Người theo dõi

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016

TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU
(1888-1939)
Quê hương khuất bóng tà dương,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Báo chí và các ấn bản mà tôi kể ở phần Nguyễn Đình Chiểu, mở đầu cho hàng loạt những tác phẩm bằng chữ Quốc Ngữ. Những nhà nho cầm bút sắt xuất hiện càng lúc càng đông; Tất nhiên là thơ được viết bằng chữ Quốc Ngữ cũng có mặt. Hơn ai hết, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của biết người Pháp muốn gì. Họ xem chữ Quốc Ngữ như là một phương tiện để cho họ hiểu người bản địa ra làm sao để mà dễ bề cai trị, cũng như các giáo sĩ tạo ra nó để dễ bề truyền giáo. Nhưng với hai ông thì lại khác. Dân trí được nâng cao là phải nhờ Quốc Ngữ. Dễ học, dễ truyền bá. Con đường Độc Lập đến nhanh hay chậm cũng nhờ vào đấy. Hai ông không nói điều này, nhưng làm điều này. Hai ông mở ra con đường ấy. Hai ông không vỗ tay khi ai đó muốn vào. Hai ông không nhíu mày khi có ai bài bác. Nhưng rồi người ta đi vào đông quá; Nguyễn văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Phạm Duy Tốn, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Hữu Tiến, Diệp văn Cương, Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Sương Nguyệt Anh, Lê Hoằng Mưu… và Tản Đà. Tất nhiên với phương tiện ấy mọi người sử dụng thế nào thì tùy. Trong khi đó, chiếc thuyền thơ càng ngày càng đông khách.

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2016

CHIỀU THẠCH ĐỘNG

CHIỀU THẠCH ĐỘNG


Kia nắng đổ nhập nhòa trên vách đá,
Những cây xanh quấn quýt giữa mù bay.
Chiếu xuống thấp nắng lịm dần trong gió,
Vầng trăng nghiêng mỏng dính, sáng chưa đầy.

Còn một khoảng xanh mờ, trời vẫn lộng,
Nỗi chông chênh phủ chụp trong im lìm.
Bình thản đá khoác lên màu áo thẫm,
Tiếng chuông buông hờ hững gọi màn đêm.

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”

VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ “CÂY CHUỐI”

Cây Chuối
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu? Gượng mở xem.
Nguyễn Trãi


Đọc thơ Nôm của người xưa; cảm thụ đã khó, mà khi cảm thụ đã khó rồi thì chuyện hiểu được những điều tổ tiên nói lại càng khó hơn. Đã thế còn gặp những từ cổ và những cú pháp lạ.
Bài thơ trên có lẽ là một trong những bài thơ như vậy của cụ Ức Trai. Và hầu hết những người đọc đều bỏ qua vì… nhức đầu. HRG cũng không ngoại lệ.

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778-1858) Nợ Tang Bồng Trang Trắng Vỗ Tay Reo

NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778-1858)
Nợ Tang Bồng Trang Trắng Vỗ Tay Reo

“To be or not to be”. Trước Nguyễn Công Trứ 200 năm, một cây đại thụ trong nền văn học phương Tây Shakespeare (1564-1616) đã phân vân về sự tồn tại của con người, dù Shakespeare luôn luôn tồn tại. Nhưng Nguyễn Công Trứ thì không. Ông khẳng định sự tồn tại của bản thân ngay trong cuộc sống của mình. Và ông khẳng định bằng hành động tích cực, bằng trí tuệ trác việt, bằng trái tim nồng nàn trên mọi môi trường sống mà ông đặt chân vào. Những bước chân vững chãi, tự tin. Khúc nhân gian 81 năm của ông tuyệt nhiên không một chút hoài nghi.
Ông luôn luôn tồn tại. Tồn tại theo một cách không lẫn vào ai. Ông tự khẳng định ông là Nguyễn Công Trứ và chỉ là Nguyễn Công Trứ mà thôi. Gần hai chục bài thơ tình xuất phát từ trái tim, ông viết những cảm xúc của chính ông thì quả là lạ lùng và gây kinh ngạc cho những người đương thời và cả hậu thế. Cũng lạ lùng thay, những người đương thời không một ai phê phán ông. Không thích ông, thậm chí ghét ông, hại ông. Nhưng không ai dám chê bai ông về bất cứ chuyện gì. Nếu có, thì chỉ một vài hậu sinh bát nháo. Bao nhiêu đó cũng thấy Uy Viễn Tướng Công là người lịch lãm thế nào.

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

OBAMA CHƠI CỜ VÂY

OBAMA CHƠI CỜ VÂY
Posted by adminbasam on 06/06/2016
Nguyễn Thị Thảo An 
5-6-2016

TT Obama và CTN Trần Đại Quang. Nguồn: internet
TT Obama và CTN Trần Đại Quang. 

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888) Khi Mỗi Câu Thơ Là Một Luống Cày

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
Khi Mỗi Câu Thơ Là Một Luống Cày


       Năm 1858. Quân Pháp vào Việt Nam đánh chiếm Đà Nẳng
       Năm 1861. Quân Pháp tiến chiếm Gia Định, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Mỹ Tho
       Năm 1862. Quân Pháp chiếm Biên Hòa, Vĩnh Long.
      Năm 1862. Ký kết hòa ước năm Nhâm Tuất, triều đình Huế nhường ba tỉnh Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường tiếp theo là hàng loạt hòa ước nhưng thực chất là những văn kiện xâm lược
       Năm 1887. Chính phủ Pháp lập phủ Toàn Quyền Đông Dương. Việt Nam chính thức rơi vào tay thực dân Pháp. Cũng trong năm này, cuốn tiểu thuyết “Thầy Lazarô Phiền” của Nguyễn Trọng Quản (1865-1911). Có thể xem đây là quyển tiểu thuyết đầu tiên viết bằng chữ Quốc âm
          

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

VUI THÔI MÀ


VUI THÔI MÀ


Hồi nãy thì đã trôi xa
Lát nữa thì chẳng biết ra thế nào
Bây giờ đang thở với nhau
Cằn nhằn năng bụng tào lao nhẹ lòng
Chẳng biết mắc gì mà tôi làm một loạt gần trăm bài thơ Đường, cũng lại thơ Đường. Ôi sao mà cái đầu tôi lại cũ mèm thế nhỉ? Mà cũng chẳng biết ở đâu mà nó lại tuôn ra lắm thế. Gần một tháng
Vô Đề 64
Nghĩ là gìa chát chẳng còn yêu
Sao cái con tim cứ đập liều
Tưởng huyết áp tăng nên lộn xộn
Ngở tim bọc mỡ mới liêu xiêu
Lẽ đâu đuôi mắt cô hàng ớt
Hay bởi nụ cười chị bán tiêu
Rốt cục vì ai thì chẳng biết
Đem quên gài cửa ả thơ khều
Tôi bị ả thơ khều liên tục như để nhắc nhở mình là ai trong cõi đời này. Tôi một lạch nước con con, à không, một giọt sương mong manh tí xíu bị cuốn vào giòng sông thơ từ bao nhiêu ngàn năm trước. Tôi may mắn hay bất hạnh. Biết chết liền. Nhưng dù sao thì tôi cũng đang sống như vậy. Vậy thì hãy sống như vậy đi. Tôi ơi. Tôi…