chậm rãi lại dễ gì người ta biết, sợ hổng chừng mấy bà có con trai còn khen nữa là khác, họ nói mình con gái mà đi đứng từ tốn, chậm rãi là rất dễ thương, không hấp tấp nên mau giàu. Ôi thôi kệ. Dù sao ảnh cũng thương mình. Hổng làm cô giáo cũng được. Chắc là ở trển ảnh nhớ lắm rồi, vậy mà viết thơ về còn làm bộ. Thôi xuống làm cỏ tiếp cho lúa trống mình, mau nở. Lúa thóc xong rồi, mình lên thăm đại. Thử coi ảnh dám cự nự không? Nhớ lại những lần ảnh tiếp mình một việc gì đó trên mảnh ruộng này. Khi xong hai đưa nhìn nhau cười. Cái mùi mồ hôi, cái mùi đàn ông lất phất làm cho cô thấy ghê ghê. Ấy vậy mà cũng làm cho cô nhơ nhớ.
Về gần tới nhà, Út Quẹo thấy trước cửa nhà đông nghịt. Không hiểu ất giáp gì cô cố rảo bước nhanh, vừa lúc bà chị dâu nhào ra túm lấy Út Quẹo lu loa, bất kể bộ đồ cô mặc trên người nhớp nháp nước sình:
- Trời ơi. Cô đi đâu mà không coi chừng má. Má chết cứng từ nào rồi. Nếu anh hai cô không qua thì chắc là cô để sình luôn.
Hai tai ù lên. Út Quẹo đứng như trời trồng, miệng lẫm bẫm :
- Chết. Cái gì chết. Ai chết.
Bà chị dâu hét lên :
- Má chết. Má chết rồi. Cô nghe không.
Út Quẹo sụm xuống rồi không còn biết gì nữa. Khi cô tỉnh lại thì thấy mọi người đang dằn cô ra mà cạo gió xức dầu. Cô bật ngồi dậy, gạt mọi người qua một bên, nhào qua ôm lấy cái xác cứng đờ của mẹ. Út quẹo khóc lóc, kể lể cho tới khàn cả giọng và mặc cho mọi người làm gì đó thì làm. Cô cũng chẳng buồn thay quần áo.

Khi chôn cất mẹ xong thì Út Quẹo không còn nhớ mình là ai nữa. Ngôi nhà nhỏ xíu mà với cô bây giờ thì nó mênh mông. Ba Út Quẹo mất khi cô mới lên hai tuổi. Ba má Út Quẹo sinh khá nhiều nhưng chỉ nuôi được người con lớn và Út Quẹo. Nên ông anh lớn hơn Út Quẹo gần hai con giáp đã có gia đình con cái. Thằng con lớn chỉ nhỏ hơn Út Quẹo có một tuổi. Giờ đây cô chỉ một mình. Anh chị thì tính tình nhỏ mọn, nên khó lòng nương tựa. Nhưng thôi, mình làm mình sống. Giàu cha, giàu mẹ thì ham. Giàu anh, giàu chị ai làm nấy ăn.
Cuộc sống, không đơn giản như Út Quẹo nghĩ. Làm tuần ba cái bảy cho mẹ. Anh chị qua nói là tính sổ chi phí tang ma, mả mồ, rồi giải quyết chuyện ruộng nương, đất cát của mẹ. Hai vợ chồng nói một hồi, rồi trưng ra giấy má đủ màu, sổ xanh, sổ đỏ một hơi. Út Quẹo thấy mình sạch bách, nếu có còn là còn mấy bộ đồ dính da. Thằng cháu kêu bằng cô thì mặt mày bậm trợn chuẩn bị tiếp quản những thứ ít oi của bà nội. Đến nước này Út Quẹo mới biết cái quan hệ của cô với anh mình. Anh em cùng mẹ khác cha. Đất dưới chân cô như sụp xuống.

Thế là, túi không lưng túc với một ước mơ bị gió thổi bay tuốt lên ngọn bạch đàn. Từ đó, không bao giờ cô nhắc tới ảnh. Từ đó không bao giờ cô nhắc tới quê nhà. Từ đó, không bao giờ cô nhớ tới ảnh. Từ đó không bao giờ cô nhớ tới quê nhà. Mà nhắc nhớ để làm gì? Út Quẹo mang lên thị xã cái dáng vẻ quê trớt, cái tướng đi chậm rãi nghiêng nghiêng cộng thêm với cái tên rất ấn tượng. Nhưng khốn nạn nhất là cái nhan sắc của gái đương thì đã nhanh chóng đẩy cô Út Quẹo quẹo lần, quẹo hồi vào cái tâm bão của đồng tiền. Bán vé số, trước làm kiếm lời nuôi thân, hôm nào đắt để dành lại vài tờ với ước mơ được trúng thì về quê mua đất, làm ruộng, sửa nhà chờ ảnh ra quân, nhưng rồi chưa kịp trúng số, thì bị bọn trời đánh làm nhục, rồi tiếp viên nhà hàng, rồi… Từng cái rồi… này sang cái kia, rồi… đẩy bước chân khập khiểng đi sâu vào mất mát, tủi buồn, quắt quay thù hận…Những thứ đó trút lên đầu cô từng thứ một; cái tên mới, sự lọc lõi, lòng vô tình, tính đanh đá…Những thứ đó cùng với sự phát triển mất trật tự của lớp mỡ dưới da, biến Hằng Dancing thành “Hằng Hủ Lô” với một thân hình nặng tròm trèm bảy chục ký. Một trọng lượng đủ để che chắn cho cái quán bia ôm, cái tủ sắt của mình và làm giàu cho Công ty Cấp Thoát Nước.

Như thường lệ Hằng thức dậy, nhìn đồng hồ, đã hơn mười giờ. Cái quá khứ hiện về trong im ắng của đêm khuya, bị cái thân thể rã rời, vì thường xuyên thức khuya, dậy muộn, tống đi ráo trọi. Cô rời khỏi giường đứng dậy vươn vai và ngáp. Bất chợt thấy mình với cái thân thể nung núc với cái ngáp hết cỡ trong gương. Hằng vừa xót xa vừa tức cười với cái ý nghĩ mình giống như con hà mã thường thấy trên tivi. Bực bội. Hằng kéo phăng cái quần lót ra khỏi người rồi đi vào toilet. Gần cả giờ đồng hồ, tiêu tốn nửa khối nước cho cái thân hình đồ sộ của mình. Hằng bước ra khỏi phòng với một bộ cánh cũng tốn hao không ít vải, dù rất cố gắng tiết kiệm.
Đấy là sinh hoạt mỗi ngày của bà chủ quán kể từ khi tạo dựng được cơ ngơi này.
Khi khóa trái cổng lại, quay ra Hằng đụng ngay tay chạy xe ôm mặc cái áo bộ đội bạc phếch, mang đôi kính đen loại rẽ tiền to tổ bố, đang ngồi chéo ngoải hút thuốc trên yên xe với cái nón luôn luôn xùm xụp trên đầu, bất kể nắng mưa, tối sáng. Chưa bao giờ Hằng nhìn rõ khuôn mặt hắn. Hắn xuất hiện ở quán Hằng gần một tháng nay. Ban đầu, Hằng cho là chuyện bình thường, nhưng riết rồi đâm bực. Hắn đúng giờ một cách kỳ quặc, ngay bon giờ Hằng mở cổng. Làm như chạy mối không bằng. Mà cũng có thể như vậy, bởi vì sau đó là hắn biến và trở lại ngày hôm sau. Hình như hắn chỉ chờ được chở Hằng. Hầu hết những quán bia ôm bao giờ cũng ở một nơi vắng vẻ ban ngày, rậm rật ban đêm. Giờ này không ôm hắn thì đứng phơi đầu ngoài nắng để đợi ôm ai. Nhiều khi tức quá Hằng muốn mua quách một chiếc xe. Nhưng lại không biết chạy, lỡ té một cái rầm làm hư đường, hư xá của người ta. Thấy Hằng bước ra. Hắn nhảy xuống xe chuẩn bị tư thế sẵn sàng cho Hằng ôm. Thôi đành vậy làm cao với hắn làm gì? Ôm ai cũng phải trả tiền mà. Nghĩ mà tức cho mấy thằng cha xe ôm, tay nào như tay nấy, làm như trên đời này không có mấy cái thứ được gọi là hóa mỹ phẩm hay sao ấy, mình mẫy lúc nào cũng nồng nồng mồ hôi. Hằng trèo lên yên sau xe buông một câu cộc lốc:
- Chỗ cũ.
Hắn nổ máy, chiếc xe rướn lên bằng hết sức mình. nhưng rồi cũng lấy được đà phóng tới. Trong khi tay xe ôm làm công việc của mình. Hằng móc cái điện thoại di động, hết gọi người này đến người khác. Nhưng không ai bắt máy hoặc lời thông báo máy không liên lạc được. Đã đến nơi mà chẳng rủ rê được ai. Hằng cáu tiết bước xuống phang một câu ngang như cua:
- Vô ăn sáng với tôi, cha nội. Tôi bao. Không vô, không trả tiền xe. Vợ con đói thì đừng có trách tôi.
Hắn lặng thinh theo Hằng vào quán café. Gần tới giờ tan sở. Quán vắng người, chỉ lác đác những kẻ vô công rỗi nghề đang ngồi ăn sáng (?). Thế mà tay xe ôm bước vào vẫn thấy lạc lỏng làm sao. Vừa ngồi xuống. Hằng hất hàm bảo :
- Ăn uống gì thì kêu. Làm ơn bỏ cái nón xuống dùm coi.
- Ăn rồi. Cho cái trà đá. Hắn cộc lốc và cái nón vẫn y chỗ cũ.
Hằng nổi cáu đưa tay giật phăng cái nón. Một khuôn mặt đen sạm lộ ra. Bổng đâu có một cục nước đá lạnh ngắt chạy suốt sống lưng của Hằng. Cô không tin vào mắt mình. Tay cầm nón, tay còn lại cô từ gỡ nhẹ cái kính dâm. Bây giờ thì cô há hốc mồm nhìn trân trân. Phải rất lâu sau cô mới lắp bắp:
- Anh Sáu. Em… Tại sao anh lại thế này anh Sáu?
Tay xe ôm nhìn cô bằng con mắt còn lại của mình, con mắt hơi ươn ướt. Ở phía bên kia là cái hốc sâu thẳm chứa đầy một nỗi đau. Nỗi đau đó bây giờ đang lan tỏa ra đều khắp. Mặc cho cô phục vụ đứng chờ, cả hai đang bị cái nỗi đau ấy và những hẹn thề của quá khứ bóp họng, bóp hầu họ giữa thanh thiên bạch nhật. Không thấy một ai đến cứu giúp cho hai người. Cô phục vụ đứng chờ lâu quá, thấy mỏi chân bỏ đi nơi khác.
Cuối cùng thì Sáu Bầu cũng lên tiếng:
- Anh tìm Út suốt sáu bảy năm nay. Đi khắp miền Tây và cả ở Sài Gòn nữa. Nhưng không ngờ về đây lại gặp Út ở nơi này.
- Tại sao mà anh ra nông nỗi này hả anh Sáu?
- Khi tôi ra quân về tới nhà mới hay cớ sự. Ai cũng dấu, sợ tôi bỏ ngũ. Hỏi thăm, tìm kiếm Út khắp nơi mà không thấy tăm hơi gì. Tôi buồn quá, tối ngày kiếm hết chuyện này đến chuyện khác để làm. Lâu lâu bơi xuồng qua lại nhà Út coi có tin tức gì không? Càng ngày ngôi nhà của Út càng tiêu điều, bìm bìm, bòng bông leo xanh mướt, rồi một đêm mưa nó không chịu nỗi rồi nằm quẹp xuống luôn. Độ chừng tháng sau tôi thấy anh hai của Út bán cái nền nhà cho người ta. Thế là tôi tiếp tục kiếm việc gì đó để làm, làm như thằng khùng, bất cần trúng thất. Ba tôi kêu cưới vợ. Tôi lại nỗi khùng càng làm dữ. Tối ngày không ngoài đồng thì ngoài vườn. Gần nhà tôi có miếng vườn bỏ hoang từ lâu. Tôi vác phảng vô ruồng và kết quả là tôi chém vô trái M.79. Nó nổ một cái rầm. Tôi mất tiêu một con mắt, nhưng lại dư ra gần một chục cái thẹo. Nằm bệnh viện hết mấy tháng. Ra viện được mấy tháng. Ba tôi trúng gió đi luôn. Tôi hết biết mình mẫy ra sao? Tới chừng tỉnh tỉnh lại giao hết ruộng đất cửa nhà cho mấy anh, mấy chị, rồi xin mỗi người một ít. Chui lên Cần Thơ mua chiếc xe Honda. Vừa chạy xe ôm kiếm sống, vừa tìm Út
Sáu Bầu ngồi nói một hơi, rồi ngưng lại nhìn Hằng. Mặt cô như hóa đá. Sáu Bầu hết hồn:
- Út. Út sao vậy Út?
Hằng giựt mình, cười méo xẹo:
- Hổng sao đâu anh Sáu? Sao anh gặp Út mà anh không nhìn.
- Út khác hơn trước nhiều quá. Tôi ngờ ngợ không dám nhìn. Với lại…
- Thôi anh Sáu đưa Út về nhà Út đi. Út thu xếp công việc một chút rồi Út kể cho anh Sáu nghe.
- Ừ thì đi. Để tôi đưa Út về. Sáu Bầu lại trở giọng ngập ngừng. Gặp lại Út tôi… Tôi mừng quá.
             
Khi Hằng về tới nhà thì các người làm và tiếp viên lác đác tới. Tất cả đều có hai sự ngạc nhiên; thứ nhất được thông báo là nghỉ một tuần, thứ hai là sự có mặt của tay lái xe ôm có bộ vó ngầu ngầu đang ngồi lù lù trong quán mà trước mặt là một ca trà đá tổ chảng. Khi tất cả đã đuợc thông báo và đã ra về. Hằng lấy miếng giấy viết nguệch ngoạc mấy chữ “nghỉ bán” đem treo ngoài cổng, rồi bóp khóa lại.
Khi chỉ còn có hai người thì cái cô Hằng Hủ Lô đanh đá trong cái thân thể khổng lồ kia dần dần biến đi đâu mất. Cái quá khứ xa mờ kia dần hiện ra từng chút, từng chút để cho cái không gian nhầy nhụa gần như xấu hổ khi một thần thái gần như hoàn chỉnh của Út Quẹo hiện về làm cho Sáu Bầu bối rối. Phải rất lâu Sáu Bầu mới từ từ đưa tay lột cái nón bèo nhèo và cái kiếng mát rẽ tiền to đùng kia ra rồi lắp bắp :
- Tôi như vầy, rồi Út như vậy. Út còn thương tôi không Út?
Có một cái gì đó nhồn nhột chạy rần lên khuôn mặt của Hằng, rồi bừng bừng lên phá vở cái mặt nạ dầy dụp để lộ ra cái khuôn mặt của Út Quẹo và khuôn mặt ấy hồng lên. Cô nói nhỏ:
- Út chỉ sợ anh Sáu không thương Út. Út không còn như  hồi xưa nữa?
- Và tôi cũng có còn giống như hồi đó nữa đâu?
Út Quẹo chợt kêu lên:
- Xời ơi. Để em lấy thứ khác cho anh Sáu uống.
- Thôi Út. Uống trà đá cho mát.
Nhưng Út Quẹo vẫn mở tủ lạnh lấy cho Sáu Bầu một lon nước ngọt.
Có một cơn gió hắt qua, nó mang cái hơi hướm, mang máng thôi chớ không giống lắm, của rặng bạch đàn bên bờ ruộng. Không phải những rặng bạch đàn chung quanh quán. Cả hai yên lặng bởi vì không biết phải nói cái gì tiếp theo, dù trong trong lòng cả hai có hàng vạn điều muốn nói, hàng vạn nhớ thương chìm khuất đâu đó bổng nhiên ào ạt trở về, lăng xăng, lộn xộn, cũ mới không rõ ràng, trộn lẫn vào nhau như nùi chỉ rối.
Rồi không biết cái gì xui cô săm soi cái túi xách, từ trong đó rơi ra một xấp vé số. Bao nhiêu năm rồi, cái ước mơ trúng số về quê đã chìm khuất trong những xô bồ của son phấn, rượu bia. Cô đã thừa mứa bạc tiền, nhưng cái mơ ước viễn vông và mơ hồ ấy đã biến hành động mua vé số của cô trở thành quán tính. Cô không biết rằng cái ước mơ nhỏ xíu kia vẫn tồn tại trong cô. Cô cầm xấp vé số nhìn nhìn rồi len lén ngó Sáu Bầu. Ôi, ngày nào ảnh đẹp trai hết biết, thế mà vì nhớ thương mình để bây giờ ra nông nổi. Phải chi ngày đó mình đừng giận dỗi anh hai rồi làm liều. Ráng chờ ảnh thêm một thời gian nữa. Nhưng ở làm sao được. Tiền bạc, ruộng nương anh hai gỡ tay lấy hết. Ở lại nơi đó lấy cái gì mà ăn. Để rồi đem cả cuộc đời ra đánh đổi lấy cái cơ ngơi trời ơi đất hởi này. Nhưng chưa bao giờ mình trúng số. Cái cơ ngơi này đã băm nát đời cô. Cầm xấp vé số trên tay cô tần ngần một lát rồi xé nhỏ từng tấm một. Những mảnh vé số bay lả tả, nát nhừ như cuộc đời cô. Nếu có khác thì những tấm vé số kia thì do cô xé, còn đời cô thì do cô cùng với những người khác hè nhau xé. Cô chợt nhớ tới cái tên trong giấy khai sinh của mình. Lê thị Út. Nhưng có ai kêu mình là Út đâu? Hết Út Quẹo, Út vé số, rồi Hằng, Hằng Dancing, Hằng Hủ Lô. Hai cái tên trước nghe còn đường được dù hơi quê quê, mấy tên sau nghe nát cả lòng. Bổng dưng cô nghĩ. Chỉ có một mình ảnh thôi. Ảnh là tấm vé số duy nhất mà cô mua thì sẽ trúng, trúng lô đặc biệt. Chắc cú một trăm phần trăm. Ảnh chưa bán cho ai mà. Hổng biết ảnh có bán cho mình không? Cô lại nghĩ tiếp. Uổng quá. Làm sao mà mua đây. Hổng lẽ mình đi trốn ảnh. Mà liệu mình có làm nổi chuyện đó không? Cô cúi xuống lượm những manh vé số lên tẩn mẩn ghép lại. nhưng cũng chẳng ra hình thù gì. Cô thẩn thờ nhìn Sáu Bầu. Bỏ hết theo ảnh thì được rồi, nhưng liệu có đủ sức quên hết những thứ đang vây chặt chung quanh và những thói quen quái ác này không? Những buỗi tán gẫu tào lao xích đế hàng giờ đồng hồ ở các quán café sang trọng, những cợt đùa chớt nhả với bất cứ ai là đàn ông, thói quen đụng cái gì cũng sai, cũng bảo. Căm ghét nó, nhưng vẫn giành giựt nó. Bây giờ liệu có bỏ được không. Cô cảm thấy tủi thân với cái ý nghĩ mình không xứng đáng. Cô toan sử dụng cái kiểu cách xử sự mà cô có được từ bao nhiêu năm qua, để làm cho ảnh chán mà quên cô đi. Nhưng cô không làm được vì cô sợ. Cô sợ mất ảnh, dù cô biết là ở với ảnh là rất khó khăn, không phải khó cho ảnh mà khó cho cô. Đúng là đồ mắc dịch. Ở với ảnh mà quen cái thói đó coi bộ hổng êm. Ảnh thương, ảnh hổng nói thì tội nghiệp ảnh, ảnh quạu lên ảnh đánh mình thấy bà luôn. Chắc có lẽ phải ráng thôi. Mà hổng biết ảnh nghĩ sao về cái trọng lượng quá mức của mình. Chắc là phải nhịn ăn giảm béo cho nó nhẹ nhẹ một chút, để khi đau yếu ảnh ẵm bồng cho đỡ nặng (!?). Ờ chắc có lẽ mình phải kêu ảnh đi gắn con mắt giả mới được. Quên nữa, nếu xáp vô thì đừng có mong ảnh cho làm cái nghề mắc dịch này. Vậy thì phải làm gì đây ta? Hay là về làm ruộng. Lâu quá rồi hổng biết là làm nổi không đây. Thôi. ảnh thương thì ảnh lo. Chắc phải đi lấy cái vòng tránh thai ra mới được, còn phải đẻ cho ảnh mấy đứa nữa chớ. Nghĩ tới điều này bổng nhiên Út Quẹo thấy nôn nao trong bụng, mặt Út Quẹo đỏ lên. Ôi. Trúng số rồi mừng quá. Bổng Út Quẹo buồn xo. Hổng biết có lãnh được hông nữa.

Mình bây giờ nhìn cuộc đời được có phân nữa. Ngày ngày dang đầu ngoài nắng chỉ có mong được mấy chén cơm. Phải chi mình đừng có nổi điên, nổi khùng thì đâu đến đổi tật nguyền. Út bây giờ giàu có, sang trọng, nhưng cũng nát lòng ra giữa chốn đọa đày. Tại mình, tại mình hết Út ơi. Bây giờ Út theo mình làm sao mình nuôi Út nổi? Nhưng để Út theo mãi nghề này mình chẳng cam lòng. Phải chi Út ưng đại ai cũng được. Có chồng có con. Có cái để lo toan, để vui, để buồn. Mình đứng xa xa mà ngó cũng được yên lòng. Chứ như bây giờ thì Út ở đâu cũng lạnh. Bia ướp đá cũng lạnh, thịt cá cũng để trong tủ lạnh. Ngủ một mình đã lạnh, bất chợt có người đàn ông nào tới ngủ chung thì không biết có ấm hơn không hay là lại lạnh hơn. Ôi nhớ tới điều này sao mà cái bụng mình nhộn nhạo. Nhưng cũng tại mình. Hổng biết hai đứa xáp vô, mình làm cái gì nuôi Út. Chạy xe ôm còn không đủ lủm một mình, nói gì nuôi ai. Chẳng lẽ đi làm ông chủ ngang hông, rồi gác cửa cho cái quán bia ôm. Chưa kể thấy mấy thằng say xỉn bẹo má, vuốt mông Út thì mình làm sao chịu nổi, lúc đó lại lên cơn điên là hư bột, hư đường. Bây giờ mình làm sao đây ta? Chẳng lẽ tìm kiếm bao năm mới gặp. Bây giờ bỏ chạy đành sao? Ờ. Mà hổng biết Út chịu bỏ hết theo mình về xứ để làm ruộng không nữa. Sáu Bầu nhìn Út Quẹo đang ngồi trước mặt mình, mặt lúc hồng, lúc đỏ. Thấy mà thương muốn chết. Hổng thương sao mình tìm hoài. Sáu Bầu thở hắt ra. Tiền của cô ấy tạo được là cả một sự nhục nhằn. Mình phải làm gì với nó. Không lẽ xáp vào mà ai làm nấy ăn. Ôi cứ nghĩ chuyện gì không? Mà biết Út còn thương mình không mà nghĩ lung tung như vậy?
Cứ như thế, cả hai ngồi đối diện nhau, nghe lòng mình lăng xăng, nghe lòng mình lộn xộn. Chiều, rồi bóng tối về. Bóng tối đã về mà không một bóng đèn nào được bật lên. Không biết mấy giờ rồi. Không ai nghĩ gì về cái việc từ sáng tới giờ, chẳng ai có một hột cơm trong bụng. Bổng nhiên cả hai đứng bật dậy, lóng ngóng ôm chầm lấy nhau. Những động tác ban đầu thì ngài ngại, rồi chợt vở òa khi mà nỗi nhớ nhung được bắt đầu cái quá khứ trong lành lên tiếng. Hai giòng nuớc mắt của Út Quẹo đẫm ướt vai áo bạc phếch của Sáu Bầu. Cái mùi đàn ông đích thực, vẹn nguyên không pha lẫn hoá mỹ phẩm và bia rượu, mà nó còn thoang thoảng mùi đất bùn, hăng hăng mùi bụi bặm. Thế mà nó làm cho Út Quẹo say say. Sáu Bầu cũng thế. Lần đầu tiên ôm người con gái mình yêu, dù cố vói hết tay nhưng coi bộ ôm không gọn. Một giòng nước mắt chảy ra làm cay mắt Sáu Bầu, một giòng khác không còn lối ra bèn chảy ngược vào làm cay lòng Sáu Bầu. Thời gian như có vẻ ngừng lại, nhưng đêm thì vẫn cứ chìm sâu. Cái không khí oi nồng của tháng tư chầm chậm trở thành hơi ấm, khi mà bàn tay thô ráp của Sáu Bầu lóng nga, lóng ngóng chạm vào hàng cúc áo của Út Quẹo và cô thì như nín thở mà ngực thì đập như trống chầu.
Chà một sự tái hợp khó khăn. Rất khó khăn. Mong sao cho họ giải quyết được để khỏi bỏ công nhung nhớ. Chẳng lẽ mua vé số hoài mà không trúng.
Sáng hôm sau trước cửa quán của Hằng có một miếng giấy carton ghi hai chữ  “Nhà Bán”

Rạch Gía 4.2003
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu