Người theo dõi

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

THƠ NGUYỄN DU

Những ngày Tết đang đến gần, túi rổng, chẳng việc gì làm đành táy máy đọc thơ xưa và hý hoáy đôi giòng chuyển ngữ, một phần vì đồng điệu với người xưa và… tủi phận mình.
Gởi đến các bạn để sẻ chia như là một tí quà xuân nhiều sai sót, mong các cao nhân lượng tình tha thứ và chỉ vẽ thêm.
KÍNH CHÚC CÁC BẠN VÀ GIA ĐÌNH MỘT NĂM MỚI AN KHANG - HẠNH PHÚC.
Lê Thường Dân

渡龍尾江
故國回頭淚,
西風一路塵。
纔過龍尾水,
便是異鄕人。
白髮沙中見,
離鴻海上聞。
親朋津口望,
為我一沾巾。

Độ Long Vĩ giang
Cố quốc hồi đầu lệ,
Tây phong nhất lộ trần.
Tài qua Long Vĩ thuỷ,
Tiện thị dị hương nhân.
Bạch phát sa trung hiện,
Ly hồng hải thượng văn.
Thân bằng tân khẩu vọng,
Vị ngã nhất triêm cân.

Qua sông Long Vỹ
Quê cũ quay đầu rơi lệ
Bui tung cơn gió tây về
Vừa mới qua sông Long Vĩ
Bắt đầu làm kẻ xa quê
Tóc trắng nhòa trong bãi lạnh
Chim hồng kêu xót ngoài xa
Người đưa bên kia bến ngóng
Lệ tuôn khăn ướt đầm đìa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


雜詩其一 
壯士白頭悲向天,
雄心生計兩茫然。
春蘭秋菊成虛事,
夏暑冬寒奪少年。
黃犬追歡鴻嶺下,
白雲臥病桂江邊。
村居不厭頻沽酒,
尚有囊中三十錢。

Tạp thi kỳ I
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hòang khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngoạ bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền. 

Thơ Lơ Mơ kỳ I
Đầu bạc thân trai buồn ngó trời
Áo cơm chí lớn chỏi nhau chơi
Xuân lan, thu cúc thôi đành hết
Đông lạnh, hè oi cũng đã rồi
Hồng Lĩnh long rong dắt chó chạy
Quế Giang bệnh hoạn đành nằm coi
Ở quê rất khoái đi mua rượu
Ba chục đồng trong túi sẵn rồi
               ***

Buồn trông trời đến bạc đầu
Áo cơm, ước vọng nỗi sầu phân đôi
Xuân thu lan cúc xa vời
Hè oi đông buốt thôi rồi tuổi xanh
Non Hồng dắt chó quẩn quanh
Trắng mây sông Quế mà nhìn cơn đau
Ở quê có rượu vơi sầu
Ba mươi tiền sẵn mua đâu bây giờ

Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

雜詩其二 
鴻山一色臨平渠,
清寂可為寒士居。
千里白雲生几席,
一窗明月上琴書。
笑啼殉俗干戈際,
緘默藏生老病餘。
葉落花開眼前事,
四時心鏡自如如。

Tạp Thi Kỳ 2

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ, 
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư. 
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch 
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư 
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế, 
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư. 
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự, 
Tứ thì tâm kính tự như như.

Thơ Lơ Mơ Kỳ 2
Non Hồng soi bóng nước trong veo
Đất lặng trời xanh sướng phận nghèo
Chiếu cói lồng mây muôn dặm tới
Song ngoài thơ nhạc ánh trăng treo
Thân già ngậm miệng cho qua buổi
Loạn lạc khóc cười phải ngó theo
Trước mắt lá rơi, hoa lại nở
Bốn mùa bụng rổng chẳng gì đeo
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


寄江北玄虛子 

長安去不息,
鄉思在天涯。
天涯不可見,
但見塵與沙。
西風脫木葉,
白露損黃花。
珍重好自愛,
秋高霜露多。

Ký Giang Bắc Huyền Hư tử 
Trường An khứ bất tức,
Hương tứ tại thiên nha (nhai).
Thiên nha bất khả kiến,
Đãn kiến trần dữ sa.
Tây phong thoát mộc diệp,
Bạch lộ tổn hoàng hoa.
Trân trọng hảo tự ái,
Thu cao sương lộ đa.

Gởi Giang Bắc Huyền Hư Tử
Về với phồn hoa tin vắng
Nhớ quê ở tận chân trời
Chân trời thì thấy không được
Cát bụi lại lầm khắp nơi
Lá rụng khi cơn gió tới
Hoa phai theo giọt sương rơi
Có thân xin gìn giữ lấy
Từng giọt sương thu bời bời
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

寄友 
漠漠塵埃滿太空,
閉門高枕臥其中。
一天明月交情在,
百里鴻山正氣同。
眼底浮雲看世事,
腰間長劍掛秋風。
無言獨對庭前竹,
霜雪消時合化龍。

 Ký hữu (I) 
Mạc mạc trần ai mãn thái không,
Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung.
Nhất thiên minh nguyệt giao tình lại,
Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng.
Nhãn để phù vân khan thế sự,
Yêu gian trường kiếm quải thu phong.
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc,
Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long. 

Gởi bạn I
Bụi đời mù mịt trời không
Đầu kê cao gối nằm trong cửa gài
Cùng vầng trăng sáng lai rai
Núi Hồng muôn dặm cho dài ý thơ 
Nhìn đời mây chó lơ mơ
Lưng đeo gươm báu đứng chờ gió thu 
Lặng coi bóng trúc êm ru
Tuyết tan, sương lặng trúc nhö hóa rồng
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

開 窗 
門 前 煙 景 近 如 何,
閒 日 開 窗 生 意 多。
六 月 培 風 鵬 徙 地,
一 庭 積 雨 蟻 移 窩。
青 氈 舊 物 苦 珍 惜,
白 髮 雄 心 空 咄 嗟。
再 病 尚 須 調 攝 力,
不 知 秋 思 到 誰 家。 

Khai song 
Môn tiền yên cảnh cận như hà?
Nhàn nhật khai song sinh ý đa.
Lục nguyệt bồi phong bằng tỷ địa,
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa.
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích,
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực,
Bất tri thu tứ đáo thuỳ gia? 

Mở cửa
Trước nhà làn khói lửng lơ
Nhìn xem một chút ý thơ lại nhiều
Chim bằng theo gió mà phiêu
Sân mưa nước ngập kiến trèo lên cây
Một manh chiếu cũ còn đây
Lòng hăng mà tóc thì phai hết rồi
Bệnh thì phải uống thuốc thôi
Ý thu chẳng biết đến chơi nhà nào
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


別阮大郎其一 
我且浮江去,
送君歸故丘。
乾坤餘草屋,
風雨宿孤舟。
秋夜魚龍縶,
深山麋鹿遊。
休其不甚遠,
相見在中州。

Biệt Nguyễn đại lang kỳ 1 
Ngã thả phù giang khứ,
Tống quân quy cố khâu.
Càn khôn dư thảo ốc,
Phong vũ túc cô chu.
Thu dạ ngư long trập,
Thâm sơn mi lộc du.
Hưu kỳ bất thậm viễn,
Tương kiến tại trung châu.

Giả biệt Nguyễn Đại Lang Kỳ I
Qua sông tôi sắp ra đi
Anh về chốn cũ còn gì nữa đâu
Nhà trơ một góc trời sầu
Thuyền trong mưa gió neo đâu cũng đành
Đêm thu rồng cá nép mình
Hươu nai thì chạy loanh quanh hốc rừng
Ngày vui cũng đã dượm gần
Trung châu gặp lại rần rần niềm vui
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

別阮大郎其二 
送君歸故丘,
我亦浮江漢。
千里不相聞,
一心未嘗間。
夜黑豺虎驕,
月明鴻雁散。
兩地各相望,
浮雲應不斷。 

Biệt Nguyễn đại lang kỳ 2 
Tống quân quy cố khâu,
Ngã diệc phù Giang Hán.
Thiên lý bất tương văn,
Nhất tâm vị thường gián.
Dạ hắc sài hổ kiêu,
Nguyệt minh hồng nhạn tán.
Lưỡng địa các tương vương (vọng),
Phù vân ưng bất đoạn.

Giả biệt Nguyễn Đại Lang Kỳ II

Anh đi về chốn cũ rồi
Sông Hán tôi tìm qua chơi
Ngàn dặm tin thì thưa vắng
Tấc lòng nhớ lại khôn nguôi
Sói hùm trong đêm sốc xáo
Dưới nguyệt nhạn hồng chia phôi
Đôi ngả đôi người trông ngóng
Ôi trời. Ngàn dặm mây trôi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

別阮大郎其三 
君歸我亦去,
各在亂離中。
生子交情在,
存忘苦節同。
柴門開夜月,
殘笠走秋風。
千里不相見,
浮雲迷太空。

Biệt Nguyễn đại lang kỳ 3 
Quân quy ngã diệc khứ,
Các tại loạn ly trung.
Sinh tử giao tình tại,
Tồn vong khổ tiết đồng.
Sài môn khai dạ nguyệt,
Tàn lạp tẩu thu phong.
Thiên lý bất tương kiến,
Phù vân mê thái không

Giả biệt Nguyễn Đại Lang Kỳ III
Anh về tôi cũng ra đi
Trong vòng loạn lạc đâu thì cũng đau
Tình xưa sống chết bền lâu
Mất còn nỗi khổ chung màu nhớ thương
Cửa sài bóng nguyệt soi gương
Gió thu lồng nón trên đường lầm than
Xa nhau muôn dặm ngỡ ngàng
Trên cao cao vút lang thang mây mờ
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------
臥病其一 
多病多愁氣不舒,
十旬困臥桂江居。
癘神入室吞人魄,
饑鼠緣床喫我書。
未有文章生孽障,
不容塵垢雜清虛。
三蘭窗下吟聲絕,
點點精神遊太初。

Ngoạ bệnh kỳ 1 
Đa bệnh đa sầu khí bất thư,
Thập tuần khốn ngoạ Quế giang cư.
Lệ thần nhập thất thôn nhân phách,
Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư.
Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng,
Bất dung trần cấu tạp thanh hư.
Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt,
Điểm điểm tinh thần du thái sơ. 

Nằm bệnh kỳ 2 
Rầu rầu bệnh bệnh liên tu
Sông Quế nằm rên hù hù
Thần chết len vào ngán ngẫm
Chuột bò kệ sách lu bu
Câu thơ vướng thân đành chịu
Cát bụi không lầm được đâu
Bặt tiếng ngâm, lan mấy khóm
Dần đưa đầu óc nhẹ hều
Nguyễn Hiền Nhu
------------------

臥病其二 
春寒夏暑故相侵,
一臥鴻山歲月深。
明鏡曉寒開老瘦,
柴扉夜靜閉呻吟。
十年夙疾無人問,
九轉還丹何處尋。
安得玄關明月見,
陽光下照破群陰

Ngoạ bệnh kỳ 2 
Xuân hàn hạ thử cố tương xâm,
Nhất ngọa Hồng Sơn tuế nguyệt thâm.
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu,
Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm.
Thập niên túc tật vô nhân vấn,
Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm?
An đắc huyền quan minh nguyệt hiện,
Dương quang hạ chiếu phá quần âm. 

Nằm bệnh kỳ 2 
Non Hồng nằm mãi bấy lâu nay
Xuân lạnh heø oi cứ quấy rầy
Ngaøy ñeán soi gương thân ốm nhách
Đêm về gài cửa miệng rên hoài
Thuốc tiên chín bận không tìm được
Bệnh cũ mười năm chẳng thấy ai
Nếu được vầng trăng về cửa trước
Long lanh aùnh nguyeät xeù ñeâm daøi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


對酒 
趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色漸遷黃鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲真可哀。

Đối tửu 
Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai. 

Đối mặt cùng ly rượu
Trước nhà nhấn nhá cơn say
Sân rêu thì đã phủ đầy hoa rơi
Sống chưa hết  chén rượu vơi
Chết rồi nào biết đâu ai tưới mồ 
Già dần theo tháng ngày qua
Con oanh bỏ tổ xuân xa, xa rồi
Trăm năm giá mãi mềm môi
Áng mây chìm nổi một đời buồn hiu  
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


村夜 
青草村前臥老翁,
江南夜色上簾櫳。
滿天明月一池水,
半壁寒登萬樹風。
老去未知生計拙,
障消時覺夙心空。
年年結得漁樵侶,
笑傲湖煙野草中。

Thôn dạ 
Thanh thảo thôn tiền ngoạ lão ông,
Giang nam dạ sắc thướng liêm lung.
Mãn thiên minh nguyệt nhất trì thuỷ,
Bán bích hàn đăng vạn thụ phong.
Lão khứ vị tri sinh kế chuyết,
Chướng tiêu thời giác túc tâm không.
Niên niên kết đắc ngư tiều lữ,
Tiếu ngạo hồ yên dã thảo trung. 

Đêm ở xóm quê
Xóm trên cỏ lục, một ông già
Rèm cuốn, bờ sông tối quá ta 
Trăng chiếu mênh mang ao hứng lấy
Đèn soi nửa vách gió đi qua
Làm ăn xập xệ thân già chát
Tính khí xuề xòa nghiệp chướng xa 
Kết bạn ngư tiều ôi khoái thiệt
Cöôøi khan cỏ biếc khói mây nhòa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

雜吟其一 
秋聲一夜渡藍河,
無影無形入我家。
萬里西風來白髮,
一窗秋色在黃花。
百年哀樂何時了?
四壁圖書不厭多。
庭植孤松高百尺,
不知青帝奈人何。

Tạp Ngâm Kỳ 1 
Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.
Vạn lý tây phong lai bạch phát,
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.
Bách niên ai lạc hà thời liễu?
Tứ bích đồ thư bất yếm đa.
Đình thực cô tùng cao bách xích,
Bất tri thanh đế nại nhân hà? 

Ngâm tràn 1
Đêm sông lam rộn tiếng thu qua
Chẳng bóng hình chi cũng quấy  ta
Ngàn gió tây về cho bạc tóc
Một song cửa nhỏ mấy vàng hoa
Trăm năm sướng khổ như vời vợi
Bốn vách tranh thơ đã nhạt nhòa
Sân trước bóng tùng cao vút mắt
Chúa xuân liệu có chán chê ta
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

雜 吟 其 二 
龍 尾 江 頭 屋 一 間,
幽 居 愁 極 忽 知 歡。
達 人 心 境 光 如 月,
處 士 門 前 青 者 山。
枕 畔 束 書 扶 病 骨,
燈 前 斗 酒 起 衰 顏。
灶 頭 終 日 無 煙 火,
窗 外 黃 花 秀 可 餐。

Tạp Ngâm Kỳ 2 
Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt.
Đăng tiền đấu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hoả,
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan. 

Ngâm Tràn 2
Đầu sông có một túp lều quèn
Cái thú hiu buồn sướng lắm nghen
Dọn tấm lòng không, trăng sáng rực
Ngắm ngoài cửa ngõ, núi xanh chen
Thân đau yếu được lưng kê sách
Mặt tỉnh tươi ra rượu dưới đèn  
Nhà bếp suốt ngày không khói lửa
No lòng vàng cúc rực ngoài hiên
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

雜 吟 其 三 
漠 漠 秋 光 八 月 深,
茫 茫 天 氣 半 晴 陰。
秋 風 高 竹 鳴 天 籟,
零 雨 黃 花 布 地 金。
遠 岫 寒 侵 遊 子 夢,
澄 潭 清 共 主 人 心。
出 門 徐 步 看 秋 色,
半 在 江 頭 楓 樹 林。
Tạp ngâm kỳ 3 
Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,
Mang mang thiên khí bán tình âm.
Thu phong cao trúc minh thiên lại,
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,
Trừng đàm thanh cộng chủ nhân tâm.
Xuất môn từ bộ khan thu sắc,
Bán tại giang đầu phong thụ lâm. 

Ngâm Tràn 3
Nắng đổ lan man tháng tám già
Dường râm dường sánh áng mây qua
Gió đưa tiếng sáo vi vu trúc
Mưa rắc hơi vàng lác đác hoa
Khách mộng dần theo hơi núi lạnh
Lòng trong cùng lắng nước đầm xa
Sắc thu cuốn bước chân ra cửa
Nửa ở rừng phong, nửa bến xa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu



道意 
明月照古井,
井水無波濤。
不被人牽扯,
此心終不搖。
縱被人牽扯,
一搖還復止。
湛湛一片心,
明月古井水。

Đạo ý 
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả,
Thử tâm chung bất dao.
Túng bị nhân khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ. 

Nói ý mình

Trăng sáng soi lòng giếng cũ
Sóng đi đâu mất tiêu rồi
Không ai thò tay múc nước
Lòng lặng cùng vầng trăng soi

Giá như có người xao động
Gợn lên rồi chóng lặng thôi
Giữ tấm lòng trong trẻo suốt
Đầy lòng lại ánh trăng soi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


寄友 
鴻山山月一輪明,
千里長安此夜情。
太璞不全眞面目,
一州何事小功名。
有生不帶公侯骨,
無死終尋豕鹿盟。
羨殺北窗高臥者,
平居無事到虛靈。

Ký hữu (II) 
Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh,
Thiên lý Trường An thử dạ tình.
Thái phác bất toàn chân diện mục,
Nhất châu hà sự tiểu công danh.
Hữu sinh bất đới công hầu cốt,
Vô tử chung tầm thỉ lộc minh.
Tiễn sát bắc song cao ngoạ giả,
Bình cư vô sự đáo hư linh


Gửi bạn
Một bóng trăng soi ngàn Hống
Trường An dằng dặc tấm lòng
Ngọc nằm trong đá thô ráp
Thân dính công danh lòng vòng
Bộ vó quan làng đâu sẵn
Vui cùng muông thú hằng mong
Ai kia nằm kềnh cửa bắc
Rỗi rảnh nghĩa là ở không
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

羅浮江水閣獨坐 

水閣閣下江水深,
水閣閣上人沉吟。
悠悠雲影變晨夕,
滾滾浪花浮古今。
塵世百年開眼夢,
鴻山千里倚欄心。
徘徊對影獨無語,
白髮數莖垂我襟。

 La Phù giang thuỷ các độc toạ 
Thuỷ các các hạ, giang thuỷ thâm,
Thuỷ các các thượng, nhân trầm ngâm.
Du du vân ảnh biến thần tịch,
Cổn cổn lãng hoa phù cổ câm (kim).
Trần thế bách niên khai nhãn mộng,
Hồng sơn thiên lý ỷ lan tâm.
Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ,
Bạch phát sổ hành thuỳ ngã khâm. 

Ngồi một mình trên lầu cạnh sông La Phù 
Dưới lầu làn nước liu riu chảy
Cho kẻ ngồi trên ngắm ngó suông
Lặng lẽ vầng mây thay đổi suốt
Ồn ào ngọn sóng nổi chìm luôn
Cuộc đời mở mắt chừng như mộng
Lan can ngồi tựa nỗi hiu buồn
Mình êng ngó bóng trong yên ắng
Trắng bóc trên đầu bóng khói sương
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

偶興其一 
初更鼓角五更雞,
終夜徘徊思轉迷。
明月滿天何故故,
西風吹我正凄凄。
愓殘物性悲鳧脛,
刻雒天真失馬蹄。
若遇山中糜鹿友,
煙霞舊話不堪提。

Ngẫu hứng kỳ 1 
Sơ canh cổ giác, ngũ canh kê,
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê.
Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố,
Tây phong xuy ngã chính thê thê.
Thương tàn vật tính bi phù hĩnh,
Khắc lạc thiên chân thất mã đề.
Nhược ngộ sơn trung my lộc hữu,
Yên hà cựu thoại bất kham đề. 

Ngẫu hứng kỳ 1 
Trống điểm đầu canh... gà gáy sáng
Suốt đêm ngẫm nghĩ chuyện gì đâu
Mênh mang ánh nguyệt làm chi vậy?
Heo hút tây phong laïnh  nỗi sầu
Móng ngựa rêm đau vì khắc bạc
Chân le lạnh cóng bởi nông sâu
Vượn hươu giữa núi chừng như gặp
Mây khói lời xưa nói được sao?
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

偶興其二 
一淚天涯洒斷蓬,
羅浮江上起秋風。
黃雲白水兩相照,
急管悲絲萬不同。
六尺拘縻長役役,
四時拋擲太匆匆。
征鴻影裏家何在,
隱隱瓊雲三兩峰。

Ngẫu hứng kỳ 2 
Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng,
La Phù giang thượng khởi thu phong.
Hoàng vân bạch thuỷ lưỡng tương chiếu,
Cấp quản bi ty vạn bất đồng.
Lục xích câu my trường dịch dịch,
Tứ thì phao trịch thái thông thông.
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại?
Ẩn ẩn Quỳnh vân tam lưỡng phong. 

Chợt hứng kỳ 2 
Lệ thấm cỏ bồng nơi góc bể
Sông La Phù ướt đẫm thu phong
Mây vàng, nước trắng nhìn nhau suốt
Sáo nhặt, đàn thưa điệu chẳng cùng
Ràng buộc thân còm luôn lật đật 
Ném quăng bóng lẻ mãi long rong
Hồng bay thăm thẳm nhà không thấy
Mây phủ Quỳnh Côi nuùi phập  phồng
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

清明偶興 
東風晝夜動江城,
人自悲悽草自青。
春日有身非少壯,
天涯無酒對清明。
村歌初學桑麻語,
野哭時聞戰伐聲。
客舍含愁已無限,
莫敎茅草近階生。 

Thanh minh ngẫu hứng 
Đông phong trú dạ động giang thành,
Nhân tự bi thê, thảo tự thanh.
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn,
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Tiết thanh minh ngẫu hứng 
Ngày đêm gió rít róng quanh thành
Người vẫn rầu rầu, cỏ vẫn xanh
Xuân đến thêm buồn thân lão háp 
Trời xa chẳng rượu lạnh thanh minh
Dâu gai quê trớt lời thôn dã
Tiếng khóc hiu buồn thuở chiến chinh
Quán khách sầu chi mà lắm thế
Thôi đừng để cỏ dại bò quanh
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

暮春漫興 
一年春色九十日,
拋擲春光殊可憐。
浮世功名看鳥過,
閒庭節字帶縈遷。
側身不出有形外,
千歲長懮未死前。
浮利榮名終一散,
何如及早學神仙。

Mộ xuân mạn hứng 
Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật,
Phao trịch xuân quang thù khả liên.
Phù thế công danh khan điểu quá,
Nhàn đình tiết tự đới oanh thiên.
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại,
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền.
Phù lợi vinh danh chung nhất tán,
Hà như cập tảo học thần tiên ? 


Cảm hứng cuối xuân
Mỗi năm xuân có chín mươi ngày
Mà chóng vù qua cũng tiếc thay
Mây nổi công danh qua cái rẹt
Sân ngoài thời tiết vội vù bay
Tấm thân già chát nghiêng chiềng mãi
Cái chuyện ngàn năm ngẫm nghĩ hoài
Lợi hảo danh hờ rồi sạch trụi
Thì đây lối Bụt bước lên thôi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

清決江晚眺 
浮橋盡處出平田,
歷歷青山在眼前。
古徑樵歸明月擔,
潮門魚送夕陽船。
茫茫遠水三春樹,
落落人家兩岸煙。
極目鄉關在何處,
征鴻數點白雲邊。 

Thanh Quyết giang vãn diểu 
Phù kiều tận xứ xuất bình điền,
Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền.
Cổ kính tiều quy minh nguyệt đảm,
Triều môn ngư tống tịch đương thuyền.
Mang mang viễn thuỷ tam xuân thụ,
Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên.
Cực mục hương quan tại hà xứ?
Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên. 

Chiều ngắm cảnh sông Thanh Quyết 
Hết cầu thì ruộng nguùt ñồng xa
Trước mắt laø kia saéc nuùi nhoøa
Lối cũ tiều về trăng doõi boùng
Trieàu leân chaøi bủa aùnh dương taø
Caâây lồng boùng nước im phăng phắc
Khoùi tỏa ven soâng cöù lập loøa
Vuùt mắt queâ nhaø khoâng coù thấy
Nöông vieàn maâây trắng nhaïn bay qua
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

同籠江 
同籠江水去悠悠,
今古閒愁不住流。
沙嘴殘蘆飛白鷺,
隴頭落月臥寒牛。
亂山翠接孤城暮,
水竹寒生小店秋。
羨爾野鷗隨水去,
浮生勞碌幾時休?

Đồng Lung giang 
Đồng Lung giang thuỷ khứ du du,
Kim cổ nhàn sầu bất trú lưu.
Sa chuỷ tàn lô phi bạch lộ,
Lũng đầu lạc nguyệt ngoạ hàn ngưu.
Loạn sơn thuý tiếp cô thành mộ,
Thuỷ trúc hàn sinh tiểu điếm thu.
Tiễn nhĩ dã âu tuỳ thuỷ khứ,
Phù sinh lao lục kỷ thì hưu ?

Sông Đồng Lung 
Liu riu giòng nước Đồng Lung chảy
Trôi tuột bao nhiêu nỗi khổ sầu 
Cò trắng lập lờ qua bãi sậy
Trăng soi lấp lóa xuống lưng trâu
Thành côi bên núi chiều xanh thẫm
Trúc thủy ven lều lạnh khói thu
Muốn được như âu đùa giỡn sóng
Đời chìm nổi mãi ngán gì đâu
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

諒山道中 
萬木山前可卜居,
白雲在岫水通渠。
山僧對竹兩無恙,
牧豎騎牛一不如。
影裏鬚眉看老矣,
夢中松菊憶歸與。
坐家村叟多閒事, 
只為平生不讀書。

Lạng Sơn đạo trung
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư,
Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ.
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng,
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như.
Ảnh lý tu my khan lão hỷ,
Mộng trung tùng cúc ức quy dư.
Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự,
Chỉ vị bình sinh bất độc thư. 

Trên đường đi Lạng Sơn
Trước núi dựng nhà ở với cây
Có khe nước chảy có vầng mây
Sư ông và trúc không chi cả
Thằng bé cùng trâu chẳng chuyện gì 
Râu tóc trắng gương già chát đến
Cúc tùng trong mộng nhớ nhà đây
Trước hiên ngồi xổm ông già ngó...
... lơ đãng. Suốt đời chẳng đọc chi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------
鬼門道中 
鬼門石徑出雲根,
征客南歸欲斷魂。
樹樹東風吹送馬,
山山落月夜啼猿。
中旬老態逢人懶,
一路寒威杖酒溫。
山塢何家大貪睡,
日高猶自掩柴門。

Quỷ Môn đạo trung 
Quỉ môn thạch kính xuất vân côn (căn),
Chinh khách nam quy dục đoạn hồn.
Thụ thụ đông phong xuy tống mã,
Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên.
Trung tuần lão thái phùng nhân lãn,
Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn.
Sơn ổ hà gia đại tham thuỵ?
Nhật cao do tự yểm sài môn. 

Trên đường qua Quỷ Môn
Lối qua cửa Quỷ nhòe mây khói
Lòng khách xuôi nam ướm ướm buồn
Ngựa giục hàng cây cơn gió lướt
Vượn kêu sườn núi ánh trăng buông
Lơ mơ ngán khách, thân già háp
Lành lạnh đường xa, chén rượu suông
Trên núi cửa nhà ai chửa mở
Chừng như còn ngủ nắng vàng tuôn
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

春宵旅次 
蕭蕭蓬鬢老風塵,
暗裡偏驚物候新。
池草未闌千里夢,
庭梅已換一年春。
英雄心事荒馳騁,
名利營場累笑顰。
人自蕭條春自好,
圍城城下一沾巾。

Xuân tiêu lữ thứ 
Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần,
Ám lý thiên kinh vật hậu tân.
Trì thảo vị lan thiên lý mộng,
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân.
Anh hùng tâm sự hoang trì sính,
Danh lợi doanh trường luỵ tiếu tần.
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo,
Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân. 
Nguyễn Du

Đêm Xuân Xa Nhà
Gió bụi lơ phơ, tóc bạc phơ
Đổi dời sợ quá hóa ngu ngơ
Mai vàng rực ánh thêm xuân nữa
Ao cỏ xanh rờn vạn dặm mơ
Giong ruổi anh hùng gối lỏng khỏng 
Khóc cười danh lợi miệng hu hơ
Người thì ủ rủ xuân luôn đẹp
Thành hạ dầm khăn giọt lệ mờ
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


幽居其一 
桃花桃葉落紛紛,
門掩斜扉一院貧。
住久頓忘身是客,
年深更覺老隨身。
異鄉養拙初防俗,
亂世全生久畏人。
流落白頭成底事,
西風吹倒小烏巾。

U cư kỳ 1 
Đào hoa, đào diệp lạc phân phân,
Môn yểm tà phi nhất viện bần.
Trú cửu đốn vong thân thị khách,
Niên thâm cánh giác lão tuỳ thân.
Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,
Loạn thế toàn sinh cửu uý nhân.
Lưu lạc bạch đầu thành để sự,
Tây phong xuy đảo tiểu ô cân. 

Ở nơi u tịch kỳ 1
Đào ơi, hoa lá cùng bay 
Một nhà nghèo xác cổng gài như không
Thuê lâu ngở là chủ ông
Queân luoân mái tóc trắng bông mây trời
Giả ngây vì ở xứ người
Giữ thân còm giữa cuộc đời lu bu
Già không nên chuyện bèn ngu
Chiếc khăn rơi xuống, hù hù gió tây
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


幽居其二 

十載風塵去國賒,
蕭蕭白髮寄人家。
長途日暮新遊少,
一室春寒舊病多。
壞壁月明蟠蜥蜴,
荒池水涸出蝦蟆。
行人莫誦登樓賦,
強半春光在海涯。

U cư kỳ 2 
Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu,
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa.
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch,
Hoang trì thuỷ hạc xuất hà ma.
Hành nhân mạc tụng "Đăng lâu phú",
Cưỡng bán xuân quang tại hải nha (nhai). 

Ở nơi u tịch kỳ 2
Nhà người ở mãi tóc pha sương
Gió bụi mười năm biệt cố hương
Ráng đổ đường xa người ít xịt
Nhà tươm xuân lạnh bệnh hay vương
Mối lằn lổm ngổm trăng soi vách
Ếch nhái om sòm nước bãi hoang
Bài phú Đăng Lâu thôi chớ đọc 
Nửa đời góc bể nửa đời thương...
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

自嘆其一 
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹。
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知。
天地與人屯骨相,
春秋還汝老鬚眉。
斷蓬一片西風急,
畢竟飄零何處歸? 

Tự thán kỳ 1
Sinh vị thành danh nhân dĩ suy,
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy.
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn?
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri.
Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng,
Xuân thu hoàn nhữ lão tu mi.
Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp,
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy? 

Than thân kỳ 1 
Lơ phơ tóc nhuốm sương trong gió
Danh phận phập phù bệnh lại dai
Chân hạc dài ngoằng đâu nở cắt
Lông hồng nhẹ hẩng lại không hay
Tướng nghèo trời đất cho đeo miết
Râu tóc xuân thu điểm trắng hoài
Gió thổi dây bồng long khỏi gốc
Cuối cùng giạt tới xứ nào đây
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


自 嘆 其 二 
三 十 行 庚 六 尺 身,
聰 明 穿 鑿 損 天 真。
本 無 文 字 能 憎 命,
何 事 乾 坤 錯 妒 人。
書 劍 無 成 生 計 促,
春 秋 代 序 白 頭 新。
何 能 落 髮 歸 林 去,
臥 聽 松 風 響 半 雲。

Tự thán kỳ 2 
Tam thập hành canh lục xích thân,
Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân.
Bản vô văn tự năng tăng mệnh,
Hà sự càn khôn thác đố nhân?
Thư kiếm vô thành sinh kế xúc,
Xuân thu đại tự bạch đầu tân.
Hà năng lạc phát quy lâm khứ,
Ngoạ thính tùng phong hưởng bán vân! 

Than thân kỳ 2 
Nửa đời với sáu thước thân còm
Đeo đẳng thông minh mới ốm nhom
Mệnh số dính chi vào chữ nghĩa
Đất trời đâu ghét phận lôm côm
Xuân thu lần lữa, phai màu tóc
Thư kiếm lờ mờ, löûng cheùn cơm
Đường Bụt caïo ñaàu voâ hốc núi
Nằm nghe thông hát ñôõ om sòm
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

不 寐 
不 寐 聽 寒 更,
寒 更 不 肯 盡。
關 山 引 夢 長,
砧 杵 催 寒 近。
廢 灶 聚 蝦 蟆,
深 堂 出 蚯 蚓。
暗 誦 天 問 章,
天 高 何 處 問?

Bất mị 
Bất mị thính hàn canh,
Hàn canh bất khẳng tận.
Quan san dẫn mộng trường,
Châm chử thôi hàn cận.
Phế táo tụ hà ma,
Thâm đường xuất khâu dận.
Ám tụng "Thiên vấn" chương,
Thiên cao hà xứ vấn? 

Không ngủ 
Nghe trống canh lạnh buốt
Cho laèng ngoằng bóng đêm
Đường xa dài mộng mò
Tiếng chày goïi lạnh thêm
Bếp tàn ếch nhái tụ
Góc sâu giun dế rên
Miệng“hỏi trời” lẫm bẫm
Trời mà nghe cũng nên
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

雜吟 
踏遍天涯又海涯,
乾坤隨在即為家。
平生不起蒼蠅念,
今古誰同白蟻窩。
寥落壯心虛短劍,
蕭條旅悶對時歌。
閉門不識春深淺,
但見棠藜落盡花。

Tạp ngâm 
Đạp biến thiên nha hựu hải nha,
Càn khôn tuỳ tại tức vi gia.
Bình sinh bất khởi thương dăng niệm,
Kim cổ thuỳ đồng bạch nghĩ oa?
Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm,
Tiêu điều lữ muộn đối thì ca.
Bế môn bất thức xuân thâm thiển,
Đãn kiến đường lê lạc tận hoa. 

Tạp ngâm
Đi hết chân mây rồi góc biển
Đến đâu nhà đó cũng vì thân
Không ưa mối mọt không chung chạ
Chẳng khoái ruồi xanh chẳng gũi gần
Rỉ sét thanh gươm hồn lữ thứ
Buồn vương câu hát böôùc phong trần
Cửa gài không biết xuân còn mất
Chỉ thấy hoa lê rụng trắng ngần
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

乞食 
嶒崚長劍倚青天,
輾轉泥塗三十年。
文字何曾為我用,
饑寒不覺受人憐。 

Khất thực 
Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên,
Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng ?
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên! 

Xin ăn 
Chống gươm ưỡn ngực đứng dòm trời
Lầy lội giữa đời lủm bủm chơi
Chữ nghĩa đổi cơm ăn chẳng được
Mang thân nghèo xác chịu ơn người
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

春夜 
黑夜韶光何處尋,
小窗開處柳陰陰。
江湖病到經時久,
風雨春隨一夜深。
羈旅多年燈下淚,
家鄉千里月中心。
南臺村外龍江水,
一片寒聲送古今。

Xuân dạ 
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm.
Giang hồ bệnh đáo kinh thì cửu,
Phong vũ xuân tuỳ nhất dạ thâm.
Kỳ lữ đa niên đăng hạ lệ,
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm.
Nam Đài thôn ngoại Long giang thuỷ,
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kinh). 

Đêm xuân 
Nắng xuân đi biệt, đêm đen kịt
Cành liễu lù lù đứng trước song 
Kéo kiếp bụi đời nên bệnh suốt
Dầm cơn mưa lạnh ánh xuân không
Long rong đất khách đèn tuôn lệ
Heo hút quê xa nguyệt dãi lòng
Ngoài xóm sông Rồng con nước cuộn
Xưa nay chảy buốt một giòng sông
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

  

Thu chí (I) 
Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu.

Thu đến I
Sông Hương và một vầng trăng
Xưa nay tuôn mãi lăng nhăng nỗi buồn
Cỏ trên mộ cũ còn thương
Sương thu mới tới đã vương mái đầu
Có thân nên mới vướng sầu
Bệnh không mà cũng gù gù lưng cong
Sông Lam ngoái cỗ mà trông
Kia đàn âu trắng cũng không dám nhìn.
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Thu đến (I)
Sông Hương lờ mờ bóng nguyệt
Xưa  nay  chở  lắm  nỗi  sầu 
Mộ xanh vùi cơn đau cũ
Mái đầu đã bạc. Dượm thu

Thân có cho nên bị mệt
Bệnh không mà lưng cũng gù
Sông Lam quay đầu nhìn lại
Cũng đành từ tạ chim âu
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

------------------

秋至 
四時好景無多日,
拋擲如梭喚不回。
千里赤身為客久,
一庭黃葉送秋來。
簾垂小閣西風動,
雪暗窮村曉角哀。
惆悵流光催白髮,
一生幽思未曾開
。 

Thu chí (II) 
Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hối.
Thiên lý xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai. 

Thu đến II
Cảnh đẹp bốn mùa thì ít xịt
Tháng năm đi miết gọi không dừng
Năm đi, ngàn dặm trơ thân khách
Thu đến, đầy sân ngập lá hồng
Gió hắt rèm thưa căn gác hẹp
Còi rung xóm nhỏ tuyết rơi bông
Tóc tai trắng bóc theo ngày tháng
Một nỗi niềm riêng để nặng lòng
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

秋夜其一 
繁星歷歷露如銀,
東壁寒蟲悲更辛。
萬里秋聲催落葉,
一天寒色掃浮雲。
老來白髮可憐汝,
住久青山未厭人。
最是天涯倦遊客,
窮年臥病桂江津。 

Thu dạ kỳ 1 
Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân,
Đông bích hàn trùng bi cánh tân.
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân
Lão lai bạch phát khả liên nhữ
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân
Tối thị thiên nhai quyện du khách
Cùng niên ngoạ bệnh Quế giang tân. 

Đêm thu kỳ 1 
Một trời sao sáng hơi sương tỏa
Bốn phía trùng rên những điệu buồn
Muôn dặm tiếng thu xua lá rụng
Một trời hơi buốt quấn mây tuôn
Già rồi bạc tóc đâu người xót
Ở mãi non xanh giục khách buồn
Quấn kẻ ven trời long cả gối 
Năm tàn bến Quế ốm đau luôn
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

秋夜其二 
白露為霜秋氣深,
江城草木共蕭森。
剪燈獨照初長夜,
握髮經懷末人心。
千里江山頻悵望,
四時煙景獨沉吟。
早寒已覺無衣苦,
何處空閨催暮砧。 

Thu dạ kỳ 2 
Bạch lộ vi sương thu khí thâm,
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm.
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng,
Tứ thì yên cảnh độc trầm ngâm.
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm? 

Ngàn sương thêm lạnh hơi thu buốt
Thành quách ven sông cỏ ướm màu
Đêm chậm qua đành khêu lại bấc
Việc không thành phải ngậm niềm đau 
Bốn mùa mây nước thêm ngơ ngẩn
Ngàn dặm non sông một nỗi sầu
Không áo khổ thân trời chớm lạnh
Tiếng chày nện vải bóng chiều sâu
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

留別阮大郎 
西風蕭颯拂高林,
傾盡離杯話夜深。
亂世男兒羞對劍,
他鄉朋友重分襟。
高山流水無人識,
海角天涯何處尋?
留取江南一片月,
夜來常照兩人心。

Lưu biệt Nguyễn đại lang 
Tây phong tiêu táp phất cao lâm,
Khuynh tận ly bôi ngoại dạ thâm.
Loạn thế nam nhi tu đối kiếm,
Tha hương bằng hữu trọng phân khâm.
"Cao sơn lưu thuỷ" vô nhân thức,
Hải giác thiên nhai hà xứ tầm?
Lưu thủ giang nam nhất phiến nguyệt,
Dạ lai thường chiếu lưỡng nhâm tâm.

Bài thơ lưu lại khi cùng anh Nguyễn chia tay 
Trời cao hiu hắt ngọn thu phong
Nghiêng chén đêm khuya, cạn nỗi lòng
Đối kiếm tuôn sầu thời loạn lạc
Bạn bè xẻ áo chốn long đong 
Núi cao nước chảy nào ai biết
Góc bể chân trời mấy kẻ trông
Bóng nguyệt sông nam còn giữ mãi
Đêm đêm phơi rõ bóng hai lòng 
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


滯客 
滯客淹留東海中,
寂寥良夜與誰同。
歸鴻悲動天河水,
戍鼓寒侵夏夜風。
人到窮途無好夢,
天回苦海促浮蹤。
風塵隊裡留皮骨,
客枕蕭蕭兩鬢蓬。 

Trệ khách 
Trệ khách yêm lưu Đông Hải trung,
Tịch liêu lương dạ dữ thuỳ đồng?
Quy hồng bi động thiên hà thuỷ,
Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong.
Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng,
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung.
Phong trần đội lý lưu bì cốt,
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng. 

Người khách bê trễ
Lần lữa đêm ngày chốn biển Đông
Đêm thanh quạnh vắng chẳng ai cùng 
Sông trời xao xác hồng kêu bạn
Gió hạ lạnh lùng trống điểm không
Mộng đẹp khó ươm trong cảnh khổ
Gót chân giục bước chốn mê cùng
Xương da một mảnh vùi sương gió
Gối khách lạnh vùi tóc rối bung
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------



漫興其一 
百年身世委風塵,
旅食江津又海津。
高興久無黃閣夢,
虛名未放白頭人。
三春積病貧無藥,
卅載浮生患有身。
遙憶家鄉千里外,
澤車段馬愧東鄰。

Mạn hứng kỳ 1 
Bách niên thân thế uỷ phong trần,
Lữ thực giang tân hựu hải tân.
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,
Hư danh vị phóng bạch đầu nhân.
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,
Tạp tải phù sinh hoạn hữu thân.
Dao ức gia hương thiên lý ngoại,
Trạch xa đoạn mã quý đông lân. 

Mạn hứng kỳ 1 
Trót gởi thân này cho gió bụi
Ăn thì bãi bể ngủ ven sông
Gác vàng phởn chí tan tành mộng
Đầu bạc hư danh khít rịt vòng
Bệnh hết mùa xuân không chén thuốc
Trôi dần mây nổi mấy mươi năm
Thẹn cùng hàng xóm ồn xe ngựa
Ngàn dặm quê hương chỉ nhớ thầm
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


漫興 
行腳無根任轉蓬,
江南江北一囊空。
百年窮死文章裏,
六尺浮生天地中。
萬里黃冠將暮景,
一頭白髮散西風。
無窮今古傷心處,
依舊青山夕照紅。 

Mạn hứng kỳ 2 
Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng,
Giang nam giang bắc nhất nang không.
Bách niên cùng tử văn chương lý,
Lục xích phù sinh thiên địa trung.
Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh,
Nhất đầu bạch phát tản tây phong.
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.

 Mạn hứng kỳ 2 
Lông bông đi suốt chân không rễ
Nam bắc lềnh bềnh một túi không
Ở với lời thơ cho đến chết
Đi trong trời đất cũng cam lòng
Mũ vàng muôn dặm chiều rơi xuống
Muối trắng dần tô tóc rối bung
Ngẫm chuyện xưa nay lòng xót xót
Y chang núi cũ ráng rơi hồng
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

渡富農江感作 
農水東流去,
滔滔更不回。
青山傷往事,
白髮復重來。
春日商船合,
西風古壘開。
遊人無限感,
芳草遍天涯。

Độ Phú Nông giang cảm tác 
Nông thuỷ đông lưu khứ,
Thao thao cánh bất hồi.
Thanh sơn thương vãng sự,
Bạch phát phục trùng lai.
Xuân nhật thương thuyền hợp,
Tây phong cổ lũy khai.
Du nhân vô hạn cảm,
Phương thảo biến thiên nhai. 

Qua sông Phú Nông cảm tác
Chảy miết về đông chẳng nghỉ
Cũng không quay lại bao giờ
Núi xanh thương câu chuyện cũ
Sương trắng tươm mái đầu phơ
Ghe thuyền ngày xuân tấp nập
Gió  tây  lũy  cũ  thẩn  thờ
Khách qua đường lòng bức rức
Cỏ thơm xanh biếc trời xưa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

黃梅橋晚眺 
黃梅橋上夕陽紅,
黃梅橋下水流東。
元氣浮沉滄海外,
晴嵐吞吐亂流中。
短蓑漁枕孤舟月,
長笛童吹古徑風。
大地文章隨處見,
君心何事太匆匆。

Hoàng Mai kiều vãn diểu 
Hoàng Mai kiều thượng, tịch dương hồng,
Hoàng Mai kiều hạ, thuỷ lưu đông.
Nguyên khí phù trầm thương hải ngoại,
Tình lam thôn thổ loạn lưu trung.
Đoản thoa ngư chẩm cô chu nguyệt,
Trường địch đồng xuy cổ kính phong.
Đại địa văn chương tuỳ xứ kiến,
Quân tâm hà sự thái thông thông? 

Chiều đứng trên cầu Hoàng Mai ngắm cảnh 

Trên cầu ánh ráng chiều pha
Dưới cầu giòng nước oặt òa về đông
Nổi chìm trời biển mênh mông
Sương từ núi xuống cùng sông lượn lờ
Áo tơi thuyền gối trăng mờ
Sáo nương theo gió đong đưa trên đồng
Vội chi cho vướng bận lòng
Câu thơ theo cảnh theo lòng mà tươm
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


夜坐 
四壁蛩聲鬧夜綿,
隘床移向曲欗邊。
微風不動霜垂地,
斜月無光星滿天。
今古閒愁來醉後,
蓴鱸香思在秋先。
白頭所計維衣食,
何得狂歌似少年?

Dạ toạ 
Tứ bích cùng thanh náo dạ miên
Ải sàng di hướng khúc lan biên
Vi phong bất động sương thùy địa
Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên
Kim cổ nhàn sầu lai túy hậu
Thuần lô hương tứ tại thu tiên
Bạch đầu sở kế duy y thực
Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên! 

Ngồi trong đêm 
Đêm buông dế ran bốn phía 
Kéo chõng nan ra hiên ngoài
Sương phủ đất, cơn gió thoảng
Sao cùng nguyệt, bóng đêm dài 
Thu chưa sang, mùi lau ngót 
Buồn chén rượu, chuyện xưa nay, 
Cơm áo lo hoài đầu bạc
Thời con nít hát vang trời
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


偶題公館壁其一 
閶闔門前春色闌,
隔江遙對御屏山。
春從江上來何處,
人倚天涯滯一官。
滿地繁聲聞夜雨,
一床孤悶敵春寒。
桃花莫仗東君意,
傍有風姨性最酸。

Ngẫu đề công quán bích kỳ 1 
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan
Cách giang diêu đối Ngự Bình san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng đông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan 

Tình cờ đề vách công quán kỳ 1 

Trước cửa vua xuân đã nhạt nhòa 
Xanh rờn núi Ngự bến sông xa
Mang xuân, sông nước đi đâu vậy
Mòn gót, đường quan nhám nhúa mà
Tí tách mưa đêm trơn nhớt đất
Co ro giường buốt lạnh lùng da
Đào hoa đừng tưởng xuân yêu dấu
Dì gió chua ngoa lắm đó đa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


偶題公館壁其二 
東望江頭望故交
浮雲無定水滔滔
風吹古塚浮榮盡
日落平沙戰骨高
山月江風如有得
岩棲谷飲不辭勞
平生已絕雲霄夢
怕見傍人問羽毛 

Ngẫu đề công quán bích kỳ 2 
Đông vọng giang đầu vọng cố giao
Phù vân vô định thủy thao thao
Phong xuy cổ trủng phù vinh tận
Nhật lạc bình sa chiến cốt cao
Sơn nguyệt giang phong như hữu đãi
Nham thê cốc ẩm bất từ lao
Bình sanh dĩ tuyệt vân tiêu mộng
Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao 

Tình cờ đề vách công quán kỳ 2
Mênh mông đất cũ, ơi trời nước
Lấp lửng mây vờn sóng nhấp nhô
Mộ cũ danh hờ cơn gió thổi
Chiều rơi cát phẳng nắm xương khô
Gió sông trăng núi như chờ đợi
Uống hố nằm hang thỏa hải hồ
Dứt giấc kê vàng mây gió gọi
Hỏi chi lông cánh nhớ chi mô
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


送人 
香芹官道柳青青,
江北江南無限情。
上苑鶯嬌多妒色,
故鄉蓴老尚堪羹。
朝庭有道成君孝,
竹石多慚負爾盟。
惆悵深宵孤對影,
滿床滯雨不堪聽。

Tống nhân 
Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
Cố hương thuần lão thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu
Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh 

Tiễn bạn
Rờn xanh sắc liễu lối Hương Cần
Bến bắc bờ nam díu bước chân
Oanh trẻ vườn vua, tranh tiếng hót
Ngót già quê cũ , ngọt nồi canh
Thân danh mừng bác đều lo vẹn
Trúc đá buồn tôi mộng chẳng thành
Đối ánh đèn khuya chao bóng lẻ
Mưa tràn mái thủng ngậm ngùi canh
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


偶題 
白地庭墀夜色空
深堂悄悄下簾櫳
丁東砧杵千家月
蕭索芭蕉一院風
十口啼饑橫嶺北
一身臥病帝城東
知交怪我愁多夢
天下何人不夢中 

Ngẫu đề 
Bạch địa đình trì dạ sắc không
Thâm đường tiễu tiễu hạ liêm long
Đinh đông châm xử thiên gia nguyệt
Tiêu tác ba tiêu nhất viện phong
Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc
Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành đông
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung 

Tình cờ đề vịnh 
Im ỉm nhà trong rèm cửa đóng
Sân ngoài trống phộc để đêm rơi
Một phòng hứng gió đong đưa chuối
Ngàn nóc phơi trăng rộn rả chày 
Cửa bắc đói cơm mười miệng chẳn
Thành đông bệnh hoạn một thân còi
Bạn bè trách cứ ta lo hão
Tỉnh táo bao người đếm thử coi?
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


新秋偶興 
江城一臥閱三周
北望家鄉天盡頭
麗水錦山皆是客
白雲紅樹不勝秋
此身已作樊籠物
何處重尋汗漫遊
莫向天涯嘆淪落
何南今是帝王州 

Tân thu ngẫu hứng 
Giang thành nhất ngọa duyệt tam chu
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu
Lệ Thủy, Cẩm Sơn giai thị khách
Bạch vân hồng thụ bất thăng thu
Thử thân dĩ tác phàn lung vật
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du
Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc
Hà Nam kim thị đế vương châu

Đầu thu tình cờ hứng bút 
Thành bên sông một, ngó ba vòng
Ngoảnh lại nhà xưa có thấy không
Làm khách sông xanh rồi núi biếc
Đều thu mây trắng với cây hồng
Dễ đâu sông nước cho vui thú
Đành để cho thân vướng chậu lồng
Liêu lạc nghĩ hoài thêm mệt xác
Đất vua nằm ở phía nam sông
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------


秋日寄興 
西風纔到不歸人,
頓覺寒威已十分。
故國山河看落日,
他鄉身世托浮雲。
忽驚老境今朝是,
何處秋聲昨夜聞。
自哂白頭欠收入,
滿庭黃葉落紛紛。 

Thu nhật ký hứng 
Tây phong tài đáo bất quy nhân
Đốn giác hàn uy dĩ thập phần
Cố quốc sơn hà khan lạc nhật
Tha hương thân thế thác phù vân
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn
Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập
Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân 

Ngày thu chép hứng 

Gió tây dượm đến tươm lòng khách
Bất chợt rùng mình gió lạnh qua
Thân phận mây trôi đành phó mặc
Núi sông nước cũ ráng chiều pha
Tiếng thu xứ lạ lòng buôn buốt
Sáng sớm nhìn gương mặt bổng già
Ngán ngẫm bạc đầu tay cũng bạc
Lá vàng rơi tá lả ngoài xa
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

鎮南關 
李陳舊事杳難尋,
三百年來直到今。
兩國平分孤壘面,
一關雄鎮萬山心。
地偏每為傅聞誤,
天近纔知降澤深。
帝闕回頭碧雲表,
鈞韶耳畔有餘音。

Trấn Nam Quan 
Lý Trần cựu sự diểu nan tầm,
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).
Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm. 

Trấn Nam Quan
Chuyện cũ Lý Trần sao biết được
Ba trăm năm đến mãi hôm nay
Lẻ loi thành lũy hai non nước
Trùm núi hùng tâm một ải này
Chuyện nhảm thường nghe từ đất Bắc
Ân sâu thấm mãi ở trời đây
Quay đầu cửa Khuyết cho mây biếc
Còn mãi âm vang khúc nhạc này
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

夾城馬伏波廟 
六十老人筋力衰,
據鞍被甲疾如飛。
殿庭只慱君王笑,
鄉里寧知兄弟悲。
銅柱僅能欺越女,
珠車畢竟累家兒。
姓名合上雲臺畫,
猶向南中索歲時。 

Giáp Thành Mã Phục Ba miếu 
Lục thập lão nhân cân lực suy,
Cứ an bị giáp tật như phi.
Ðiện đình chỉ bác quân vương tiếu,
Hương lý ninh tri huynh đệ bi.
Ðồng trụ cận năng khi Việt nữ,
Châu xa tất cánh lụy gia nhi.
Tính danh hợp thướng Vân Đài hoạ,
Do hướng Nam trung sách tuế thì

Sáu mươi lực kém gân thì nhão 
Ông còn giáp mã chạy long nhong
Trước điện vua khen hăng tiết vịt
Quê nhà thân thích nhức đầu đông
Xe châu để lụy bầy con cháu
Việt nữ ra oai một trụ đồng
Tên tuổi đài mây không một chữ
Trời Nam hương khói mắc cười không? 
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu
------------------

題大灘馬伏波廟 
鑿通嶺道定炎墟,
蓋世功名在史書。
向老大年矜钁鑠,
除衣食外盡贏餘。
大灘風浪留前烈,
古廟松杉隔故閭。
日暮城西荊棘下,
霪潭遺梅更何如。 

Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu 
Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư,
Cái thế công danh tại sử thư.
Hướng lão đại niên căng quắc thước,
Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư.
Ðại Than phong lãng lưu tiền liệt,
Cổ miếu tùng sam cách cố lư.
Nhật mộ thành Tây kinh cức hạ,
Dâm Ðàm di hối cánh hà như. 
Ðục xuyên qua đường Ngũ lĩnh, bình định cõi Nam 
Công danh trùm đời ghi trên sử sách 
Già lớn tuổi rồi còn khoe quắc thước 
Ngoài cơm áo ra, mọi thứ là thừa (4) 
Sóng gió Ðại Than còn để dấu công oanh liệt thời trước 
Cây tùng, cây sam ở ngôi miếu cổ xa cách quê nhà 
Chiều tà dưới đám gai gọc phía tây thành (5) 
Nỗi hận ở Dâm Ðàm (6), sau cùng ra làm sao?
Phá đường xẻ núi đánh phương nam
Đề miếu Mã Phục Ba ở Đại Than
Mở đường Ngũ Lĩnh đánh Viêm bang,
Công trạng ghi trong cuốn sách vàng.
Già lão khoe khoang còn có sức,
Áo cơm no đủ há cầu sang!
Ghềnh cao sóng dữ nêu oanh liệt,
Miếu cũ thông xưa cách cố hương.
Chiều dưới chân thành gai góc nọ,
Dâm Đàm hối cũ nhớ hay chăng ? 
(Người dịch: Nguyễn Thạch Giang)


趙武帝故境 
暴楚強秦相繼誅
雍容揖遜霸南陬
自娛儘可稱皇帝
樂善還能屈豎儒
百尺高臺傾嶺表
千年古墓沒番禺
可憐世代相更迭
不及蠻夷一老夫 
Triệu Vũ Đế cố cảnh 
Bạo Sở cường Tần tương kế tru,
Ung dung ấp tốn bá nam tu.
Tự ngu tẫn khả xưng hoàng đế,
Lạc thiện hoàn năng khuất thụ nhu.
Bách xích cao đài khuynh Lĩnh Biểu,
Thiên niên cổ mộ một Phiên Ngu.
Khả liên thế đại tương canh điệt,
Bất cập man di nhất lão phu
Đất cũ của Triệu Vũ Đế 
Tần Sở hung hăng đứt bóng rồi
Ung dung Nam Việt làm vua chơi
Không suy nhảy tót ngôi hoàng đế
Ưa thiện sợ gì lão dẻo môi 
Lĩnh Biễu đài cao đâu kém cạnh
Phiên Ngung mộ cũ khuất đâu rồi
Ngậm ngùi víu lại vầng mây chó
Chỉ lão già Nam lặng lẽ cười
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

Triệu Vũ Đế: tức Triệu Đà. Thời Tần, Đà làm quan úy ở Nam Hải. Khi Tần mất, Đà chiếm Quế Lâm, Tượng quận, tự xưng Nam Việt Vũ Vương. Hán Cao Tổ lên ngôi, sai Lục Giả xuống phong Đà làm Nam Việt Vương. Sau Đà chiếm mấy ấp ở Trường Sa, tự xưng Nam Việt Vũ Đế. Thời Hán Văn Đế, lại sai Lục Giả xuống dụ. Đà dâng thư tạ tội, bỏ hiệu đế, giữ chức phiên thần.


耒陽杜少陵墓其一 
天古文章天古師
平生佩服未常離
耒陽松柏不知處
秋浦魚龍有所思
異代相憐空灑淚
一窮至此豈工詩
掉頭舊症醫痊未
地下無令鬼輩嗤 

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1 
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư),
Bình sinh bội phục vị thường ly.
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ,
Thu phố ngư long hữu sở ti (tư).
Dị đại tương liên không sái lệ,
Nhất cùng chí thử khởi công thi ?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị ?
Địa hạ vô linh quỉ bối xi. 

Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương kỳ 1
Thơ ngàn năm đọc ngàn năm học
Ngưỡng mộ để lòng tự bấy nay
Đâu biết Lỗi Dương tùng bách cũ
Nhớ nhung rồng cá bến thu này
Chạnh lòng người trước tươm giòng lệ
Bạc phận văn chương khổ một đời
Tật lắc đầu còn hay đã giảm
Suối vàng liệu quỷ có trêu ngươi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu

耒陽杜少陵墓其二 
每讀儒冠多誤身
天年一哭杜陵人
文章光燄成何用
男女呻吟不可聞
共羨詩名師百世
獨悲異域寄孤墳
扁舟江上多秋思
悵望耒陽日暮雲 

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2 
Mỗi độc nho quan đa ngộ thân
Thiên niên nhất khốc Ðỗ Lăng nhân
Văn chương quang diễm thành hà dụng
Nam nữ thân ngâm bất khả văn
Cộng tiển thi danh sư bách thế
Ðộc bi dị vực ký cô phần
Biên chu giang thượng đa thu tứ
Trướng vọng Lỗi Dương nhật mộ vân. 

Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương kỳ 2
Mỗi lần đọc lại lệ buồn rơi
Mũ áo nhà nho tủi phận người
Thi phú sáng ngời cho túi rổng
Vợ con kêu đói nát lòng thôi
Ai khen tài bộ người muôn thuở
Ta xót bia tàn nấm mộ côi
Chiều Lỗi Dương buồn mây đỏ ráng 
Nhớ thu sóng bủa chiếc thuyền trôi
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu


黃鶴樓 
何處神仙經幾時,
猶留仙跡此江湄?
今來古往爐生夢,
鶴去樓空崔顥詩。
檻外煙波終渺渺,
眼中草樹尚依依。
衷情無限朋誰訴,
明月清風也不知。

Hoàng Hạc lâu 
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì
Do lưu tiên tích thử giang mi ?
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu
Nhãn trung thảo thụ thượng y y
Trung tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri 


Thần tiên khuất bóng lâu rồi
Dấu xưa phai nhạt ngậm ngùi bến sông
Lư sinh giấc mộng còn mong 
Câu thơ Thôi Hiệu lầu không hạc về
Chập chờn khói sóng lạnh tê
Hàng cây nắng biếc vẫn về long lanh
Lòng đây mang một tấm tình
Làm sao gió mát trăng thanh thấu giùm
Quán Tâm Nguyễn Hiền Nhu


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét