Người theo dõi

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

PHÍA BÊN KIA SÔNG - CHƯƠNG VIII-

CHƯƠNG VIII :
TÍNH TOAN TỨ PHÍA ĐỂ COI CHƠI.

Hạ sơn. Xuống núi phen này.
Lưng vốn sạch bách. Chưa đầy túi khôn.
Trong lòng vẫn cứ bôn chôn
Mừng, lo hai nỗi, nỗi hơn nỗi nào.

               Ngày 30.4.1988. Thìn về.
            Và hôm nay 2.9.1988. Cả cánh đồng, lúa đã lột mình, đang trở màu xanh. Cả trại như thường lệ có biến đổi về nhân số. Kẻ ra, người vào. Trong những người rời khỏi nơi này. Có tôi. Sự tự do một thời quen biết, nhưng hiểu và sử dụng nó cho rạch ròi thì chưa. Bây giờ sau một thời gian dài mất mát và tôi đã chạm tới nó rồi. Niềm vui và nỗi lo tràn về. Nhưng tôi còn nhiều việc, rất nhiều việc cuối cùng ở nơi đây, phải lo cho xong trong một thời gian cực ngắn. Hai mươi bốn giờ.


           Kính thưa trung tá đại diện sở Công An
           Kính thưa đại diện Toà Án Nhân dân
           Kính thưa ban lãnh đạo trại và các cán bộ
           Kính thưa anh chị em
         ”Tôi Nguyễn văn Hiền, sinh năm 1947. Can tội âm mưu lật đổ chính quiyền cách mạng. Tôi cải tạo tính đến ngày hôm nay là chín năm, một tháng. Đó quả là một thời gian quá dài trong một đời người, nhưng cũng vừa đủ để tôi trở thành một con người biết tận tường mọi lẽ đúng sai trong cuộc sống.
            Trong những năm đầu cải tạo, tôi nghiêm túc chấp hành nội quy, điều lệnh của trại, sống hoà hoãn với mới mọi người, luôn luôn học tập và làm hoàn thành mọi chỉ tiêu được giao. Những hành động đó là do chính bản chất của tôi, nhưng còn có một hàm ý khác. Tôi chuẩn bị tư thế của một người lãnh đạo, hầu thực hiện cái ý định của mình. Nhưng càng về lâu về dài tôi chợt nhận ra cái hiện thực mà tôi đang sống là không thể đảo ngược. Ý muốn này không riêng của một cá nhân, một tập thể, một đảng mà là một ý muốn của cả một đất nước đang ra sức xây dựng hoà bình, ấm no và hạnh phúc, trong đó có tôi. Nếu manh động làm ngược lại trước nhất là tự phản bội bản thân mình, lương tâm mình. Trong các kiểu cách phản bội. Đây chính là một kiểu phản bội đáng lên án nhất. Những ngày tháng cuối cùng ở đây. Khi đã nhận ra điều đó. Thì cũng với những việc làm ấy, thái độ ấy. Nhưng được thể hiện bằng một hình thức và suy nghĩ có trách nhiệm hơn. Việc thể hiện trách nhiệm một cách tích cực đã có được hiệu quả. Để giờ đây đứng truớc mọi người, xin cho tôi được nói lời cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi thấu hiểu ra những lẽ đúng, sai trong cuộc sống.
            Chân thành cảm ơn tất cả để về với gia đình. Xin chúc những anh chị em còn ở lại có đầy đủ nghị lực và sức khỏe để phấn đấu. Xin Cám Ơn. “ 

            Đọc xong lời phát biểu trong buổi lễ trả tự do không có nghĩa là đã hết với tôi. Tôi phải trả lời phỏng vấn của một số phóng viên báo đài. Rồi sau đó trong khi những người được trả tự do đang tíu tít ký nhận lệnh tha. Tôi phải bàn giao toàn bộ công việc cho Hữu. Trong đó có chương trình làm lễ khánh thành nhà hội trường và “Đài Tưởng Niệm những người đã chết vì bom B52 năm 1969” vừa mới xây dựng xong. Cuối cùng ông trưởng trại đến với tôi tươi cười:
           - Bộ anh không tính về sao? Đây lệnh tha và chi phí về đường của anh. Tôi mong anh trở lại đây với tư cách là khách mời, chứ không như kiểu cũ. Anh nhắm làm được không ?
            - Thưa ông trưởng trại cứ yên tâm. Bao nhiêu đây cũng quá đủ. Tôi không còn thời gian để trở lại theo kiểu đó đâu.
Ông bắt tay tôi :
            - Mày là một thằng có khả năng. Giỏi nữa là khác. Nhưng cuộc sống bên ngoài hiện giờ cái cũ và cái mới đan xen, đang tranh chấp nhau. Nên mọi việc rất phức tạp. Cố gắng cẩn thận. Mày nói đúng đấy. Mày không còn thời gian để sai lầm. Thôi chúc may mắn. Khi nào có dịp đi ngang ghé thăm tao.
           - Cám ơn chú Mười.
           Bây giờ thì ông nói với tôi bằng chính cái tuổi tác của chúng tôi và bằng cả tấm chân tình. Tôi hiểu. Không riêng gì tôi, mà bất cứ ai ra khỏi nơi đây rồi trở lại thì đó mới chính là nỗi buồn, nỗi buồn lớn nhất của ông. Nhiều người nổi gai ốc khi nhắc tới ông. Nhưng thực ra ông ấy không phải là người đáng sợ, dù có đôi lúc ông cũng khá cực đoan. Nhưng ông tiếp cận và hòa nhập vào công việc rất nhanh bỏ lại cái hạn chế về kiến thức ở sau lưng. Tôi đã nghe kể rất nhiều về ông. Xấu có, tốt có. Nhưng tôi không có cơ sở để phê phán, bởi vì những lời kể ấy chỉ là lời kể. Nhưng trước mắt tôi. Ông hoàn thành nhiệm vụ đối với tôi.
            Ngọc đến rước tôi về. Hai anh em nhìn nhau. Nỗi vui mừng đã biến thành nước mắt. Rơm rớm thôi, nhưng cũng là nước mắt để đánh dấu cho cuộc đời nổi trôi, tù tội đã qua đi.
           Tôi móc trong túi lấy cái phong bì có đựng lệnh tha và mở ra. Đọc tới phần tội danh, tôi thật sự tái mặt “Vẽ bản đồ quân sự nhằm mục đích lật đổ chính quyền cách mạng”. Thì ra là vậy. Tôi nhớ lại khoảng thời gian ở khám lớn và một cú vẽ bản đồ. Tôi thật sự không hiểu nhưng cuối cùng tôi cũng hiểu. Tôi phạm tội sau khi ở tù (?) Thôi việc gì thì cũng qua rồi. Phải có một cái tội gì chứ? Nhà nước đâu có bắt oan ai (?). Tôi nhìn lên bầu trời, dù sao thì vẫn còn xanh, mênh mông và lộng gió. Và dưới cái mênh mông khoáng đạt của đất trời, trong cái không khí củ tự do, tôi chợt hiểu. Tôi và những người đã rời khỏi và còn ở lại trong ấy, kể cả ông Mười Can và các cán bộ của ông và cả Ngô Đình Kự. Tất cả đã lầm, một sự lầm lẫn tai hai. Chúng tôi, những người dân Việt đã trãi qua một thời bắn nhau chí mạng vì những suy nghĩ trời ơi, để bây giờ đối diện nhau: Quốc Gia – Cộng Sản; Nam Kỳ - Bắc Kỳ; kẻ thắng – người thua … cùng thở chung một bầu không khí, cùng nhau hết sức đem một chút cận nhân tin còn sót lại để cư xử cùng nhau, nhưng liệu thành quả của nó là bao, khi mà cái lệnh tha của tôi ghi rành rành một điều trái khoáy, khi mà bài phát biểu của tôi chứa đầy ẩn ý. Trời đất vẫn cứ thế, vẫn xanh, vẫn mênh mông. Thậm chí xanh hơn, mênh mông hơn là khác. Tôi hít thật đầy buồng phổi cái không khí mới và thở mạnh ra như để đẩy hết những bức bối trong lòng. Hít vào hơi thở thứ hai. Rất mới, nhưng phía trước là nghìn trùng khó khăn. Tôi háo hức đón nhận. Cái khó khăn đầu tiên xuất hiện khi chiếc vỏ vọt đã ra tới sông Cái Lớn, bên kia sông là nhà tôi. Quê hương nhỏ xíu của tôi. Cái ngôi nhà đã hơn mười mấy năm xa vắng. Bên này sông, tôi nhìn về hướng Xẻo Kè. Tôi muốn kêu Ngọc quay về hướng đó bằng một ước muốn đến nôn nao, nhưng không hiểu sao rồi lại thôi, để cho sự kềm chế dằn vật cõi lòng. Giòng sông vẫn vậy, cái cảm giác ngăn đôi của ngày chiến tranh gần như không còn nữa. Nhưng lòng tôi thì nửa ở bên này, nửa ở bên kia. Gió trên giòng sông lồng lộng thổi, mang theo cái khoáng đạt của đất trời như để thông báo cho tôi biết rằng cái tự do nó mênh mông đến thế và những khó khăn cũng mênh mông đến thế. Khi vào đến đầu vàm rạch Cái Mới Lớn, những hình ảnh của ngày thơ ấu hiện ra rõ mồn một. Rặng lá dừa nước xanh thẫm hai bên bờ đã bao nhiêu lớp đổi thay. Không hiểu sao, tôi đưa mắt tìm những bờ tường, những ngôi miếu cũ, nơi mà những nét chữ Việt Nam Độc Lập đã từng cuốn hút tâm hồn non nớt của tôi. Nhưng tất cả đã biến mất, thời gian đã làm bao nhiêu thứ đổi thay. Tôi nữa, từ một thằng bé con nghịch ngợm hôm nào, bây giờ đang bước qua tuổi bốn mươi. Ở trong tôi chỉ có một điều không thay đổi. Hai bàn tay trống không chẳng có một thứ gì và tâm hồn tôi thì vẫn lơ đễnh với bao nhiêu đổi thay của thời cuộc và của cả đời mình. Ơ này. Tại sao tôi lại đi quá xa vào ký ức như thế (?)
         Những người quen hỏi tôi, tôi chỉ gật đầu chào lại. Ít kẻ tôi nhớ, nhưng lắm người tôi quên. Cả nhà, mẹ tôi, rồi em út, có cháu mà chẳng có con, xúm nhau ùa ra mừng rỡ. Tôi bước vào nhà, nhìn lên bàn thờ. Lòng tôi như thắt lại. Ông bà cố, ông bà nội, ba tôi. Những tấm di ảnh ấy như đang nở ra những nụ cười. Ngôi nhà như dày đặc lại. Mẹ tôi lên tiếng trước tiên :
          - Vợ con nó đi Sa Đéc thăm anh chị sui chưa về. Thôi đi tắm rửa và lột hết mấy bộ quần áo ấy đi. Lấy bộ đồ của ba con mà mặc, rồi ra sau thăm ba con.
         Tôi đi tắm. Những gàu nước mát rượi dưới cầu ao làm tôi sảng khoái. Ôi những gàu nước mà suốt một thời trẻ thơ tôi e sợ, không biết là tôi sợ nước hay sợ những nhát sơ dừa kỳ cọ đến tím tái cả thịt da mà mẹ tôi, rồi bà nội ban phát. Bây giờ cũng những gàu nước ấy, vừa làm cho tôi gần gủi lại với tuổi thơ và cũng làm cho tôi chợt nhận ra là đã lâu lắm rồi tôi xa khỏi bóng mát của ba tôi và những cái nhìn nghiêm khắc yêu thương của mẹ. Ôi hơn bốn mươi rồi còn gì. Lau khô người, rồi thay quần áo. Bộ quần áo của ba tôi. Hơi ấm của ba tôi như còn sót lại, hơi ấm mà tôi cảm nhận được một lần duy nhất trong đời, khi tôi tựa đầu vào lưng ba tôi, ngày mà ông nhót cả ruột gan đưa tôi vào cuộc đời vô định. Khi vào đốt nhang trình diện tổ tiên, ông bà và ba tôi. Tôi muốn nói một điều gì đó. Nhưng miệng mồm như cứng lại. Cảm giác vui mừng, cảm giác có lỗi và hàng trăm thứ khác bó chặt lấy miệng tôi. Và một giòng nước mắt nuốt ngược vào lòng.
           Tôi ra sau vườn. Ba tôi nằm đó, dưới nắm đất lạnh lẻo kia, nắng gió tháng tám làm run run mấy cành huệ đỏ. ”Con đã về. Ba ơi, con đã về và không đi đâu nữa”. Câu nói chỉ vang lên trong đầu chớ không thể bật thành lời. Nhưng tôi biết, ba tôi nghe thấy. Ông chọn nơi đây làm nơi yên nghĩ cho mình với một nỗi khát khao là luôn luôn nhìn thấy những đứa con của ông trong tầm mắt.
           Tôi đứng tần ngần trước mộ ba tôi, rồi cúi xuống tấm bia. Sáu mươi ba tuổi. Ba tôi đã dành hơn hai phần ba cuộc đời mình cho con cái mà không có một phút nghỉ ngơi. Những bước chân của ông đã đi qua biết bao chông gai của cuộc sống. Mang trong trái tim mình những yêu thương cháy bỏng cho mẹ tôi và anh em chúng tôi. Ông đi trong cuộc đời bằng một tấm lòng hiền hòa với ước mong duy nhất là tạo cho con cái mình những ngày tháng bình yên. Nhưng tôi, sau bao nhiêu năm giông bão đã trở về đây với bao nhiêu là thương tích trong lòng và đôi bàn tay khẳng khiu, trắng bóc. Ngày xưa khi ba tôi ở độ tuổi của tôi bây giờ, ba tôi nhìn con cái mình lớn lên. Nhưng giờ này thì tôi như thế đó. Ba tôi hiểu tôi và tôi biết ba tôi buồn biết bao nhiêu. Nhớ những lời ba tôi nói khi tôi về thăm nhà rồi bị bắt. Nhớ lần tôi áp mặt vào lưng ba tôi, lần duy nhất mà tôi cảm nhận được. Trong cuộc đời của một con người, ai mà không từng đón nhận những hơi ấm của mẹ cha tỏa ra trong vòng tay bế bồng, cõng địu. Nhưng có bao nhiêu người con cảm nhận được những hơi ấm thiêng liêng này, tôi may mắn có được một lần, để rồi giờ đây Trên con đường muôn trùng khó khăn mà tôi trải qua thì có bao lần tôi nhớ. Vì cái tính hiếu hòa mà tôi thừa hưởng ở ba tôi thì chỉ là một phần rất nhỏ so với những gì mà ba tôi có. Hơn nữa mục đích sống của ba tôi đơn giản hơn tôi nhiều. Ông ấy chỉ biết làm hết sức mình để sao cho con cái nên người. Tôi có thể đếm hết những giọt mồ hôi đổ ra, đếm những vết sẹo hằn sâu trên người, đếm những đêm trăn trở với nợ áo cơm của ba tôi. Nhưng tôi không thể nào đếm hết tấm lòng yêu thương mà ba tôi dành cho anh em chúng tôi. Còn tôi thì chưa phải vậy. Tôi lu bu.
          Tôi nghe tim mình đập mạnh và đưa tay lên ngực, bàn tay tôi không chạm vào những nhịp đập của trái tim mà chạm vào cây viết. Một giọt nước mắt chợt ứa ra. Cây viết. Cây viết mà ba tôi muốn tôi phải có. Ba tôi muốn tôi cầm cây viết để đi hết cuộc đời chứ không phải cầm cái bắp cày, tôi nghe lời ba tôi chỉ duy nhất điều này, cây viết là vật bất ly thân, dù có rất nhiều lúc tôi chẳng viết gì. Và ông đã giành cầm lấy cái bắp cày, rồi chiến tranh ào tới, ông phải cầm rất nhiều loại dụng cụ nhọc nhằn khác để cho bàn tay bé mọn của tôi và các em tôi được cầm cây viết. Ba ơi. Cây viết nhẹ tênh và cuộc đời con cũng thế. Đã một đôi lần con rời nó và cầm cây súng. Một thứ vô tích sự và chỉ đi gieo rắc kinh hoàng. Thế mà người ta điên cuồng đi cầm lấy lấy nó. Đã mấy lần suýt bay đi, cây viết ấy và cuộc đời con.
          Tôi rút cây viết và nhìn, và nhớ, và ân hận, và nhiều thứ nữa. Nhưng chưa bao giờ là một nụ cười dành cho ba tôi. Cây viết của tôi không viết nên được một điều gì. Không giúp gì được cho mình huống hồ gì giúp cho ai. May mắn thay, cho đến giờ này nó chưa biến thành “đao bút” . Tôi ngồi tựa lưng vào mộ ba tôi, rút ra cây viết…
      Ba đi qua những nắng mưa,
Ba đi ngoài những lọc lừa nhân gian.
      Ba che chắn những gian nan,
Ba mang từng chút bình an về nhà.
      Đường danh lợi bỏ nhạt nhòa.
Sông nhân cách, biển hiếu hòa ba bơi.
      Để con biết cách làm người.
Để con biết sống giữa đời khó khăn.
      Ba vui trong nỗi nhọc nhằn,
Và thầm lặng giữa muôn trùng xót xa.
      Rồi đường thơ dại con qua,
Vẫn chưa đem đến cho ba nụ cười.
      Khi con hiểu được lẽ đời,
Lối  sinh  tử  khiến  ba  rời  xa  con.
      Nỗi lòng theo một nén hương,
Con loay hoay mãi trên đường. Lênh đênh.
Phải ngần ấy năm loi choi lóc chóc giữa lằn ranh sống chết và tội tù con mới viết đôi giòng cho ba, khi ba không còn nữa.
           Viết xong mấy giòng cho ba, tôi đứng dậy toan bước vào nhà thì một bụi bông trang hiện ra trước mắt. Bụi bông trang không xanh tốt lắm, nhưng những bông hoa đỏ thắm dưới nắng chiều, những chùm hoa lắt lay trong gió như những cái chung nhỏ đựng đầy cảm giác diệu kỳ tung tẩy vào tôi. Tôi bước tới nâng niu từng chùm hoa mong manh ấy, càng lúc tôi càng có cảm giác mình tan loảng vào trong nắng, trong khung trời tháng tám lồng lộng mây xanh. và tôi để cho những xúc cảm ấy dẫn dắt mình đi vào một cõi nào đó nhẹ tênh, nhẹ tênh… Những phiền toái biến đi, biến đi… Tôi vẫn cứ nhẹ tênh, nhẹ tênh… cho đến khi nghe tiếng gọi của mẹ tôi.
            Tôi vào nhà, cả nhà đông nghẹt cả người. Những phiền toái trở về. Thôi thì bao nhiêu là lời thăm hỏi. Chân tình cũng có, lác đác vài câu móc họng cũng có. Tôi chỉ cười. Tôi không xem những ngày tội tù của tôi là một thiệt thòi, mất mát. Mà tận trong thâm tâm, tôi xem nó như là một thành tích cần phải được trân trọng. Vì thế, trong lòng tôi bừng bừng lên một thứ cảm giác tự tôn, kiêu ngạo (?). Cái thứ này nó nằm yên ắng khá lâu. Bổng dưng trở lại không biết tự bao giờ. Tôi phải cố gắng hết sức để kềm chế. Ôi khổ sở biết bao. Bao nhiêu lần trong cuộc đời tôi phải tự kềm chế lại mình. Ôi những giòng chữ vừa mới viết cho ba tôi và còn chưa ráo mực.
            Khi mọi người đã giảm bớt, tôi đi tìm cái giá sách mà vợ tôi nói đã chuyển từ Rạch Giá về đây. Cái giá sách nằm đó trống trơn chứa đựng bên trong đầy ắp một nỗi buồn. Tôi hỏi mẹ tôi, thì mẹ tôi bảo là Ngọc xem xong cuốn nào thì đem đi cầu cuốn đó. Ai nói nó, nó bảo xem rồi thì để làm chi. Tôi giận no người, nhưng chẳng biết nói làm sao? Trong sáu anh em, chỉ có một mình tôi lạc loài đi vào sách vở như con mọt, chắt chiu từng cuốn, gậm nhấm từng tờ. Cái ước vọng lơ mơ của tôi gởi theo và được làm nên từ những trang sách ấy chỉ là một con số không. Và vì thế, đến giờ đây, một cái bìa cũng chẳng còn. Nhưng thôi, nói gì thì nói cũng đã trống không.
           Buổi cơm chiều dọn lên, mẹ tôi làm cho tôi những món ăn ngon nhất. Tất nhiên, không thiếu ui cá rô kho muối. Nhưng có một cái gì đó làm cho tôi nuốt không vô, dù rằng cá rô tháng tám rất ngon. Nhưng sợ mẹ buồn tôi cố gắng ngốn hết ba chén cơm, rồi đi lòng vòng chung quanh miếng vườn. Tất cả mọi thứ cho tôi biết là mẹ tôi chỉ ở có một mình. Vợ chồng cô em thứ ba ở bên cạnh và buổi tối thì hai đứa con nhỏ qua ngủ với ngoại. Tôi hiểu ra nỗi hiu quạnh mà mẹ tôi phải chịu đựng khi mà ba tôi mất đi. Các em tôi thì phải bương chải với chuyện áo cơm.
            Buổi tối sau khi cùng thằng em rể xuống trình diện công an khu vực. Rồi chúng tôi kéo nhau ra quán café. Gần như cả xóm tụ tập về đây. Tất cả mọi người đang tụ tập nhau xem ti vi phát hình buổi lễ trả tự do, mọi người nghe tôi đọc bài phát biểu, nghe phóng viên báo đài phỏng vấn. Không ai thấy tôi bước vào. Đến khi chấm dứt chương trình. Một người rồi hai người rồi cả quán cùng ồ lên kinh ngạc. Phút chốc tôi trở thành ngôi sao điện ảnh (?!). Mọi người mặc sức bàn tán. Cũng chẳng ai xa lạ toàn là anh em với nhau. Có thể gọi tôi gần như là người đầu tiên ở cái xóm này lên tivi. Ôi chẳng bỏ công ngồi gỡ lịch? Tôi cũng không biết cảm giác của mình ra sao, nó có một cái gì đó nhộn nhạo trong lòng. Một thứ cảm giác không nhận định được. Thế rồi phải trả lời người này, trả lời người kia, về đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất. Nhưng có một người vẫn im lặng nhìn tôi. Bác Chín Phước.
          Tôi rời quán café lúc chín giờ. Bác Chín kêu tôi về nhà, tự tay ông châm trà mời tôi. Khi uống xong một hớp trà, ông nói :
            - Mày gặp ông Mười Can, mày mới về. Nếu ai khác là mày tiêu. Nội cái kiểu phát biểu của mày tao nghe cũng thấy chỏi. Nhưng mà hay. Chú Tư sanh mày không uổng. Bây giờ tao hỏi mày. Tao nè. Hai thời kỳ kháng chiến, thời nào cũng có mặt. Vào tù ra khám mấy lần. Nhưng bây giờ thì tao chán tới tận cỗ. Thế thì mày, mày nghĩ sao mà mày phát biểu như vậy?
             - Thưa bác chín. Cái chán của bác thì đúng, những suy nghĩ của cháu cũng không sai. Bác đừng nghĩ cháu ba phải. Vấn đề ở chỗ này. Cái bề dày khốn khó của bác thì gần gấp đôi của cháu. Hai nỗi khốn khó khác nhau. Nhưng những gì đáp trả lại cho bác lại không tương xứng. Đúng thôi. Sau một cuộc chiến tranh dài ngoằng, những đổ vỡ mất mát không phải một ngày một bữa mà hàn gắn được, chưa kể những khó khăn phát sinh thêm. Những năng lực mới chưa có kịp, trong khi những năng lực cũ đã không phù hợp với yêu cầu mới. Trong điều kiện như thế, người bị tác động nhiều nhất là những người như bác, sau đó những người như cháu. Tất nhiên hai nỗi khốn khó khác nhau thì kiểu cách bị tác động cũng khác nhau. Còn bọn cơ hội thì thời nào cũng có. Nhận diện được họ không phải dễ. Loại bỏ họ càng khó hơn, đã vậy họ khoác vào một cái áo may thật khéo. Nhưng bác chín yên tâm cái áo nào rồi cũng mục, cũng rách. Họ sẽ thòi ra con người thật và sẽ bị thải loại thôi. Ngoài ra, sự tác động của cuộc sống nó cũng đẩy một số ít ra ngoài lề. Chính hai thành phần này làm cho chúng ta xốn mắt. Những cái nhốn nháo ấy là một thực tế phải chấp nhận. Nhưng bác chín yên tâm, khả năng tồn tại của nó không cao. Bác thử nhìn lại xem, ở cái xóm bé tẹo của mình đây, những con người nhảy qua nhảy lại, rốt cuộc rồi té xuống mương hết ráo, hầu hết đều ngộp nước, một vài tay lóp ngóp bò lên được thì cũng chẳng ra cơm cháo gì? Chỉ có những người biết mình phải sống như thế nào cho hợp lẽ thì còn tồn tại, dù cuộc sống của họ có khó khăn đấy, nhưng rồi sẽ qua thôi. Cuộc sống chỉ dung nạp được những cái gì phù hợp với nó. Cũng như làm ruộng vậy, đủ thứ cỏ mọc chen với lúa, nhưng chỉ có lúa mới vào bồ. Thưa bác, theo cháu thì đó là những lẽ đúng sai trong cuộc sống.
          Trong ánh sáng chập choạng của ngọn đèn dầu, tôi thấy ông lừ mắt nhìn tôi :
           - Mày bênh mấy thằng cha Cộng Sản coi bộ có bài bản dữ mậy?
         - Cháu mà nịnh đến thế liệu bác có chịu ngó tới cháu không? Nói gì đến chuyện châm trà cho uống. Cháu không bênh mấy ổng đâu? Tự thân của mấy ổng phải biết mình tồn tại như thế nào? òn bản thân cháu thì phải biết mình cần phải làm gì để tồn tại mà hợp với lẽ đời. Có tín hiệu rồi mà tại bác chưa nhận ra sao?
            Ông nhìn tôi, đôi mắt hấp háy như cười dưới ánh đèn dầu:
           - Tao hiểu. Mày muốn nói nghị quyết Đại Hội VI?
            - Không phải. Nghị quyết chỉ có nhiệm vụ công bố và chấp nhận những tín hiệu đó.
          Ông ngồi trầm ngâm một lát rồi nói :
           - Mày khá lắm. Mày nhận ra được thì mày chấp nhận được chứ gì?
           - Thưa bác. Cái vấn đề của cháu không phải là chấp nhận hay không. Mà là chấp nhận bằng một thái độ nào. Chấp nhận vì sợ là một chuyện khác. Chấp nhận bằng một thái độ tích cực và phù hợp với vị trí của mình lại là một điều khác nữa. Bác nhớ có lần bác cự nự cháu về cái quan niệm là “mọi việc rồi sẽ  qua“. Bao giờ cháu cũng vậy. Mọi việc rồi sẽ qua. Hãy đón chờ những điều sắp tới bằng một thái độ đúng đắn. Việc này khó đây. Thưa bác. Nhưng trước mắt là hãy sống bằng một cách sống đúng đắn.
Đôi mắt ông hấp háy như cười:
         - Mày khá lắm con ạ. Mày nhận định đúng rồi đấy. Thế thì mày chấp nhận bằng thái độ nào?
           - Thứ hai. Thưa bác.
           - Tại sao ?
          - Thưa bác. Trong quan hệ xã hội, luôn luôn nảy sinh ra những yêu cầu mới và cũng từ đó sẽ thải loại những điều không còn phù hợp. Do đó, thái độ của một con người là phải luôn luôn cập nhật mới và ứng xử mới. Nói thế không nghĩa là chúng ta quên đi những gì đã từng xảy ra. Cũng như xây một ngôi nhà. Giá trị của những viên gạch xây móng và những viên gạch bên trên thượng tầng kiến trúc đều có giá trị như nhau và cùng mang tính hỗ tương. Nếu không như thế thì không là một ngôi nhà.
          - Tốt. Cứ thế mà sống đi như mày đã nói. Nhưng khó đấy. Tính khí của mày ương bướng, nên cần phải thận trọng. Chú tư cố gắng chờ mày về, nhưng có lẽ là thấy không kịp, nên nhờ tao khuyên mày. Nhưng không ngờ là mày lại nói ra trước những điều tao muốn nói. Tao thua ba mày xa, khi đã biết mình không thể, ba mày đầu tư hết cho các con. Trong khi tao thì cố đem cái sức tàn mà ráng. Rốt cuộc chẳng ra cơm cháu gì mà còn bị những cắp mắt dò xét chiếu vào. Con cái tao thì tan đàn xẻ nghé từ cách sống, cách chết đến tấm lòng dành cho nhau.
          - Nhưng bác thử nghĩ xem anh em tụi cháu dính dấp quá nhiều vào chính quyền cũ, nhắm làm được gì hả bác. Chỉ cố làm sao cho hương hồn ba cháu được yên vui.
           - Cái này mày nói sai rồi, nếu như đó không phải là lời an ủi tao. Cái quan trọng không phải là mày làm ông Hoành, ông Trắm gì? Mà là anh em tụi bây sống ra làm sao? Muốn làm gì thì làm cháu ạ. Nhưng trước tiên hãy là người cái đã. Có thể là mày chưa nên người đấy. Nhưng không sao? Còn một phút nữa chết mà nên người cũng chưa muộn. Có những thằng chết rả thây thi từ đời tám hoánh mà chưa mang được tiếng người nữa kia.
             Bổng ông trở giọng:
            - Hiền này. Mày không còn nhỏ nữa. Nên tao hỏi mày, mày biết gì và nghĩ gì về việc người ta gọi tao là “ ông già 72 ”.
             Tôi không ngờ ông hỏi tôi về việc này:
           - Về việc này, lúc xảy ra cháu còn quá nhỏ. Nhưng khi vào Cảnh Sát, trong lúc vô tình, cháu được đọc lại hồ sơ của bác về vụ bác khai với Công An[i] về bảy mươi hai cán bộ Việt cộng nằm vùng. Quả tình khi đọc xong thì cháu xanh cả máu mặt. Nhưng sau đó, cháu mới nhận ra là những lời khai của bác thì cũng như không. Những người này có thật, những hoạt động của họ cũng có thật, tổ chức của họ cũng có thật luôn. Nhưng tìm họ ở đâu thì họa hoằn có Tôn Ngộ Không mới tìm được. Bác khai mà cũng như không khai. Tất nhiên là lời khai này không gạt được ai, nếu như không có chú Sáu Hưng lèo lái.
          Ông im lặng nhìn tôi, hút thuốc liên tục, một lát sau ông hỏi tiếp:
          - Mày có biết tại sao lời khai ấy lọt ra ngoài.
         - Việc này phải rất lâu sau khi đọc hồ sơ đó, cháu mới biết. Chú Sáu Hưng tung ra khi bác còn bị giam, với hai mục đích; Thứ nhất, để bác khỏi phải vướng vào luật số 10/59, với lý do bác thành thật khai báo. Thứ hai, để bác không còn cơ hội hoạt động nữa. Còn cái cách thức tung ra như thế nào để có hiệu quả thì chỉ có chú Sáu mới biết.
          - Sáu Hưng nó cứu tao mà nó hại tao. Mày còn biết gì nữa?
          - Tới đó là hết. Bởi vì đó không phải nhiệm vụ của cháu.
           Ông im lặng nhìn tôi, cuối cùng ông nói giọng như buông xuôi:
         - Chiến tranh. Đúng là chó đẻ ba con. Thôi. Tao biết bao nhiêu đó đủ rồi. Nhắm mắt được rồi. Tao không phản bội ai cả. Sáu Hưng, thằng này dữ thiệt. Tao đã nghi nghi nhưng không dám hỏi nó, vì nó và tao không muốn gặp nhau. Thằng nào cũng thủ thế. Nhưng nó ngon hơn tao. Ai nó gạt cũng được cả. Quốc Gia hay Việt Cộng nó đều qua ngọt. Nhưng thôi. Dù sao cũng vì một cái tình. Chắc nó thấy con tao đông quá. Thôi khuya rồi về ngủ đi kẻo thiếm tư mong.
Tôi từ giả bác Chín ra về. Trăng tháng tám âm lịch mang đầy hơi nuớc xuyên qua những mảng lá dừa, đổ ánh sáng lổ chổ xuống mặt đường, chấp chới vì những cơn gió lào xào qua kẻ lá. Lâu lắm rồi tôi mới có một đêm thật sự bình yên trên làng quê của mình. Tôi đi thật chậm và nhớ lại cái cảm giác của mình đêm cuối cùng ở trại.
             Tôi đã giả từ hẵn những tháng ngày nổi trôi, từ giả hết tất cả nhọc nhằn và giấc ngủ đầy ắp những giấc mơ buồn. Những khó khăn đang chờ đón. Nhưng thấp thoáng đâu đó trong lòng tôi những vui mừng đến nôn nao và nỗi phân vân đến điếng người. Bây giờ tôi ở đây, những lời của bác Chín Phước hình như là tiếng nói rất chân tình mà quê hương nhỏ xíu này nhờ ông ấy gởi đến tôi. Quê hương tôi thì đã thật sự bình yên rồi, màu xanh đã trở lại như thời tôi còn thơ dại. Không còn những cây dừa chĩa nỗi uất hờn lên trời xanh. Không còn cái cảnh phải chầu chực làm đơn, rồi khi được đơn lại phải cơm ghe bè bạn đi xay gạo ở Đường Xuồng. Không còn cái cảnh đo bồ cũng không có luôn cái cảnh chở món gì qua trạm cũng bị bắt. Ông Bình Nguyên Lộc chắc đã thở phào nhẹ nhỏm. Những chia lìa, rạn vỡ theo thời gian đang bắt đầu liền sẹo. Về tới nhà. Tôi đứng lại trước sân đưa mắt nhìn quanh. Tất cả những cảnh quan gần như những ngày tôi còn bé. Ba mẹ tôi tái tạo lại gần như y hệt, nhưng những ngọn dừa ấy thì không phải là những ngọn dừa xưa mà ông bà Nội trồng. Một thế hệ, mấy lứa dừa không phải tàn đi vì già cỗi mà tàn đi vì chiến tranh. Mong rằng những tháng ngày sắp tới và mãi mãi sau này. Con người và cây cối sẽ xuất hiện và mất đi theo nhịp yên bình của lẽ tử sinh. Giờ đây, mẹ tôi và các anh em tôi cũng chất chồng thêm thời gian lên mái tóc và trách nhiệm trên đôi vai. Tôi cũng thế nhưng chỉ có thời gian, còn trách nhiệm thì bao giờ cũng thế, cứ lơ đễnh. Tôi phải làm sao đây?
             - Sao không vô ngủ đi con? Tiếng mẹ tôi từ trong nhà vọng ra.
             - Má ngủ truớc đi. Con không ngủ được.
           Tôi ngồi trước hiên nhà, nhìn những áng mây bay dần qua. Trăng vẫn sáng mờ mờ và không một vì sao. Tất cả chìm vào trong vắng lặng, chỉ có tiếng gió lào xào. Hai mắt tôi ráo hoảnh. Ngồi nhớ từng người thân thuộc đã khuất, đã xa. Nhớ bạn bè hơn mười năm rồi không gặp lại. Tôi đã về đây, về lại cái quê hương nhỏ xíu của mình. Nhưng tâm hồn tôi thì dẫy đầy thương tích và tuổi thơ thì đã không còn. Tôi bổng nhớ tới vợ tôi, tới Út Giữa và hai thằng bé. Tôi ao ước được vẹn toàn, nhưng cũng chính tôi đã tạo ra một sự lu bu. Không hiểu bây giờ mấy mẹ con đã hay tôi về chưa? Nếu biết thì họ ngủ làm sao đây? Chắc có lẽ cô ấy và con tôi đêm nay cũng không ngủ được, mẹ con cô ấy không chỉ có sự thao thức, mà còn có một nỗi niềm cay đắng được an ủi bằng một hy vọng mơ hồ.
          Tôi vào nhà lấy cây đàn ra bờ sông. Không hiểu sao tôi lại gãy lưng tưng một hồi, nó lại chạy sang cái ca khúc mà lâu lắm rồi tôi không hát.[ii]
         “ Người ơi. Tôi kể lại chuyện xưa bao kỷ niệm êm ái lúc tuổi còn thơ… Nhà tôi sang nhà người em gái cách nhau con sông dài…
…..
         “ Chiều nay bao kỷ niệm còn say, trên đường về quê cũ lối mòn còn đây. Tìm em tôi hỏi người trong xóm, nói đã sang sông rồi. Hỏi gió, gió bay. Hỏi nước, nước trôi. Sương rơi đưa chiều vào tối. Lấy thơ ghép nhạc, hát lên thay lời để nhớ một người “
           Tôi nhìn sang bên kia sông. Tất cả đã thay đổi hoàn toàn. Cô bé thấp thấp, mập mập, tròn tròn chìm khuất nơi đâu, tôi không biết. Tiếng hát, tiếng đàn tôi còn chăng chỉ là nỗi mơ hồ. Đấy tôi như thế đấy. Kỷ niệm nào cũng muốn lưu giữ, hiện tại nào cũng muốn ôm đồm. Đã thế còn sắp đặt tương lai để mà mơ mộng. Lu bu. Thậm lu bu. Vừa mới ra tù lại lu bu tiếp.
          Tôi vào nhà, đóng lại cửa khi đồng hồ gõ mười hai tiếng. Mẹ tồi ngủ giường ngoài với thằng cháu, con của cô em thứ ba. Tôi bước vào phòng trong chui vào mùng mà mẹ tôi giăng sẳn, chiếc giường mênh mông và lạnh ngắt. Hơn mười ba năm, tôi mới trở lại một nơi thật sự của mình mà bây giờ chỉ còn có cái hơi ấm quạnh hiu của mẹ. Có một tiếng rơi của chiếc tàu dừa khi tôi chìm dần trong giấc ngủ muộn màng. Nhưng một cơn lạnh ập đến , lạnh run bắn cả người, lạnh từ trong xương lạnh ra, tôi cắn chặt răng mà vẫn bật lên tiếng rên. Mẹ tôi bưng cây đèn hột vịt vào phòng:
          - Hiền à. Sao vậy con.
          Tôi lập bập:
          - Con lạnh quá mẹ ơi.
          Bà sờ trán rồi nắm tay tôi rồi móc túi đưa tôi chai dầu :
          - Con xoa dầu ở ngực và hai gang bàn chân rồi trùm mền lại, má đi nấu nước cho con.
          Tôi làm theo và vẫn không bớt lạnh. Khoảng năm phút sau, bà vào đưa tôi ly nước sôi:
          - Con uống đi. Cẩn thận kẻo phỏng miệng đấy. Chờ má một chút.
          Tôi khoác mền cố ngồi dậy bưng ly nước, vừa thổi vừa hớp từng ngụm nhỏ. Một lát sau mẹ tôi bê vào cái cà ràng đầy than củi và một bó lá dừa, bà bảo tôi:
           - Con uống xong trùm mềm lại má hơ cho ấm.
          Tôi răm rắp tuân theo. Mẹ tôi đạt cái cà ràng dưới gầm giường, rồi đốt bó lá dừa hơ đều dưới vạt giường. Cái lạnh lui dần, một lát sau tôi nghe mẹ hỏi:
           - Con bớt lạnh chưa?
           - Con hết lạnh rồi mẹ ngủ đi.
           - Thì con ngủ đi. Mẹ còn dụi lửa đã.
          Tôi lại chìm trong cảm giác nửa ngủ, nửa thức mà không hiểu tại sao lại có một cơn lạnh ập đến một cách kỳ quái như thế. Rồi cứ khoảng mười lăm, hai mươi phút gì đó, mẹ tôi lại vào sờ trán rồi thay cho tôi cái mền khác. Đôi ba lần như thế, tôi mới nhận ra và không hiểu mẹ tôi làm gì? Tôi ngôi dậy bước ra thấy mẹ tôi đang ôm chặt cái mền vừa thay, ngồi trước bàn thờ ba tôi.
           - Sao mẹ không ngủ đi, khuya rồi.
           Bà không nhìn tôi mà hỏi:
           - Con hết lạnh chưa? Mẹ ủ cái mền cho ấm để thay cho con.
          Tôi  đứng lặng người, không sao mà hiểu được cảm xúc của mình, tôi lắp bắp cái gì đó mà chính tôi cũng không rõ. Tôi quỳ xuống ôm lấy vai mẹ tôi. Hai mẹ con ngồi vậy rất lâu. Cơn lạnh giờ đã đi thật xa, thật xa rồi. Lại một tiếng rơi của tàu dừa từ ngoài vọng tới. Mẹ tôi khoác cái mền đã ủ ấm cho tôi và bảo:
          - Thôi vào ngủ đi con, ngủ với  mẹ và cháu nó.
  
          Tôi giật mình thức giấc. Theo quán tính tôi phóng vội ra khỏi giường với ý nghĩ bắt đầu một ngày lao động mới. Nhưng cái ánh nắng chói chang và khung cảnh đã đưa tôi trở về thực tại. Tôi đang ở nhà mình. Cảm giác sung sướng len vào lòng. Mẹ tôi đang quét sân thấy tôi bước ra bà bảo :
        - Lớn tuổi rồi, con ngủ sớm, thức sớm cho khỏe người. Đêm hôm con thức cho khuya lơ khuya lắc nên mới bị như vậy.
           Tôi chống chế :
           - Làm như lạ chỗ nên...
           - Tổ cha mày. Nhà mày mà lạ chỗ. Bộ mày muốn ở dưới luôn chắc.
         Tôi chạy ra sau nhà rửa mặt mang theo trong lòng sự sung sướng trẻ thơ khi bị mẹ mắng. Tôi trở ra nói với mẹ tôi :
          - Má, con xuống xóm uống café nghe má.
          - Ừ. Đi một lát về nghen. Ai nói gì thôi kệ người ta. Ráng nhịn nghe con. Có tiền đó không.             Bà móc túi lấy tiền đưa cho tôi.
          - Má cho con một ngàn.
          Tôi vẫn còn tiền, nhưng vẫn xin mẹ, để được sống lại trong những cảm giác của những ngày tuổi nhỏ. Lâu lắm rồi tôi mới xin tiền mẹ cũng như lâu lắm rồi mới nghe tiếng tàu dừa rơi trong đêm khuya.
           Trên đường xuống xóm, tôi mới có dịp nhìn kỹ lại cái quê hương nhỏ xíu của mình. Đúng là vẫn như thế, những ngôi nhà gần y hệt như xưa, nhưng tinh tươm và có sức sống hơn. Có khác chăng là có rất nhiều khuôn mặt trẻ hoàn toàn xa lạ với tôi. Bọn này chào hỏi tôi bằng những đại từ nghe rất lạ. Ông chú, ông cậu, thậm chí là ông bác, ông cố (?). Và cũng có đứa trố mắt nhìn tôi như một người hoàn toàn xa lạ, thậm chí có đứa còn hỏi tôi ở đâu mà tới. Tôi có cái cảm giác lạ lùng. Bổng dưng tôi nhớ lại bài thơ Đường mà bảy Huỳnh đọc cho tôi nghe lúc còn ở khám lớn:
             HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tùng hà xứ lai?
           HẠ TRI CHƯƠNG
       Đi cho già khú mới về,
Y chang giọng cũ tóc thì sương bay
      Nhóc con nhìn chẳng biết ai
Cười cười rồi hỏi lão người ở đâu?
 Mình đến thế sao? Thế thì già mất rồi. Tôi không hiểu sao anh ta lại đọc cho tôi nghe bài thơ này khi mà cả hai chưa qua tuổi ba mươi. Hay là
          Tôi đi ngang qua ngôi trường cũ. Không còn lại một dấu vết gì của hàng cây bã đậu và cái bông bụp lẻ loi ngày nào cũng mất. Ngôi đình được cất lại nhưng có vẻ tạm bợ, mảng tường trơ trọi ngày nào cũng biến mất. Một thời đã qua. Chỉ còn lại cây da. Những tán lá xanh rờn với những sợi rễ phụ lòa xòa. Nhưng dấu vết thương tật của chiến tranh vẫn chưa biến mất. Những hồi ức nôn nao chạy đến trong lòng. Bạn bè của thời đánh mé, đánh hưng, chạy long rong ngoài đồng bắt cá cạn, cá lên giờ đây không còn mấy đứa. Những đứa mất đi, để lại lãng đãng nỗi ngậm ngùi. Những người còn lại, dấu vết tháng năm hằn trên khuôn mặt. Nhưng hồn trẻ thơ vẫn còn lẫn khuất đâu đây. Cái rẻo đất quê hương nhỏ xíu này đang có những sự đổi thay. Mang cái hồi ức ấy tôi trở lại quán café. Ở đấy vẫn chỉ có hai chuyện để bàn tán. Đó là việc tôi có mặt trên tivi và chuyện thứ hai là việc tranh giành đất đai từ các hợp tác xã nông nghiệp đã giải thể. Kẻ được giao thì mừng, người không được thì khiếu nại và cái từ “đất gốc” được khai sinh, kèm theo đó là những tình cảm xóm giềng bị sứt mẽ. Tôi chẳng hiểu gì, nên ngồi nghe. Một số bạn bè cùng trang lứa đã đùm đề vợ con như sáu Tol, năm Lai, tám Đen, ba Dòl, trừ ông anh sáu Khanh chẳng có đứa con nào. Tôi thì có mà cũng như không, bởi vì Tất cả thuyết phục tôi ở lại và hứa chắc như đinh đóng cột là sẽ tìm cách đòi lại sáu công đất mà mẹ tôi đưa vô tập đoàn, nay lại được cấp cho người khác (?!). Tôi không quan tâm đến việc này. Cái mà tôi lo là phải tìm một cái việc gì đó để làm. Lúc này mà dính vào cái chuyện đất đai là vô cùng phiền phức. Do đó tôi ậm ừ cho qua chuyện.
        Trên đường về nhà, tôi cố hình dung ra ngôi nhà của ông bác tư Nhân ngày nào, thằng Bình thì đi đâu mất rồi, ngôi nhà không còn xanh um cây cối, không còn bụi bông trang ở bàn thông thiên, tôi cố hình dung lại những ngày tháng bé thơ mà tôi và thằng Bình quấn quýt bên những bầu ươm cây bầu, cây bí hay loăng quăng tưới những hàng hoa cúc, hoa móng tay, bông mười giờ… Một thoáng êm đềm của bao nhiêu năm trước trở về. Nhanh thật, hơn ba mươi năm rồi.
          Ngọc, em tôi vào. Thấy chúng tôi, mẹ tôi kêu ngồi lại và bàn việc đám giỗ của ba tôi. Trong niềm vui quá lớn lao, mẹ tôi tính toán theo tình cảm của mình và điều đó làm cho tôi bức rức. Một con heo cúng tạ tổ tiên và sau đó là buỗi tiệc mừng đoàn tụ. Nhưng tôi lại không dám nói ra và Ngọc cũng thế. Cuối cùng tôi nói:
          - Má à. Con tính như vầy nghe má, cho vợ chồng thằng Ngọc về đây ở với má. Việc này có hai cái lợi, là má có người ở bên cạnh chăm sóc. Với lại con thấy con nó hàng ngày bơi xuồng lủm tủm ra vô con sợ quá.
           Mẹ tôi nhìn tôi, sẵng giọng :
           - Rồi vợ chồng mày ở đâu hay là mày tính giở cái trò gì nữa đây? Ba mày nằm sau nhà đó. Ba mày nằm đó để coi chừng mày.
          - Con có đi đâu đâu? Vợ chồng không con cái, tụi con ở đâu mà chẳng được. Với lại ở đây, ruộng đất không có, lấy gì mà sống. Con tính về Rạch Giá mở cái tiệm vẽ bảng hiệu sống cũng được. Còn nếu không xong xuống Thứ Bảy Kinh Làng làm cho ông Mười Can. Ông cấp ruộng cho làm, cất nhà cho ở, phát gạo cho ăn.
           Mẹ tôi mở to mắt nhìn tôi :
           - Con nói chơi hả con. Con về chợ mở tiệm vẽ còn nghe được. Bộ sống nhờ người khác dễ lắm sao con? Đó là chưa kể khi ông ấy về hưu thì con ra sao? Ở đời, biết ai thương ai ghét, cái gì cũng phải tự thân mình lo việc của mình, dựa dẫm vào người này, người khác là không dễ đâu con.
           - Nếu má không muốn thì thôi. Mai mốt con về ngoài ấy trình diện xong, rồi tìm chỗ mở tiệm vẽ. Còn Ngọc này, vợ chồng mày thu xếp ngoài ấy cho tinh tươm rồi dọn về ngay. Không để má ở một mình.
          Ngọc nhìn tôi:
          - Ông chứng nào tật nấy. Cái gì ba má đưa cho ông, ông làm như là lửa bỏng.
         Tôi cười:
         - Mày muốn tao gân cỗ ra cãi với mày để giành từng gốc dừa, gốc ổi mày mới chịu hả? Ba má có bao nhiêu mà xúm xít vào có mà rã họng. Ba má cho tao năm chục ký lô thịt này, mày biết nó bao nhiêu tiền không? Tao không lấy thêm nữa là tại vì phần thêm đó là quá ít so với cái đã nhận rồi.
           - Ông hễ mở miệng ra là móc họng.
           - Tao có bảo mày hả họng ra đâu. Ngậm lại, ai móc được.
           Mẹ tôi lại phải can:
           - Nè. Má nói thôi.
            Hai anh em nín thinh, nhìn nhau. Cười.
        Tối hôm đó vợ tôi từ Sa Đéc về. Cô ấy gần như cứng cả người. Vợ chồng Ngọc và thằng nhóc vào. Rồi vợ chồng cô em thứ ba và mấy đứa cháu. Cô út và hai đứa con cũng từ ngoài Rạch Giá vô. Cả nhà vây quanh nồi cháo gà. Chưa bao giờ mẹ tôi vui thế. Tôi nhìn lại các em mình và các cháu. Bổng nhiên tôi thấy mình làm sao ấy. Tất cả đều khó nghèo. Nhưng mọi người đều có một niềm vui toàn vẹn dù rằng không lớn lao gì. Nhưng với tôi thì khác. Bổng cô em thứ ba lên tiếng :
          - Anh hai về là chị hai phải sinh cho ảnh một đứa nghen. Không anh tui mượn bụng ai thì bọn tui binh chị hổng được đó.
            Mọi người cười vui vẻ. Vợ tôi thì đỏ mặt. Còn tôi thì tím ruột.
          Khi mọi người ai về chỗ nấy, vợ tôi và cô Út dọn dẹp. Mẹ tôi ngồi cùng những đứa cháu của bà.Tôi và Ngọc ra sân hút thuốc, nó hỏi tôi :
           - Ông tính ở ngoài ấy hay về đây?
           - Để mai ra trình diện coi ra làm sao đã ?
         - Tôi nghĩ là ông ở ngoài ấy hay hơn. Tình hình trong này không đơn giản đâu. Lúc này chuyện đất gốc, đất gác um sùm. Ông về càng thêm rối. Vụ sáu công đất của má, hiện cấp cho bà ba Tài. Bà ấy bán cho ông ba Tiên. Khi nghe ông về, là họ xầm xì, xậm xịt mấy bữa nay.
           - Tao có giành giựt gì của họ đâu. Giành lại nhắm được không? Mà giá như có được đi thì nhắm đủ không? Mua một bánh thuốc cũng bán lúa, mua một viên Asperine cũng bán lúa, đi một đám giỗ cũng bán lúa. Sáu công đủ à. Một năm thì hai tháng mùa nước, một tháng mùa khô. Còn lại chín tháng ở không thì làm gì? Làm bậy thì ở tù. Mà làm đúng thì làm sao? Tao sẽ ở ngoài ấy. Tao không còn trẻ nữa. Phải bường thôi.
            Ngọc thở dài :
            - Ông cũng độc lắm. Ở cái xứ này ông có thua ai đâu? Mà ông cứ mơ mơ màng màng. Riết rồi tôi không hiểu ông muốn gì? Chị hai cũng thế, nếu như duyên phận hai người như thế thì ông cũng phải tính. Ngần ấy tuổi, chẳng con cái. Heo nái ủi mả không chừng.
              - Tao tính sao đây. Cứ sống đi. Cái gì tới sẽ tới. Mọi việc rồi sẽ qua.
             - Bác Chín Phước nóng ông về cái câu đó lắm. Giờ này ông mới tính chuyện phải bường thì gần hết pin rồi. Ngọc nói như trách móc tôi một điều gì đó.
Tôi nín thinh. Không hiểu em tôi, nó trách tôi về cái gì? Tôi hỏi nó:
               - Thằng Nam bây giờ nó làm ăn ra sao ?
              - Tôi cũng không rõ, mỗi năm nó về có một đôi lần ngàygiỗ ông bà nội, giỗ ba hay thanh minh. Cũng có khi mua cái gì đó hay đưa tiền cho con Út mang vô. Tôi thì ông thấy đó, làm năm nào cụt năm đó. Ông về công ăn, việc làm không có, cái gì cũng không. Ông coi bộ gay go đấy.
             - Tao bắt đầu tự lo cho mình đây. Dù rằng hơi trễ. Nhưng tao hiểu ra một điều mà có lẽ tụi mày cũng nên hiểu. Đó là hiện tại mình cần cái gì. Đừng có ngó thiên hạ rồi co cẳng phóng theo trong khi sức mình không đủ. Đã không ra cái ôn hoàng gì mà còn thêm bực bội.
              - Ông nói nghe ngon lắm.
              - Thôi. Đừng có cãi nữa. Mọi cái rồi sẽ qua.
              - Cũng vậy nữa. Tôi chưa thấy ông qua cái nào?
            Tôi nín thinh. Quả tình anh em một mẹ sinh ra, mỗi người mỗi tính. Tôi không rõ, mấy anh em tôi ai đúng, ai sai. Nhưng có điều hiểu được nhau thì quả tình hơi khó. Cái quan điểm “Mọi cái rồi sẽ qua“ của tôi vẻ buông xuôi. Nhưng thật tình muốn cho nó qua không phải là một chuyện dễ dàng gì. Nhất là khi mình muốn nó qua như thế nào. Tôi không biết là những cái đã đi qua trong đời tôi có mang một ý nghĩa tích cực nào không. Nhưng hiện tại thì tôi hài lòng ở nó. Dẫu rằng những hệ lụy mà tôi gây ra thì vẫn chưa qua. Mà cũng khó qua.
           Tôi vào nhà, bọn trẻ con đã ngủ. Mẹ tôi lại thắp nhang lên bàn thờ. Còn vợ tôi chuẩn bị cho tôi ngày mai đi Rạch Giá. Thắp nhang xong, mẹ tôi đến bàn ngồi, rồi hỏi tôi:
           - Rồi mày tính ở đâu ? Nói cho má nghe.
           - Con cũng chưa biết. Về ngoài ấy trình diện. Coi họ cho ở đâu. Lúc đó sẽ tính.
         - Má còn một trăm giạ lúa. Nhưng đã cho cô bác mượn hết rồi. Tới mùa má lấy lại. Muốn làm ăn cái gì thì bán.
           - Thôi ngủ má ơi. Chừng nào tới hẵn tính.
           Mẹ tôi nói giọng như sẵng lại :
          - Con thì tính nào tật nấy. Tính đưa cho mày cái gì, thì mày gạt ngang cái đó. Mày làm như của tao với ba mày là của ai. Năm nay đã hơn bốn mươi mà không ra cái gì.
           - Thì con nói thủng thẳng mà.
           Mẹ tôi thở dài. Tôi chui vào mùng nằm nhìn ánh trăng xuyên qua cửa sổ. Vợ tôi lục đục cái gì đó một lát rồi cũng vào theo. Tôi nói ngay :
            - Ba má ở trển sao rồi em?
            - Thì cũng vậy. Nghèo vẫn hoàn nghèo.
            - Trời đất nói nghe ngộ hông. Anh hỏi hỏi ba má có khỏe không?
            - Thì khỏe.
           Vợ tôi thì thế đấy, khi hỏi cái điều gì mà cô ấy không quan tâm thì có một cái kiểu trả lời lấy có. Và tôi biết cô ấy bây giờ đang quan tâm đến cái gì. Tôi cảm thấy mình có lỗi. Quá lỗi nữa là khác. Hai mươi năm. Tôi không ngờ nhanh thế. Ôm cô ấy vào lòng, cái thân thể ấy run lên nhưng vẫn thụ động. Trong cái sáng mập mờ, tôi lại nhìn thấy ánh mắt của của vợ tôi khi lên đến đỉnh của cuộc ái ân. Nhưng tôi lại nghĩ, có lẽ là quá lâu. Với lại, cô ấy hoàn toàn giao phó hết tất cả cho tôi, chấp nhận làm một cái bóng không điều kiện, kể cả trong lúc yêu đương. Nhưng tôi biết bên trong chứa đựng một sự phản kháng cũng không nhỏ. Sự bộc phát không kềm giữ đã một lắm lần làm tôi bực bội. Cô ấy đến giờ này chưa sinh cho tôi một đứa con là cũng vì cái tính phản kháng đến cố chấp ấy. Và tôi thì thường thua cuộc. Trong cuộc đời tôi, thường thì như thế. Bất cứ người đàn bà, con gái nào khi họ đến bên tôi dù với bất cứ tư cách gì, họ cũng đều là người chiến thắng. Sự dịu dàng càng cao, sự nín nhịn càng nhiều, chăm chút tôi càng chu đáo thì chiến thắng của họ càng hiển hách. Có thể tôi được sinh ra và được nuôi dạy bởi một bà mẹ rất đỗi dịu dàng và không thiếu phần nghiêm khắc, nên thấy ai có dáng dấp của một người mẹ thì tôi kể như thua trắng.

             Thị xã Rạch Giá vẫn như xưa. Nhưng con người thì khác đi nhiều quá. Những người quen thì đã vắng đi nhiều lắm. Người còn ở lại thì khắc khổ hơn. Những người mới thì cũng thế. Tôi đã về lại cái nơi của mình như là một người xa lạ. Tất cả như hờ hững với tôi. Nhưng những nơi gọi là kỷ niệm thìkhông như thế. Từng giờ, từng phút đay nghiến lấy tôi, dù nơi đó không nói lên lời chào hỏi. Tôi mượn chiếc xe đạp chạy long rong khắp phố phường, dừng lại trước những ngôi trường cũ, tìm lại những quán café xưa. Tất cả đã đổi thay. Còn chăng là những vóc dáng mơ hồ cũ kỷ bị che lấp bởi những con người không quen biết và những thay đổi ngỡ ngàng. Ngôi chợ, con đường Nguyễn Trung Trực và những con đường khác. Bổng nhiên một tấm bảng hiệu mà màu sơn đã xám đi vì bụi thời gian. Tấm bảng, có lẽ là duy nhất, mà tôi đã vẻ cách đây mười mấy năm, vẫn còn đó mà cửa hàng thì đóng im ỉm. Người chủ đã đi đâu? Tấm bảng còn treo đó với mục đích gì? Tôi hoàn toàn không biết. Nhưng dấu tích duy nhất, mà chính tay tôi tạo nên, của một thời xưa cũ đang làm xao động lòng tôi. Rút điếu thuốc Hero cong queo trong túi, tìm người mồi nhờ. Tôi rít một hơi dài, thẩn thờ nhìn những sợi nắng chấp chới xuyên qua những vầng mây tháng tám.
             Sau khi trình diện công an phường Vĩnh Lạc. Tôi được hướng dẫn làm thủ tục nhập hộ khẩu ngay và sau đó khoảng hai mươi ngày là có chứng minh nhân dân. Điều này thật bất ngờ. Vì những người thuộc thành phần như tôi, có nằm mơ cũng không thể. Ngồi ngẫm nghĩ và tôi lại tự hiểu ra. Có phải chăng có bàn tay của ông mười Can nhúng vào. Và tôi không tìm hiểu nữa. Và tôi ra bưu điện gởi một cái thư, báo tin cho mẹ con Út Giữa. Trong cuộc đời mình tôi chưa bao giờ viết một cái thư nào khó hơn cái thư này. Tôi biết cô ấy không cần tôi giải thích gì nhiều, cô ấy chỉ cần biết rằng tôi đã về, thế thôi. Nhưng tôi phải viết cho đến cả buổi mới xong. Và cái thư chỉ có mấy giòng. Thật lạ lùng với một tay lắm mồm lắm miệng như tôi.
              Gặp lại một số bạn bè cũ trong sự e dè. Rồi những thằng đã ra đi thì nhận được ở đâu đó một vài tin tức. Và tôi lại lao vào cuộc mưu sinh. Vợ tôi có mang. Tôi nhận được tin này trong một niềm vui tràn bờ của chính mình và của anh em nội ngoại giữa tiếng phèng la của thằng em họ “Sự kiện nổi bật nhất đầu năm 89 tại ngã tư Am Ông Địa. Vợ ông Hiền có bầu“. Nhưng sau đó là một nỗi lo, rất nhiều nỗi lo. Nhà cửa, không. Công ăn việc làm, không. Quần áo, hai bộ đồ dính da. Tiền, không có một xu. Và trong lòng, lu bu vì vợ hai bà, con hai đứa rưỡi. Tại sao không là một bà thôi và con thì bao nhiêu cũng được. Ông trời chơi khăm tôi (?). Những đứa con tôi khát khao đợi chờ. Thế mà khi chúng ra đời thì tôi bắt đầu lóng ngóng tay chân, ngọng nghịu miệng mồm.
             Tôi chợt nhớ lại ánh mắt của vợ tôi và của Út Giữa. Tôi biết rằng tôi đã được ai đó, đã cho tôi một sự thấu hiểu, cảm nhận về sự diệu kỳ của tạo hóa khi ban cho con người một khả năng hưởng thụ ái ân và thành quả của việc làm đó là làm nên một con người. Nhưng đã từ lâu rồi tôi đã lạm dụng nó, dù rằng tôi chưa bao giờ xem việc ái ân như là một sự thụ hưởng ích kỷ. Và hiện tại, tôi không biết phải làm gì để sửa chữa sai lầm. Chẳng lẽ đỗ thừa số phận. Cái số phận gì  mà sống nhăn đến thế.
             Trong lúc vô công rỗi nghề. Tôi được kêu gọi tham gia vào tổ điều tra dân số năm 1989. Được bao ăn uống và mỗi ngày bồi dưỡng được hai ngàn. Cũng hay. Sau khi được hướng dẫn hai ngày. Tổ chúng tôi bắt đầu công việc chuẩn bị, như vẽ phóng đồ khu vực trách nhiệm, định vị từng hộ và nhân khẩu của từng nhà rồi bắt đầu kiểm kê theo thông số quy định, phân loại, tổng kết và báo cáo cáo.  Sau hai mươi ngày, công việc kết thúc tốt đẹp. Tổ của chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Được đánh giá là tổ thực hiện công việc tốt nhất thị xã. Nhưng khi đến ngày trao phần thưởng cho những tổ và cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thì không có mặt tôi. Lý do: Tập trung cải tạo mới về và còn trong thời hạn quản chế. Ngày liên hoan mừng công cũng thế, nhưng sau đó hai ngày thì nhận được một phong bì mà ở bên trong chỉ độc nhất một tờ giấy mười ngàn. Đi chợ được năm ngày. Thực tình thì tôi chẳng buồn phiền gì mà cảm thấy tức cười. Và hơi ngạc nhiên vì cái vai trò công dân hạng hai của mình. Nhưng thôi. Dù sao cũng lên một bậc. Sự trở lại của tấm lòng như anh phóng viên ấy nói quả tình đã có. Nhưng hơi chậm. Không sao, mọi cái rồi sẽ qua.
               Trong lúc anh em chúng tôi đang khốn đốn thì ở thị xã có rất nhiều người giàu lên một cách không hiểu nổi. Hàng hóa thì đầy ngập ra đó nhưng vẫn thiếu, thiếu những cái thật sự cần thiết cho cuộc sống, nhưng lại rất dư thừa cho những kẻ có tiền cần khoe mẽ. Có những cái cassette thật cực kỳ được tranh nhau mua về và mở suốt ngày đêm mà chẳng ai nghe, khi có chuyện cần nói thì phải hè nhau gào lên cho to hơn cái cassette. Có những cái tivi và đầu vidéo hoạt động không ngừng nghỉ và người nghe lẫn người xem cũng chẳng cần biết trên cái loa kia hò hét cái gì, cái màn hình kia nhảy nhót ra sao. Những bản nhạc đã im bặt từ ngày 30.4.75 bây giờ ra rả suốt ngày. Cả hoa lẫn cỏ, mà cỏ nhiều hơn. Hàng hóa tiêu dùng của Thái Lan tràn ngập. Các quán café, quán nhậu thì gần như đều khắp, lúc nào cũng có người ăn nhậu, từ những người thừa tiền bạc cho đến người làm mướn làm thuê. Trong khi giá phân bón, thuốc trừ sâu thì ở trên trời mà giá nông sản thì lại nằm dưới đất. Tất cả hàng hóa gần chín mươi phần trăm là nhập khẩu. Mà là nhập lậu.
            Hơn mười năm tôi không hiểu điều gì đã xảy ra. Và tôi choáng ngộp trước mọi người và những khó khăn của mình. Tất cả mọi tiện nghi tối thiểu đều nằm ngoài mơ ước của tôi. Cuộc sống gần như chuyển hướng và tôi chợt nhớ câu nói của Lénin. Bây giờ thì cái nhiệt tình đã mất đi, nhưng cái ngu dốt vẫn còn. Đau đớn thay cái nhiệt tình ấy được thay vào bằng một cái khác. Lòng tham, thứ này mà cộng với ngu dốt thì còn tệ hại hơn gấp trăm lần phá hoại. Tôi có cảm giác như đất nước càng lúc càng te tua.
             Tôi gặp lại thằng bạn, nói đúng hơn là một thằng em, đang phất. Tôi và hắn có một thời hơn hai năm lêu bêu bữa đói, bữa no suốt những năm 76-77, cũng có ngày trúng mánh ngồi nhậu đến ngất ngư. Cũng lắm lần kêu một ly café đen mà hai thằng uống. Kỷ niệm rất đáng nhớ là ngày hắn cưới vợ. Cưới một cô vợ tốn chỉ hai chục đồng. Hắn có mười lăm, tôi chạy vạy thêm được năm đồng nữa. Là dân học hành đàng hoàng, thân thế khá oách. Cha là một cán bộ khá to tập kết về, mẹ là con cháu Bạch Công Tử[iii] hiện đang ở Mỹ. Hiện hắn có một cửa hàng điện máy, toàn hàng lậu, hàng second hand. Tính tôi thì ruột ngựa. Gặp lại bạn bè, người quen thì mừng quýnh quíu. Tôi kéo hắn vô quán café. Rồi mặc cho tôi nhắc lại những kỷ niệm khốn khó một thời và nói về một tương lai. Hắn im lặng nhìn tôi và cuối cùng hắn nói:
           - Ông Hiền này. Cuộc sống đã xô đẩy tôi và ông gặp nhau. Ông và tôi không thể là bạn mà chỉ là người quen, mà cái thời là người quen thì cũng đã qua rồi. Ông thông cảm cho tôi. Cuộc sống không cho phép quan hệ của ông và tôi tiếp tục, nếu ông và tôi níu kéo cái quan hệ cũ mèm ấy, nó chẳng giúp được gì nhau mà lại không tốt cho cả hai. Tôi biết ông là người có can đảm chịu đựng mọi thứ, nên những lời này sẽ làm ông buồn. Nhưng tôi biết, nó ít thôi.
Hắn đứng dậy và đi thẳng, ly café của hắn còn nguyên. Tôi ngồi im lặng bên ly café uống dở của mình, lòng lạnh tanh như ly café bị hững hờ đang ở phía bên kia. Rồi cái cảm giác bị sỉ nhục tràn về ầm ào lũ. Tôi vận dụng bằng hết sức lực để trấn áp. Cố gắng lắm, rồi cũng được. Tôi móc túi lấy tờ giấy bạc cuối cùng trả hai ly café. Một ly còn nguyên, một ly uống dở. Tay chủ quán nhìn tôi và nói:
             - Ông anh mới cải tạo về và gặp lại bạn xưa?
             - Vâng.
            - Và nó sợ ông như sợ hủi. Phải thôi ông anh ạ. Bởi bộ vó của ông anh là bộ vó của một tay không có một cắc lộn lưng, cộng thêm cái thành tích tập trung cải tạo. Một cái đủ làm người ta ngán, huống hồ ông lại tới hai. Ông nhắc kỷ niệm xưa, người ta nghĩ rằng ông nhờ vã. Thế thôi. Đừng buồn. Ly café ông uống, tôi tính tiền. Ly này, tôi hâm lại để tôi uống hoặc để pha café đá.
Tôi ngồi bất động trước những gì đã xảy ra. Tôi tham gia một vai diễn tồi không tả nổi. Ngần này tuổi trên đầu mà ngu thật. Nhưng rồi bình tỉnh lại tôi thầm cám ơn hắn. Chính hắn chớ không ai khác, dạy cho tôi một bài học nhớ đời về cái thói cả tin. Cuối cùng tôi thật sự khâm phục hắn. Dù sao hắn cũng dám nói thật ý nghĩ của mình mà không cần những lời bải bui hàm chứa biết bao ẩn ý chẳng chân thành. Khó tìm ra được một người quen như thế. Cám ơn mày. Sơn. Tao sẽ quên ngay tức khắc cái hoạt cảnh này và không để nó tái diễn. Một lần là quá đủ trong đời. Nhưng tao sẽ giữ lại cho riêng tao. Nhưng tao sẽ không bao từ bỏ những việc tao từng làm với mày trong thời tao và mày còn chia cơm xẻ áo. Tất nhiên là tao chỉ có thể làm với người khác.
             Từ đó tôi đi uống café một mình ở một quán café ven đường, mà ở đó ít gặp người quen. Tại sao thế? Bạn bè, anh em thấy tôi bèo ai cũng giành trả tiền cho. Muốn giành trả lại một lần mà không kham nổi. Nhưng sợ nhất là gặp lại những người quen mà tôi ngỡ rằng là bạn. Thôi đành chơi một mình, để có thể nghĩ suy về một điều gì đó. Hơn nữa khỏi phải nói, phải nghe những điều mình không muốn nghe, muốn nói. Trong những lần như thế, tôi nhớ lại khoảng thời gian tù tội của mình. Khoảng thời gian ngồi gở chín cuốn lịch và ba mươi tờ lẻ của tôi quả là một điều may mắn. Bởi vì tôi đã không nhìn thấy những cái cảnh gai mắt trái tai, những điều không như ý, nên tôi cũng không có dịp để nổi cơn khùng. Tôi có dịp tự nhìn ngắm mình một cách an toàn, thậm chí khá thú vị là đàng khác. Có thể ai đó cho là tôi điên, khi mà cho là ở tù là một điều may. Nhưng thực tế nó là như thế đấy. Trong một điều kiện nhất định nào đó, tôi hoàn toàn tự do khi suy nghĩ và cũng chẳng lo gì chuyện đói no. Hơn thế nữa tôi còn có hàng khối thời gian để học hành, thậm chí có thể làm những điều mình thích. Tôi đã từng cảm nhận và thụ hưởng những cảnh sắc đẹp mê hồn của thiên nhiên là gì? Trên thế gian này thử hỏi được bao nhiêu người có đủ điều kiện để nhìn ngắm những đổi thay của vạn vật và cảm nhận những ban tặng của thiên nhiên. Có ai nếm được cái vị ngọt tuyệt vời của cơm nguội và một dúm muối ớt chưa? Dù rằng cái món này đã có khối người ăn, nhưng có lẽ khi ăn thì trong lòng họ mang đầy ẩn ức, cái ẩn ức đó che lấp hết những cảm nhận mà cơ thể họ có quyền thụ hưởng. Có lẽ ai đó cho là tôi điên. Nhưng không sao, tôi cứ thỏa sức cảm nhận những gì phù hợp với thân xác tôi, tâm hồn tôi. Tôi nhớ lại những quan hệ của mình trong những ngày ấy. Những phát biểu của tôi hơn phân nữa là những phát biểu động trời. Tất nhiên. Tôi có lựa chọn người nghe, không phải vì muốn chứng tỏ mình mà muốn giải bày, muốn thỏa mãn những thú vui tinh nghịch. Kể ra cũng đã thiệt. Nhưng cái đã nhất là tôi không nhìn thấy những oái oăm của cuộc sống trong thời gian ấy.
            Tôi đã thu nhận những hạt nhỏ li ti nhưng vô cùng quý giá trong cái môi trường khắc nghiệt nhưng yên tĩnh này. Ở đó, những giá trị đích thực về phẩm giá, nhân cách và cả sức khỏe của con người được phô ra rõ ràng, trần trụi. Những bộ đồ diêm dúa không còn, những chiếc mặt nạ rơi xuống. Và khuôn mặt rất con người với làn da thực sự được phơi bày, ai mụn cám, ai mụn cơm, ai mặt rỗ, mặt ai dầy, ai môi mỏng Mọi thứ lộ ra tất tần tật, tự nhiên, không che dấu, không gian dối. Và phẩm giá của một con người nào đó ra sao? Tự thân họ thể hiện ra ngay chóc. Không cần phải đánh giá làm gì cho mắc công. Tất cả đều thật và trần trụi, đến thầy tu cũng cùng chung một màu áo xám xịt có đóng cái mộc ghi hai chữ “ Cải Tạo”. Tôi học được rất nhiều điều. Và khi hôm nay trở lại cuộc sống, thấy những đổi thay của nó, những giây phút ban đầu tôi có đôi chút ngỡ ngàng, nhưng không có gì phải ngạc nhiên. Chẳng những thế, nó còn xác định cho tôi thấy những nghĩ suy và thái độ “mọi cái rồi sẽ qua” của tôi cũng không đến đỗi nào. Tôi là ai, điều này đã được khẳng định. Nhưng làm được cái gì trong cuộc sống này, thì chắc cần phải một thời gian nữa

            Vợ chồng Nam làm ăn thất bại. Tôi mở cái tiệm vẽ sống qua ngày. Một miếng tol làm bảng hiệu cho chính mình, hàng xóm cho. Những cây cọ tự làm lấy. Cây thước nhờ Nam tìm miếng gỗ bào cho thẳng thớm. Thước tất thì xài thước xếp của thợ mộc. Ai đặt bảng phải đưa tiền mua tol, mua sơn. Xe gắn máy, tivi, một bộ đồ tinh tươm nằm ngoài tầm với. Với chiếc xe đạp chỉ có hai cái bánh. Tôi, vai vác thang tre, túi quần giắt bó cọ, ghi đông treo giỏ nước sơn. Tôi chạy long rong từ trung tâm thị xã ra tới ngoại ô. Có những lúc đeo tòn teng bên hông tàu kẽ số và đã bao lần rơi tỏm xuống sông, rồi lóp ngóp bò lên vẽ tiếp. Lãnh bảng đem về nhà thì để trong hẽm hoặc lề đường. Suốt ngày nắng lẫn ngày mưa. Trèo lên tuột xuống cây thang tre, cạo cạo, sơn sơn, tô tô, kẽ vẽ. Cứ thế, ngày tháng đi qua. Nhọc nhằn, nhưng Yên ổn. Bình lặng…
           Khi mở cái tiệm vẽ, những người chung quanh bày cho tôi lập cái bàn thờ, thờ ông Thần Tài và ông Địa, mỗi sáng đốt nhang, một ly café đen, một điếu thuốc, buổi chiều đốt nhang, khỏi thuốc, khỏi café. Chắc có lẽ sợ buổi tối ông Thần Tài và ông Địa mất ngủ. Không hiểu sao mà tôi lại làm theo. Đôi khi ra chợ, hay đi đó đây, thấy ai cũng làm y như thế. Cũng được, người ta làm sao mình làm vậy. Thế là ngày ngày đốt nhang, café, thuốc lá cho hai cái tượng đất nung. Tội cho hai ông, cái bàn thờ cũng chẳng tinh tươm gì lắm, đã vậy cứ được chuyển hết nơi này sang nơi khác và tôi cũng không siêng cho lắm, nên một ngày có mà lắm ngày không.
            Trong hoàn cảnh như thế, tôi phải có một cách nào đó để sống cho tinh tươm, ít ra là cái bộ vó. Cũng may lúc này quần áo sida bày bán tràn lan. Mười ngàn một bộ, mặc xem khá oách. Nhưng nhìn thấy vợ tôi phải mặc một bộ đồ thuộc loại này thì tôi không chịu nổi, nhưng chẳng biết làm sao. Đành nuốt đắng vào lòng. Muốn nghe nhạc hay xem tivi thì tôi lại không thể nghễnh cỗ qua khung cửa sổ nhà hàng xóm. Thì thôi. Thèm một cuốn sách, một tờ báo cũng không dám mua. Thì thôi. Nhưng dù sao cũng có cho tôi một cái cảm giác mới. Cái cảm giác là mình đang được sống thực sự bằng cách bán được những giọt mồ hôi của chính mình để tự nuôi lấy mình. Chỉ có một điều hơi buồn là tôi bắt đầu quá trễ, ở tuổi bốn mươi hai. Tôi đã phung phí quá nhiều tuổi trẻ, sức lực của mình hay ai đó đã phung phí dùm tôi?. May mà còn được cây đàn ghita, những lúc buồn ngồi gãy lưng tưng và miệng hát nghêu ngao. Không nuốt trôi những bản nhạc đỏ, không thể rên những bản nhạc vàng. Thế là, cứ hết Trăng Rụng Xuống Cầu[iv] thì lại Gạo Trắng Trăng Thanh[v]. Thỉnh thoảng vắng người thì Hoài Cảm, Thu Vàng[vi], một đôi khi thì Bây Giờ Tháng Mấy[vii] Cũng được, đầu óc nhẹ nhàng, tâm hồn thoải mái để còn sức trèo lên tuột xuống cây thang tre.
             Tôi đón mừng cái tết đầu tiên có hơi ấm và hương khói gia đình. Không một đồng xu dính túi. Vợ chồng Nam đưa cho mấy chục ngàn, chuẩn bị sẵn cho một giỏ bánh mức trái cây để hai vợ chồng dắt díu nhau về quê ăn Tết mà có cái gì đó dọn lên bàn thờ. Tất cả các em đã chuẩn bị sẵn sàng cho mẹ tôi. Và tôi chỉ về ăn và đi long rong hết nhà ngưòi này, đến nhà người khác. Ngồi nói chuyện tào lao thiên địa cho ngày mau hết, cho đêm mau qua. Và những ngày tết ấy nhanh chóng đi qua.
             Đang loay hoay với những khó nghèo, với những ước mơ đứt quảng. Tôi nhận được một đề nghị rất hấp dẫn. Có một bà mặt hoa da phấn, lạ hoắc, lạ huơ đề nghị đưa cho tôi ngay tức khắc mười lượng vàng để nhận lấy cái giấy ra trại của tôi, sau đó thì cứ nằm chờ ngày lấy vé máy bay cùng bà ta đi Mỹ với tư cách vợ chồng. Qua tới nơi, thấy được ở luôn, không thì rả đám. Thời gian nằm chờ có người cung cấp cho tiền xài, miễn sao đừng sa đà vào thuốc lá, rượu bia. Một hợp đồng tình yêu với những điều khoản rõ ràng tách bạch đến lạnh lùng. Quả là trong hoàn cảnh túi không, lưng túc mà nhìn thấy mười cây vàng lấp lóa dưới ánh nắng ban trưa, lại thêm một cú đi Tây ngoạn mục, thì họa có nằm mơ cũng không nhìn thấy. Nhưng khổ thay. Có ba cái làm tôi không dứt ra được. Đó là ngôi mộ của ba tôi sau vườn nhà ở trong quê, đôi mắt già nua của mẹ tôi và đứa con sắp ra đời. Còn nhiều thứ nữa mà nhất thời tôi chẳng nhớ ra. Có một vài người cho là tôi ấm đầu. Cứ qua bên ấy gởi tiền về là mọi vấn đề được giải quyết ngay thôi. Lại một thực tế đến lạnh tanh! Nhưng tôi thì lạnh quá lâu rồi, đang rất cần hơi ấm. Thế nên, chẳng cần phải suy nghĩ lâu la gì. Tôi cố gắng mà từ chối thật nhẹ nhàng, lịch sự để sau đó nhận lại một cái nhìn với đôi mắt mở to vì ngạc nhiên, rồi tiếp là một tiếng thở dài. Ôi người đàn bà sắc sảo và đỏm dáng này khi thở dài mới đẹp làm sao?
            Trong lúc này, Liên Xô tan rả và khối Varsava không còn, những biến động chính trị trên thế giới dồn dập. Và một luồng gió lạ thổi vào, mà tác động của nó rất dễ gây cảm cúm! Lại một lần nữa cái tính lơ đễnh của tôi lại lùa tôi đi chệch hướng gió. Trong khi thiên hạ tha hồ bàn tán, suy luận và lắm em sổ mũi, nhức đầu. Phen này coi bộ cái tính lơ đễnh có vẻ đắc dụng đây. Tôi vẫn cứ tà tà trên cây thang tre, với những nhát cọ đủ màu để đổi lấy những nhúm tiền nho nhỏ vừa đủ cho việc sinh tồn và dăm bộ quần áo quằn quện bụi, sơn, mồ hôi che chắn cái thân thể còm nhom, nhưng thơm phức mùi nắng gió (?). Nhờ thế, tôi có thể mua được sách báo. Thú vui của tôi. Có lẽ mãi mãi như thế. Và tôi đặt mục tiêu cho mình phấn đấu; sau năm năm tôi phải có một ngôi nhà, nếu không thì cái chòi cũng được, nhưng phải là của tôi. Vâng cái chòi của tôi, để có một nơi mà chứa sách (?).

              Nhưng bây giờ thì là cái chòi che tạm trước sân nhà dì tôi, sáu mét vuông. Cũng được, dù sao thì khi chui ra, chui vào cũng không phải chờ người mở cửa, cũng không nơm nớp sợ người khác phiền lòng. Tôi bắt đầu chuẩn bị cho ngày con tôi chào đời. Nhưng trước tiên hãy tìm cách mua cho vợ tôi một bộ quần áo cái đã.
               Xếp vội cây thang cho gọn gàng, gởi lại giỏ nước sơn và bó cọ cho cửa hàng. Tôi nhận được sáu mươi ngàn tiền công vẽ bảng. Đạp chiếc xe cọc cạch qua chợ, tôi hơi run, lâu lắm rồi không vào chợ. Giá cả ra sao, mua bán thế nào với những món hàng mà tôi chỉ mua ở lề đường. Mang tiền về cho cô Út mua hộ thì được thôi. Nhưng tôi muốn tự tay mình. Thôi thì bấm gan chui vào mua đại. Cũng không có gì gọi là ghê gớm lắm, chẳng qua là quên đi một thói quen. Cầm xấp vải trên tay, tôi mang vào lòng một niềm vui, mặc cho cô hàng vải trố mắt nhìn một anh chàng kỳ cục, mua áo quần cho vợ thuộc loại hàng chất lượng, không mặc cả mà bản thân mặc bộ đồ như nùi giẻ lau. Khi móc tiền ra trả, cô hàng vải đưa tay ra thay vì nhận tiền thì lại giở cái nón bàng trên đầu tôi, tôi chưa kịp phản ứng thì cô ta la lên:
            - Trời đất. Ông Hiền đó phải không?
            Tôi hơi ngạc nhiên :
            - Vâng. Tôi đây, sao chị biết tôi?
            - Mai nè. Ông quên tôi à?
           Tôi ngớ người, Tôi quen ai mà có thân hình đồ sộ thế kia. Thấy tôi ngần ngừ cô tiếp:
            - Mai hồi đó thường hay đi chùa Tam Bảo đó.
           - À. Thì ra là cô Mai. Tóc tai ngắn ngủn thế này. Vóc dáng lại to đùng thế ấy, làm sao mà tôi nhìn cho ra? Hồi đó đâu có như vậy?
             Mai cười ngất:
            - Tôi thì thế đấy. Chả bù lại ông giữ eo sao mà dữ dội vậy?
            - Đi làm thuê thì phải thế.
            - Rồi mua vải cho ai vậy?
            - À mua cho bà xã một bộ đồ. Bà ấy mặc đồ cũ suốt.
         - Chà. Bộ bán được thơ à. Có cần tôi đọc cho ông nghe bài thơ Mua Áo của Đông Hồ không?
           - Thôi cô Mai ơi. Thơ thẩn gì nữa. Chạy gạo là muốn hết hơi rồi. Thôi cô nhận tiền giùm cho.
           Mai đưa tay nhận tiền vừa nói nhỏ:
          - Nhanh thật ông Hiền nhỉ? Mới đây mà già hết rồi. Hôm nào ông có rảnh, tôi mời ông đi uống nước. Nói chuyện tào lao cho đỡ buồn. Coi bộ ông cũng thương vợ dữ hén. Chừng nào ông mua cho ông tôi giảm giá năm chục phần trăm.
           Tôi lại phì cười:
           - Giảm chi mà nhiều thế. Làm sao mà lời?
         - Ông ốm nhách thế kia. Tôi đo phân nửa vải là đủ. À mà bộ xứ Rạch Giá này hết đàn bà con gái sao mà ông chạy tuốt lên Sa Đéc thế?
           - Phân nửa tỉnh này chớ ít ỏi gì. Nhưng ai cũng chê tôi ốm. Đành phải đi xứ khác chớ sao?
           - Ôi. Một ông chồng hết xẩy. Thế mà để vuột sang tay người xứ khác. Uổng thật.
Tôi định trả lời câu gì đó, nhưng lại có khách đến mua hàng. Mai lại tiếp khách và tôi đành im lặng. Một thoáng quá khứ trở về. Với bài thơ duy nhất được đăng báo mà tôi lộng giả thành chơn, may mà cô ấy không biết. Thấy khách cứ đến hỏi mua hàng khá đông, tôi tần ngần từ giả Mai, rồi đi ra khỏi chợ. Ánh nắng chiều chấp chới. Con đường vào chùa Tam Bảo khá lâu rồi tôi không đi qua. Hơn hai mươi năm rồi còn gì, mà có xa xôi gì cho cam, cách nơi tôi ở không đầy năm trăm mét.

            Cuộc sống có vẻ như dễ chịu hơn rất nhiều so với những ngày đầu mới thống nhất. Nhưng hậu quả của sự sai lầm trong các chính sách kinh tế là quá lớn lao. Đến khi nhận ra thì chẳng biết phải sửa chữa ra làm sao? Cũng những con người của thời bao cấp ấy, bây giờ đang ra sức rao giảng kinh tế thị trường. Cái thứ mà một thời gian dài họ lớn giọng phỉ báng và dồn hết sức lực để triệt tiêu. Trong khi nền sản xuất trong nước gần như không có gì? Buôn lậu và mọi hình thức vi phạm các nguyên tắc kinh tế, tài chính tràn lan. Muốn đúng thì nó đúng, muốn sai nó thành sai Không riêng vì trong lãnh vực này mà cả trong những lãnh vực khác; văn hóa, xã hội, văn học nghệ thuật, báo chí và cả tivi Mọi người đều hiểu và hành xử theo quan điểm của riêng mình và từ đó để lại quá nhiều tai hại. Cán bộ phạm luật, dân phạm pháp mà khổ nổi không ai biết mình phạm ra làm sao? Tôi nhận ra và biết một cách mù mờ về vị trí của mình. Lần gặp lại Mai, cô ấy đã nhắc nhớ cho tôi một thời “thơ thẩn”. Tôi thèm một cuốn tập và cây viết. Nhưng rồi, tôi nhớ lời dặn của anh Thanh khi đưa tôi ra khỏi văn phòng “Em chỉ có viết báo cáo và tờ tường trình, hay cùng lắm là viết thư tình“. Một ông tướng hét ra lửa, mửa ra khói đã gởi đến cho tôi một lời khuyên đắt giá, mang tính tiên tri. Và bây giờ tôi phải tâm phục khẩu phục làm theo, vì đã bao lần những gì tôi định viết đều là những chuyện chẳng phải viết để chơi. Mà toàn là muốn viết những chuyện chết người. Nhưng khổ nỗi, giờ đây đang thèm. Với lại, quan làng gì đâu mà phải báo cáo. Làm bậy hết nổi thì ai mà bắt phải viết tường trình. Tuổi này còn yêu ai nữa mà viết thư tình, viết bậy, gởi bậy là phun máu đầu. Thế là tịt. Với lại còn phải kiếm cơm. Những ước vọng của những ngày mới lớn lại thêm một lần lóe lên cơn thèm muốn. Nhưng lần này trôi theo mồ hôi đi mất biệt.

            Đang đứng trên thang cạo bảng. Tôi nghe ai đó kêu mình, tôi ngoái lại nhìn xuống. Nắng chói chang đâu có nhận ra ai, chỉ thấy bàn tay ngoắc ngoắc. Tôi tụt xuống, gỡ cái kiếng làn rồi đứng lặng người. Út Giữa. Cô ấy nhìn tôi với nụ cười và hai giòng nước mắt chực ứa ra. Một lát sau cô ấy bệu bạo:
            - Em hay mình về. Rồi nhận được thơ mình gởi. Lên tìm mình hai lần, thấy chị mang bầu, em không dám tới. Lỡ xảy ra chuyện gì cho chị là cả hai đứa mình chết cứng. Nhìn cái nhà mình em muốn rụng rời. Mình bây giờ cực khổ đến vậy sao? Mình nghỉ tay một chút đi uống nước với em.
Tôi im lặng thu dọn đồ đạc, xếp gọn lại cây thang. Rồi dẫn xe và cô ấy tìm một quán café. Cô ấy mang đến cho tôi một tấm lòng và một cơn giông bão.
- Sao mình không nói gì với em hết vậy? Cô ấy khẽ khàng.
-  Hai con sao rồi em ?
- Thằng Hậu đang học lớp sáu. Thằng Hoà lên cấp ba. Nhưng nó là con lính ngụy nên trường không nhận. Em không biết tính sao bây giờ? Tội nghiệp, nghe mấy thầy, cô nói con nó học giỏi lắm. Cô Chín mấy ngày nay cứ hết nhằn nhện, thì lại thở vào, thở ra. Chẳng biết phải làm gì? Mà nín thinh thì cô ấy lại chửi em.
         Tôi chết đứng. Cái việc này là lỗi do tôi hoàn toàn. Tương lai của thằng bé thế là hết (?). Trong tất cả thiệt thòi mà đời người phải gánh chịu, cái việc không được học hành là một thiệt thòi lớn nhất. Lẽ nào nó lại đổ xuống đầu thằng bé. Nó có tội tình gì ?
           - Thôi đi, mình đừng buồn. Miễn làm người đàng hoàng là được mình hén. Con nó ngoan lắm mà. Với lại, mẹ con em bây giờ sống rất khỏe. Mười công đất em mua với năm công cũ nữa là mười lăm, còn cái tiệm nữa. Mình đừng lo gì cả, khi nào mình thấy được thì đến thăm con. Còn em, thì em nhớ mình. Nhưng em biết mình khổ tâm. Cái này là tại em. Nhưng em nghĩ kỹ rồi. Em chỉ xin mình một việc thôi. Khi nào em ngủm, dù trước hay sau mình, mình cũng cho em nằm kế một bên. Nhưng thôi chừng nào tới sẽ tính. Bây giờ tính chuyện của mình nè. Em biết mình bây giờ khổ lắm. Em đã bán một trăm giạ lúa mang lên hết cho mình, mình lấy nghen. Hổng lấy em giận cho coi. Mai mốt vô thăm con, em không cho mình ăn cơm, còn bắt ngủ mình ngoài sân.
Cô ấy đang cố làm cho tôi cười, nhưng quả tình tôi cười không nổi. Tôi im lặng nhìn cô. Lúc này trông cô ấy đẫy ra, mái tóc vẫn mượt mà, bới cao lên. Ánh mắt sáng ngời sự thách thức đang cố gắng che dấu một ước muốn cháy bỏng. Hơn ai hết tôi biết ước muốn đó. Cô ấy đã từng không che dấu là chỉ có tôi mới mang tới cô ấy cái thứ đó. Nhưng khốn khổ thay chúng tôi đã có một sự lựa chọn sai lầm. Dù cho cái chân tình mà cô ấy dành cho tôi là trọn vẹn. Còn tôi? Hai ly café mang ra chúng tôi chỉ khuấy. Bổng dưng tôi nhớ ra:
          - Bây giờ anh nói mình nghe thế này. Việc thằng Hòa để anh lo. Dứt khoát con nó phải được đi học. Việc này có cái gì đó khuất lấp. Còn việc vợ chồng mình thì anh nói như vầy. Anh hỏi mình, trong hoàn cảnh như vầy mình có còn xem mình là vợ của anh không ?
            Cô ấy trợn mắt nhìn tôi :
           - Mình nói vậy là làm sao? Em không phải là vợ mình thì là vợ ai. Có làm đám cưới đàng hoàng đó nghe.
          - Vậy thì anh nói gì mình cũng phải nghe. Phải không ?
            Cô ấy không trả lời mà nhìn tôi trân trân. Tôi nói tiếp :
        - Mình phải nghe anh việc này. Cấm không được cãi lại. Nếu cãi lại là anh không bao giờ xuống dưới nữa.
           - Mình nói đi em nghe. Từ ngày đó tới giờ mình bảo thế nào, em làm thế đó, có cãi gì mình đâu?
          - Đúng. Nhưng có một việc mà anh nói hoài mà mình không làm theo, nhưng bây giờ thì phải làm.
           - Đâu có. Việc gì em cũng làm theo hết mà.
          - Thôi được. Thế thì từ đây về sau cái gì anh cũng chiều mình, nhưng chuyện này thì mình phải nghe anh.
           - Rồi mình nói đi. Mình bảo em lên trời, xuống đất gì em cũng đi hết.
           - Đừng bao giờ mang tiền cho anh. Hãy để đó mà lo cho con. Không có nhưng nhị gì nữa.
Mặt cô ấy như xanh lại và hai giòng nước mắt chờ chực ứa ra. Đôi môi cô ấy mấp máy, rồi bệu bạo cái gì đó. Tôi cố vỗ về :
          - Mình biết không ? Mình làm như vậy anh cảm thấy khó chịu. Đàn ông, đàn ang mà như thế thì còn ra gì? Anh đã không bảo bọc được mẹ con mình, mà cứ xòe tay ra. Mai kia mốt nọ, phải ăn nói làm sao với con cái đây. Vợ chồng với nhau thì cái gì cũng được. Nhưng đã làm cha, làm mẹ thì phải đàng hoàng được chút nào hay chút nấy. Mình thương anh thì mình đừng nghĩ đến chuyện đó. Anh năn nỉ mình. Được không?
           - Mình đang khổ sở như vầy, mà mẹ con em thì dư dả được chút ít. Thấy mình như vầy, mẹ con em làm sao mà chịu nổi? Cô ấy nói trong nước mắt.
          - Cái gì mà không nổi. Anh hứa với mình. Anh đã có công ăn việc làm rồi. Ráng vài năm nữa là có nhà cửa đàng hoàng thôi. Chịu không? Chừng nào thằng Hòa cưới vợ. Hai vợ chồng mình xúm lại lo.
          Cô ấy cười mà miệng thì méo xệch :
        - Em nghe lời mình. Nhưng mà chỉ chuyện này thôi. Nhớ là hổng có cái vụ, mai kia, mốt nọ rồi biểu em kiếm chồng khác à nghe. À mà bao giờ thì chị sanh hả mình.
         - Chắc tháng sau. Nhưng thôi em đừng có nghĩ tới việc đó. Bây giờ thì về và lo cho con. Và chỉ bấy nhiêu thôi. Chuyện thằng Hòa thì anh sẽ cố gắng. Có gì thì anh cho mình hay sau.
Tôi hỏi cô ấy kỹ càng lại việc của thằng Hoà, xem coi nguyên nhân nào xảy ra chuyện này, rồi kêu tính tiền, cô ấy chuẩn bị móc tiền trả. Nhưng tôi trợn mắt nhìn cô ấy và thử xem quyền hành của tôi được bao to. Cô ấy vội để yên tay mình trên túi áo. Trả tiền xong cả hai đứng dậy, tôi kêu xe ôm cho cô về bến đò. Tôi cũng chẳng lòng nào mà đi cạo bảng. Thế là về nhà quăng giỏ đồ nghề vào góc giường. Rồi đi tắm.
             Vợ tôi sắp sinh. Thấy hoàn cảnh của tôi, cửa nhà không có. Tiền bạc lại càng không. Bà ngoại của cháu từ Sa Đéc xuống rước vợ tôi về để lo việc sinh đẻ, để cho tôi rảnh tay kiếm tiền. Chỉ có một mình, nên tôi kiếm gì đó ăn. Xong nằm hút thuốc và giờ này tôi mới thấm thía cái câu “ Trồng trầu thì phải khai mương. Làm trai hai vợ phải thương cho đồng“. Việc này xem ra nghiêm trọng đây về cả hai phía tình cảm và luật pháp. Tôi dính dáng với Quyên hay Huy sau ngày cưới vợ, chẳng qua là cái một một dạng lăng xăng, lộn xộn của đàn ông. Chưa bao giờ tôi có cái suy nghĩ là phải tạo ra hoàn cảnh này. Tôi luôn luôn hiểu rõ là mình phải làm gì khi đã có gia đình. Vẫn yêu họ, nhưng bảo tôi gây ra một hậu quả nào đó thì có cho kẹo tôi cũng không dám. Và tôi làm được, không phải vì biết kềm chế mà tại vì nhát. Nhưng với Út Giữa thì quả tình tôi chết cứng. Từ một sự cảm thương, một sự yếu lòng trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt mà tôi phải chịu đựng. Tôi buông tay và xem đó như một cứu cánh. Tôi hại tôi, tôi hại người. Anh Văn đã cảnh báo tôi bao nhiêu lần rồi. Sự lơ đễnh của tôi đã đẩy tôi vào lối khó. Cô ấy dứt khoát sống chết với tôi, dù có thiệt thòi cách mấy cũng cam.
         Tôi soạn lại giỏ đồ nghề, sợ mấy lon sơn bị đổ. Tôi hết hồn khi thấy gói giấy. Tôi run run mở ra. Tiền. Hơn hai triệu đồng. Cô ấy lén bỏ xấp tiền vào giỏ nước sơn. Tôi thẩn thờ gói lại vừa tức vừa xót xa. Tôi đưa mắt nhìn quanh, căn nhà trống hoác. Cất ở đâu đây? Không lẽ mang theo kè kè bên mình.
        Tôi thay quần áo, rồi khép hờ cửa lại, đạp xe đến nhà thằng Trung, bạn học ngày nào, bây giờ là thầy giáo. Cũng may gặp nó ở nhà. Bạn bè lâu ngày gặp lại, nó nhìn tôi hơi ngạc nhiên. Bởi vì nó đã mấy lần mời tôi đến nhà chơi. Nhưng vẫn lần lữa mãi, hay nói đúng hơn là tôi không muốn đến.          
         Hai thằng vào nhà, nó hỏi ngay :
         - Mày đến tìm tao là có chuyện. Thế thì chuyện gì? Tao là thầy giáo, khả năng giúp cho mày cũng không lớn lắm đâu ? Nhưng, nếu được thì sẵn sàng.
Tôi nhìn nó, cười cười:
        - Tao nhờ mày một việc, mà tao nói thì mày sẽ rất ngạc nhiên. Nhưng cái đó giải thích sau. Bây giờ như thế này. Thằng con tao, năm nay lên cấp ba. Nhưng cái lý lịch của nó vướng phải cái tên tao. Nên trường cấp ba nơi nó ở, không nhận với lý do không còn chỗ. Nhưng tao biết là tại vì nó là con tao.
          - Cái gì? Mày có một thằng con học cấp ba? Ở đâu mà chui ra vậy?
          - Thì tao giải thích sau mà. Hỏi chi mà lắm thế?
          Trung lắc đầu rồi hỏi tiếp:
           - Sao mà kỳ vậy?
          Tôi không hiểu Trung nói kỳ cái gì? Tôi có con hay là vì cái lý lịch. Tôi trả lời phân hai:
           - Tao không rõ lắm, mẹ nó nói thế.
           - Bây giờ làm gì còn cái vụ lý lịch? Trường nào ?
           Tôi nói cho nó nghe tên trường, rồi tiếp:
           - Tao có biết gì đâu, nghe thằng nhóc nói vậy. Nên tao mới tới đây.
           Trung nói :
         - Thôi được. Vụ này chắc có khuất lấp gì đây? Hiệu Trưởng trường đó là học trò tao. Để ngày mai tao điện thoại cho nó. Bây giờ tao viết cho nó cái thư, mày cứ đọc rồi mang cho cháu và dặn nó phải trả lời ra sao với thầy Hiệu Trưởng của nó khi đưa thư.
          - Mày nói nhè nhẹ thôi nghe Trung. Ai không biết như vậy, nhưng ở vùng sâu có nhiều chuyện khá phức tạp. Mục đích của tao là cho cháu nó học.
             - Mày yên tâm. Ngồi chơi một chút tao viết cái thư.
           Trung lại viết thư. Tôi ngồi hút thuốc nghĩ vẫn vơ. Vợ Trung từ nhà trông ra thấy tôi, la um sùm :
            - Ông Hiền. Quá lâu mới gặp. Nghe anh Trung nói ông về. Mấy lần mời ông lại nhà chơi mà ông cứ mất tăm.
             - Thì bữa nay đến đây. Mấy cháu vẫn ngoan hả chị.
            - Con nít mà, đứa nào không nghịch. Ông biết không? Một chút nữa đây, tụi nó túm tụm về đủ thì ông bỏ chạy không kịp. Còn ông sao rồi?
            Trung quay lại nhìn tôi. Tôi trả lời:
            - Thì cũng vậy. Ráng mà bương chãi để kiếm cơm.
            - Ông cứ lơ tơ mơ suốt. Ông mà chịu bương chãi như người ta thì ai mà theo kịp ông?
             - Chị đánh giá tôi quá cao rồi?
            - Thôi ông ngồi chơi. Tôi làm một ít gì đó cho hai người.
            Tôi vội từ chối:
          - Thôi cám ơn chị. Chút nữa tôi với Trung đi kiếm café uống được rồi chị. Lúc này tôi không uống được rượu.
            Trung cũng vừa viết xong thư, mang đến cho tôi rồi quay qua bảo vợ:
          - Em lấy cho anh cái áo. Anh với Hiền đi uống café. Các con về, em và các con ăn cơm trước.

           Ở quán café tôi kể cho Trung nghe về lai lịch của thằng bé và hoàn cảnh của tôi. Trung chắc lưỡi hít hà :
          - Cái tính quân tử Tàu của mày báo mày đã đành, còn hại người ta. Bây giờ thì ráng gánh đi. Tao biết mày chẳng ham gì chuyện đó. Nhưng cầm lòng không đậu phải không? Thiệt tình, đàn ông bọn mình dỡ ẹc. Không có mấy bà kèm sát sau lưng là thua sát nút.
Dù đang lo, nhưng cũng phải phì cười trước những lời của bạn:
            - Mày cũng suýt thua?
          - Mày xem, làm hiệu trưởng quản lý mấy chục cô, mà hơn phân nữa không chồng hoặc chưa chồng, mày liệu xem nhắm mình mẩy tao bằng bê tông à?
            - Chà hôm nay vạch áo cho người xem lưng, không sợ bị phê bình nói xấu tổ chức à?
            - Cái gì thì còn lên gân được, chớ cái vụ này gân nào mà lên cho nổi. Cám ơn vợ tao, luôn luôn cảnh giác. Nhưng thôi, chuyện của mày nè. Cung cách cư xử của mày kiểu đó, bảo cô ấy không bấu vào mày thì bấu vào ai. Nhưng không lẽ làm khác đi. Thôi mày gây thì mày chịu. Hình tích ốm nhom, cửa nhà không có. Tao coi mày chắc chết phen này.
             - Thì ráng gồng tới đâu hay tới đó.
           - Tao thành thật khuyên mày. Nên dứt khoát đâu đó cho rõ ràng, cứ lơ lững kiểu này là chết. Tình hình cô ấy, theo mày nói thì khá ổn định, mày cũng yên tâm được một phía. Giữ một khoảng cách nhất định với cô ấy đi. Toàn tâm toàn ý lo cho vợ mày. Còn chuyện hai thằng bé thì sự quan tâm của mày thì nên dừng lại ở đây. Nhìn ngắm và âm thầm tạo điều kiện cho nó nên người thì hay hơn. Mày mà tới lui mãi, thêm nữa là đổ nợ.
            - Tao nghĩ chắc có lẽ phải thế.
            Chúng tôi chia tay. Trung nhìn tôi rồi lắc đầu:
           - Bạn bè với nhau bao nhiêu năm. Xa bẵng đi một thời gian, gặp lại nhau, thằng nào cũng đầy dẫy lo toan, không thế này thì thế khác. Nhìn nhau mà hết biết. Ờ, tao có gặp thằng Bầy mấy lần, nhưng mấy năm nay không thấy nó, không biết nó bây giờ ra làm sao. Nó hỏi thăm mày. Tao cũng chẳng biết đường mà trả lời. Hỏi thằng Thuật thì cũng vậy.
          - Thằng Thuật chết. Tao có nói với mày mà.
           Trung ngớ người :
          - Thiệt tình. Tao bậy thiệt. Khi nào gặp thằng Bầy tao phải xin lỗi nó mới được.
Đấy tình bạn bè của chúng tôi như vậy đấy, không vồn vã. Không đàn đúm. Thậm chí. Đôi khi còn chẳng để ý gì đến nhau.
              
Ngồi trên mui tàu, nhìn giòng sông trải dài trước mặt. Gió lồng lộng và ánh nắng lấp lóa. Hai bên bờ sông bây giờ và luôn cả một giòng sông mang cái dáng vẻ bình yên đích thực, dù cho cuộc sống còn nhiều khó khăn. Chiến tranh đã qua đi hơn mười lăm năm. Ngần ấy thời gian đã làm vết thương gần liền sẹo. Những chiếc xuồng qua lại đôi bờ chở đầy thanh thản. Chỉ riêng tôi thì khác. Khó khăn xưa đã hết, nhưng khó khăn mới lại đầy. Giòng sông vẫn hiền hoà có nói gì đâu. Chỉ có lòng tôi thì dậy sóng. Giòng sông này luôn chảy về tây, không có thói quen bên lở, bên bồi. Tôi là người sinh ra, lớn lên và tâm hồn thì gắn bó với giòng sông. Tôi cũng không thể bên bồi, bên lở. Nhưng hoàn cảnh này thì phải liệu sao đây? Và thằng Hòa. Cái lý lịch có một người cha ngang hông là lính Sài Gòn đang bị một cú vấp đầu tiên. Tôi bổng dưng lại nhớ bạn bè tôi, những người như tôi và con cháu của họ.
Chiếc đò dọc chở tôi đi dọc theo con rạch, tùy theo những nghĩ suy mà tôi thấy lúc chậm lúc nhanh. Nhưng rồi cũng đến, những thân tình vở òa ra niềm vui và đẩy vào lòng tôi bão tố. Cô ấy nhìn tôi, đôi mắt e dè nhưng rực sáng vui mừng. Hai thằng bé hai bên và lòng tôi chợt ấm. Nhưng chợt nhộn nhạo lên vì biết đang có một sinh linh do tôi tạo nên sắp sửa chào đời, đang ở phía bên kia sông. Ngôi nhà thật sự khang trang với những tiện nghi nhiều hơn. Và cô ấy bổng nhiên trở thành đứa trẻ, khi hai thằng bé hai bên và cô ấy sau lưng, tôi đang bị vây chặt và không còn sức để mà đề kháng. Mà đề kháng để làm chi? Ba mẹ con dẫn dắt tâm hồn tôi. Nhào nặn nó theo ý mình và tôi chỉ còn có một cách duy nhất là buông tay, cũng như đêm nào tôi để cho giòng sông đùa đẩy tôi về cõi sống.
Mọi việc đã tương đối lắng xuống khi cô ấy ra nhà sau. Tôi hỏi thằng Hòa, thằng Hậu về việc học hành. Thằng Hậu thì tíu tít khoe khoang. Còn thằng Hòa, tôi biết nó buồn. Tôi bảo :
- Con này. Ngày mai con đem lá thư này cho thầy Hiệu Trưởng trường cấp ba. Chỉ có thế là con sẽ được đi học. Nhưng với một điều kiện là con phải học thật giỏi, nếu không thì bác Trung rất buồn. Sau này ba sẽ nói cho con nghe bác Trung là ai. Con làm được không? Mới nhập trường có nữa tháng. Con vào trễ phải học cố vào.
Thằng Hậu la lên :
- Đó anh hai thấy hông. Em nói ba mà biết là xong ngay mà. Rồi nó quay sang tôi, Ba mà ở trong này thì đố ai dám ăn hiếp anh em con.
Tội nghiệp con tôi, nó biết cái gì đâu ? Tôi xoa đầu nó, nói với nó như nói với chính mình :
- Ba ở đâu cũng thế. Ba luôn luôn nhớ và lo lắng cho các con, ba không để ai ăn hiếp tụi con đâu ?
Tôi nhìn quanh căn nhà, đã có thêm nhiều tủ hàng. Cô ấy bán gần như thượng vàng hạ cám. Tấm ảnh của tôi vẫn còn đó và tôi hiện diện trong ngôi nhà này như một kẻ đã chết, chỉ còn thiếu cái lư hương là thành cái bàn thờ. Tôi bảo Hòa :
- Con trông nhà và bán hàng, ba ra sau nhà một lát nghe. Có ai đến mua con bán, nếu không biết giá thì kêu má con.
Tôi ra sau ruộng, một thảm lúa vừa mới cấy đã lột mình đang tô dần màu xanh mượt. Miếng ruộng mười lăm công tầm lớn, phẳng rang không lung gò. Nhìn sang thấy cái chuồng heo có một con heo nái và một bầy heo con. Những liếp rau thì nhiều hơn trước. Dưới cầu ao thì bao bọc chung quanh nào là ngò om, rau râm, cần nước… thấp thoáng bên dưới là mè vinh, rô phi Và một cái toillet khá tinh tươm. Tôi nghĩ thầm, cô vợ bé này dữ thiệt ta. Bổng một ý nghĩ đớn hèn len vào đầu tôi. “Hay là mình năng lui tới một chút cho khỏe tấm thân“. Tôi choáng váng trước ý nghĩ này. Tôi hèn đến thế sao? Tôi còn là tôi không? Tôi lắc đầu thật mạnh cho cái ý nghĩ này văng ra. Thật ra, nếu như thì việc tôi trở về đây là một điều thỏa đáng. Nhưng còn một sinh linh mang giòng máu của tôi sắp hiện diện. Tôi hít một hơi thật đầy không khí trong lành, mong nó rửa sạch những hắc ám trong tôi. Tôi không thể nhận ở nơi này bất cứ một thứ gì nữa, nếu có chăng thì chỉ là một nơi để nhớ về là quá lắm rồi. Chợt tôi nhớ những ý nghĩ của tôi về hai ánh mắt long lanh, xanh biếc của hai người đàn bà đã vì tôi mà có. Tôi hiểu ra rồi, không có một lỗi lầm nào mà không sửa chữa được, chẳng qua là mình không muốn, tôi phải thực sự cố gắng thôi; một người đàn ông còm cõi đa mang không thể thiếu cho hai người đàn bà và một người cha đích thực cho ba đứa con. Ôi, tôi cõng ai đi hết cuộc đời mình đây.
Ai đó chạm vào lưng tôi, và cái hơi hướm quen thuộc vì nhận được ngay, lạ lùng vì nó cuốn hút. Ánh nắng chiều tháng tám chói chang và cơn gió mang theo một đụn mây, cũng cơn gió ấy mang cho tôi một mùi hương mê đắm. Tôi chợt nhớ lời Trung, nhưng cái hiện thực quá ư tuyệt vời này làm cho ý nghĩ của tôi tê liệt và tâm hồn thì tan ra. Cả hai đứng như thế, im lặng. Cứ để cho cái đắm say đang giành quyền làm chủ.
- Má ơi. Bà cô vô má ơi. Tiếng hai thằng bé vang lên. Cả hai chúng tôi vào nhà. Vừa đi tôi vừa nghĩ thầm không biết cái gì xảy ra đây ? Một bà tuổi khoảng ngoài năm mươi, ăn mặc khá chải chuốt đang ngồi ở bàn giữa nhà. Cô ấy hỏi ngay :
- Cô Chín mới vô.
- Ừ mới vô. Tao vô đây về vụ của thằng Hòa. Khi thấy tôi, bà ấy đưa mắt nhìn. Tôi gật đầu chào. Út Giữa nói ngay :
- Cô Chín đó mình. Đây là ba mấy đứa đó cô.
- Cháu chào cô Chín. Tôi lắp bắp.
Cô Chín nhìn tôi, không phải cái nhìn dò xét, mà chỉ là thoáng qua như nhìn một người từng quen biết:
- Thì ra cậu là cậu Hiền. Tôi nghe con Út nó nói biết bao lâu rồi, mà tới giờ mới biết. Cậu trông cũng được đấy. Nhưng bà bỏ lửng câu nói, thở ra                                                    
Cả ba im lặng không nói một lời nào. Cuối cùng bà lên tiếng sau khi thở hắt ra một cái :
- Thôi dù sao cũng đã qua rồi. Tao vô nói cho tụi bây biết là có thầy nào đó điện vô nói cho ông Hiệu Trưởng nhận thằng Hòa vào học. Tao chẳng biết gì ráo chạy tuốt vô đây. Cũng may sẵn dịp này mới biết mặt thằng cháu rể.
Bà chấm dứt câu nói bằng cái giọng đâm hơi. Nhưng thôi. Lỗi tại mình mà. Tôi vội giải thích:
- Trung là bạn của cháu, cháu nhờ Trung nói dùm. Trung có viết một cái thư, cháu mang vô để thằng Hòa nó mang tới cho thầy hiệu trưởng.
- Hèn chi. Hồi trưa ổng chạy kiếm tao mấy chập. Biểu tao một hai phải vô rước thằng Hòa. Cũng ngộ. Khi khó thì khó quá trời, mà lúc dễ thì dễ hết biết. Thôi thằng Hòa chuẩn bị, lát nữa theo bà cô ra ngoải. Người ta đi học hơn cả tuần rồi.
Trong khi cô ấy chuẩn bị đồ đạc cho con. Cô Chín hỏi tôi:
- Rồi mày về, mày ở đâu, làm ăn ra sao ?
- Vất vả lắm cô ơi. Nhưng cũng phải ráng.
- Tao không hiểu cái số của con Út nó làm sao? Phải chi hồi đó mày để cho nó chết phức cho rồi. Thương tích kiểu đó, không chết vì ra hết máu cũng chết vì nhiểm trùng, vì phong đòn gánh.
- Thôi chuyện qua rồi cô. Cô trách cháu thì cháu chịu.
- Tao trách gì mày. Số của nó, nó chịu. Mà con nhỏ này, nó cũng gan trời. Cũng may là gặp mày không phải là thằng vô trách nhiệm. Cả đời cha mẹ nó, tao, rồi nó nữa. Dốt nát, nó khổ trăm bề. Thôi, hồi đó chiến tranh thì chịu. Bây giờ hòa bình rồi mà gặp toàn cái chuyện gì đâu? May là nó biết nói với mày. Không thì hai thằng nhỏ dốt nữa. Đời bây giờ chữ nghĩa không đầy lá mít thì làm giống gì mà ăn? Đó là nói chuyện mấy đứa nhỏ. Còn tụi bây nữa. Nội cái chuyện khai sanh của thằng Hòa. Tao nghe được, máu họng tao muốn trào ra? Mới mấy bữa chưa nguôi lại nghe nó có chửa với mày là tao nổi tam bành lục tặc lên ngay. Lấy ai không lấy, đi lấy thằng bá vơ. Tới chừng tao hiểu ra mọi chuyện thì tao mới thấy cái khổ tâm của tụi bây. Thằng chồng con Út này. Trên đời này có ai mà trả ơn cái kiểu kỳ cục vậy. Nhưng con Út nó có gì để trả cho mày, ngoài cái tấm thân đầy thẹo vít. Ấy vậy mà mày dám, mà quên đi con vợ mày ở nhà, kể ra mày cũng thuộc loại gan trời hai ba lá. Thế mà cũng tỏ ra có trách nhiệm, gồng gánh cũng ra trò. Ông trời thương tụi bây một đàng, báo tụi bây một nẻo. Cái vụ vợ đôi, vợ ba này mà lùm xùm ra là tụi bây lãnh đủ đó. Nhất là mầy đó, cái lý lịch đã lu bu lắm rồi. Ráng liệu mà cư xử với nhau sao cho êm đẹp. Chỉ cần hở ra một cái là thiên hạ dập cho mà te tua. Thấy tụi bây rồi tao mới thấy tao khỏe. Cứ một mình cho xong.
Bà nói một hơi, như sợ là ngưng lại thì sẽ không biết nói gì. Trong cái giọng nói cứng cỏi ấy hình như có pha chút ngậm ngùi. Út Giữa bước ra :
- Cô chín ở ăn cơm với vợ chồng con rồi hẵn về.
Cô Chín cười, nói giọng đâm hơi
- Nghe mày nói mấy tiếng “vợ chồng con” làm tao muốn dởn ốc. Nhưng đã biết là vợ chồng rồi thì liều liệu mà giữ gìn cho nó êm ái bên này, ấm áp cả bên kia. Thân làm bé mọn phải biết điều một chút nghe con. Tao nói con Út đó. Thôi tao về. Trời đang giông mưa, chạy ngoài sông lớn ngán lắm. Chạy trong rạch nhỏ mà tối không thấy đường thì mệt. Để bà cháu tao đi sớm. Thôi tao về. Thằng Hiền mày ở chơi với con Út rồi thu xếp về ngay cho. À. Út này khi thằng Hòa vô học rồi, mày có ra bổ hàng nhớ thu xếp ở với tao một buổi. Hay là nhờ ba mày giữ nhà, rồi dẫn thằng Hậu theo. Nè liệu mà cẩn thận nghe. Dính một cái bầu nữa là bà hú nghe con.
Út Giữa quay đầu, le lưỡi nhìn tôi. Rồi hai đứa ngượng nghịu đưa bà ấy và thằng Hòa xuống vỏ. Đúng là bà già giết giặc. Từ cách giựt máy cho tới việc quay đầu, lên gas. Đúng là dân vùng sông nước. Nhìn chiếc vỏ nhanh chóng mất hút sau rặng cây và nhớ lại những gì bà ấy nói, tôi có cảm tưởng như bà ấy muốn tốc độ học hành của con cháu bà phải nhanh như vỏ vọt vậy.
Chúng tôi trở vào nhà, trời đang vần vũ cơn mưa. Cô ấy tỏ vẻ lo lắng cho cô Chín và thằng Hòa. Thằng Hậu lên tiếng trấn an mẹ nó :
- Má đừng có lo. Bà cô mà đi đâu là mọi thứ phải có đủ.
Tôi thực sự ngạc nhiên về con mình, nó mới mười hai tuổi. Sự nhận xét của nó khá chuẩn xác. Tôi ôm con vào lòng rồi hỏi:
- Con học hành làm sao nói cho ba nghe.
- Năm nay trường con mở thêm cấp hai. Không thì con ra thứ ba học với anh hai luôn.
- Ba biết. Ba muốn hỏi con học có giỏi không ?
- Con phải học thiệt giỏi, ba và anh hai mới cưng.
- Lấy tập năm rồi cho ba xem.
Thằng bé chạy đi lấy tập. Tôi lật từng trang, từng cuốn. Tôi bổng đâm lo. Phiên bản của tôi đây rồi. Chữ viết đẹp. Tất cả đều tinh tươm. Nhưng toán thì không thấy được điểm 10. Tập làm văn thì câu cú đàng hoàng, ý tứ xem ra cũng không tệ so với tuổi của nó. Chẳng lẽ nó lại giống tôi cả cái kiểu này nữa sao? Hơi buồn buồn, nhưng thấy cũng hơi khoái khoái. Một cơn gió thốc vào, trời tối rất nhanh, trời sắp mưa đây. Tôi xếp đống tập lại nhìn nó, thằng bé đang chờ tôi một lời khen :
- Con khá lắm. Nhưng toán sao ẹ vậy con. Không có điểm mười nào cả. Ráng học toán cho giỏi.
Thằng bé vừa sung sướng, vừa ngượng nghịu. Tôi an ủi nó:
- Con cố gắng lên. Chăm chú nghe lời thầy cô trong lớp, về nhà lật sách ra làm bài tập. Cái nào không hiểu thì anh hai con về, con hỏi anh hai.
Cô ấy bưng mâm cơm ra và nói :
- Thôi hai cha con chuẩn bị ăn cơm, để một lúc nữa tối mò vừa ăn, vừa đập muỗi.
Bao giờ cũng thế, bữa cơm trong ngôi nhà này, giản dị nhưng ngon. Rất ngon. Hôm nay có thêm món canh mà tôi rất thích. Cá trê trắng nấu với đọt choại, nêm mắm. Húp từng muỗng canh như uống cả quê hương vào lòng. Đâu có ai ở hai bên bờ sông mà không ăn món này, một món ăn rất đặc trưng, mà những người không quen thì khó nuốt. Dân dã, quê mùa, nhưng không dễ gì quên. Vừa ăn thằng bé cứ nói hết chuyện này sang chuyện khác. Còn chúng tôi nhìn nhau. Tôi biết cô ấy đang lo về việc gói tiền, nhưng không dám hỏi. Được thôi. Tôi sẽ cho biết cô ấy thế nào là uy lực của một ông chồng(!?) Bữa cơm vừa chấm dứt thì cơn mưa cũng đến. Khi cô ấy đọn dẹp ở nhà sau. Thì cha con tôi tắm mưa. Những cơn mưa ở đồng quê bao giờ cũng mát mẽ trong lành. Hai cha con đùa giỡn ngoài sân, thì tiếng cô ấy hét lên :
- Trời đất. Vừa mới ăn cơm xong. Cả cha lẫn con kéo nhau dầm mưa. Rồi một hồi bệnh cho coi. Vô, vô ngay. Mình thiệt là tình.
Hai cha con tôi vào nhà, cô ấy lấy khăn lau cho cha lẫn con, vừa lau vừa cằn nhằn:
- Coi nè, mình mẩy lạnh ngắt thế này. Rồi, khô rồi đó, mình vô thay quần đi. Cái quần cụt em để trong buồng. Thằng Hậu lại đây, đưa rún cho má xức dầu cho. Ba con thiệt hết biết.
Tôi vào buồng. Mọi thứ đã sẵn sàng và tôi cũng không hiểu từ đâu ra. Bộ quần áo của tôi mặc khi vào thì biến mất. Trong đó có giấy tờ và gói tiền. Nhưng thôi, một lát nữa sẽ tính sau. Khi tôi bước ra thì cô ấy đã đứng ngay cửa tay cầm chai dầu:
- Giở áo lên, em xức dầu cho.
Tôi một tay giở áo, một tay ôm choàng qua vai. Cô ấy vừa xoa vừa nói, giọng pha một chút dỗi hờn :
- Của mình chớ của ai mà sợ mất. Giao hết cho mà lúc nhận lúc không.
Tôi lặng thinh vì hạnh phúc. Cô ấy xoa dầu xong, gỡ tay tôi ra, rồi nói :
- Em nói hoài, em chưa tắm. Đụng đâu ôm đó. Vô đây ở luôn chắc hết làm ăn. Ai tới mua đồ cũng thấy, riết chắc thiên hạ chạy hết.
Tôi cười cười :
- Kệ. Thiên hạ chạy hết. Mình cứ ôm nhau miết.
- Thôi à. Đừng có trây trúa quá đi. Vợ hai bà, con hai đứa rưỡi mà chưa biết sợ. Hổng nghe cô Chín nói hả?
- Ăn nhằm gì? Cô chín hù đó. Thêm đứa nữa có sao đâu?
Cô ấy trợn mắt nhìn tôi:
- Ừ, có sao đâu mình há
- Vậy thì thêm một đứa nữa?
- Mình điên thật. Bởi vậy ốm nhom.
Trời vẫn đang mưa nên tối rất nhanh, hai cha con tôi lại chui vào mùng giăng sẵn trên bộ ngựa xem ti vi. Nhờ có ánh sáng từ màn hình cái tivi chạy bình, nên ngôi nhà trông ấm ra. Chương trình hoạt hình dành cho thiếu nhi của đài Cần Thơ làm hai cha con cười thích thú. Thằng bé hỏi tôi :
- Ba ơi, tại sao phim hoạt họa y như là hình vẽ vậy. Người ta làm sao được như vậy hả ba.
Tôi lại phải đem hết khả năng để giải nghĩa cho con hiểu. Tôi cầm lấy tay con diễn tả cho nó biết một cữ động tay như vậy phải vẽ bao nhiêu hình. Rồi khi chụp vào phim phải làm sao. Lúc chiếu ra thì như thế nào mới tạo ra một cử động. Thằng bé có vẻ khoái chí. Thế là hết câu hỏi này sang câu hỏi khác. Có những câu rất ư hóc búa. Tôi đành thua và chỉ cho con phải hỏi ai và hỏi vào lúc nào. Cứ thế cái tivi vẫn phát hình, cha con tôi vẫn líu lo. Cô ấy ngồi ở võng từ bao giờ, cái lò un đã được đốt lên. Trời đã bớt mưa và muỗi bung ra như trấu vãi. Từ trong mùng tôi nói vọng ra:
- Mình vào đây ngồi với cha con anh. Ở ngoài đó một lát, muỗi khiêng đi mất. Cha con anh không biết đường kiếm nghen.
- Nếu khiêng được thì thiên hạ khiêng rồi. Cô ấy nói đầy ẩn ý. Nói vậy nhưng cũng chui vào.

Con đã ngủ say. Cô ấy nhờ tôi ra lấy cây đèn cho cô soi muỗi. Tôi chui ra, mang đèn đưa cho cô ấy, rồi men ra đám ruộng sau nhà. Ánh trăng thượng huyền mang đầy hơi nước, mưa đã tạnh, gió vẫn còn. Cái màu xanh dập dềnh và mỏng manh chạy dài dưới ánh trăng mờ. Cái khung cảnh này tôi suốt đời mơ ước, nhưng có lẽ nó chưa bao giờ thuộc về của tôi. Và cũng có thể không bao giờ thuộc về tôi, dù cho cuộc đời đang trao tặng. Hơn nữa cuộc đời, tôi ước mơ, tôi hoang phí. Phía bên kia hay phía bên này của giòng sông Cái Lớn và có lẽ cả đất nước tôi, những hình ảnh này lần hồi đã có nhiều người quên đi những hình ảnh tuyệt vời này. Thậm chí rất nhiều người xem thường. Để rồi đến một lúc nào đó, khi gặp lại thì ngỡ rằng mình đến một thế giới khác. Có thể vì những lo toan của cuộc sống, có thể vì đã đánh mất tâm hồn mình. Tôi mong rằng trường hợp thứ nhất nhiều hơn. Tôi bước xuống cầu ao, mùi nước mưa thoang thoảng hơi bùn, xen lẫn trong mùi hăng hăng của rau ngò om, rau râm khi bị cơn mưa làm dập lá.
Cô ấy bước xuống cạnh tôi, nói nhỏ :
- Vô nhà đi mình, đứng đó muỗi cắn chết.
Tôi cùng cô ấy bước lên, rồi nhẹ nhàng ôm cô ấy vào lòng. Tấm thân ấy run nhè nhẹ trong tay tôi. Lời của Trung thoáng nhanh qua trong đầu rồi bay biến. Chúng tôi hôn nhau như chưa bao giờ được hôn, cả hai bằng tất cả ý chí và cảm xúc của mình chúng tôi đã làm mọi việc để có thể tan biến và hòa lẫn vào nhau.
Buông nhau ra, cô ấy tựa vào tôi, nói nhỏ ;
- Vào nhà đi mình.
- Không, tôi ngủ ngoài này.
- Mình giận em phải không? Tại em thương mình mà.
- Cô thương tôi, sao tôi
Cô ấy đưa tay bụm miệng tôi lại :
- Mình đừng nói tôi tôi, cô cô nữa. Em năn nỉ mình mà. Mình vô nhà đi. Em cúi xuống cho mình đánh. Nhưng mình đừng có tôi tôi, cô cô một hồi là em mất thở.
Cô ấy lay lay tay tôi, rồi tiếp:
- Nghe mình, đừng giận nghe mình.
- Thôi. Không giận hờn gì nữa. Vô nhà, lấy cây roi và nằm xuống. Anh phải đánh mình một một trận, để xem còn cãi anh nữa hay không ?
Chúng tôi vào nhà, cô ấy đi đâu đó một lát rồi vào. Đưa cho tôi cây roi. Tôi vừa thương vừa tức cười. Tôi cầm cây roi, rồi nói:
- Cúi xuống.
Cô ấy nằm dài trên giường và nhìn tôi :
- Bộ mình đánh em thiệt hả. Đánh nhẹ nghe. Em biết lỗi mà.
Tôi thật sự bàng hoàng, bổng dưng tôi trở thành một tên ác độc dù đây chỉ là một trò đùa. Tôi buông cây roi, ôm cô ấy trong lòng tôi :
- Mình tưởng anh đánh mình thiệt sao?
- Em thấy mình tôi tôi, cô cô với em. Em hết hồn. Nhưng em thương mình thiệt mà. Thấy mình khổ sở em làm sao chịu nổi.
- Cũng nổi với không nổi nữa. Thương anh, mình ráng lo lắng và dạy dỗ cho con. Như vậy là được rồi.
Hình như cô ấy sắp khóc.Tôi trấn an:
- Này đừng nhỏng nhẻo thế. Mình như vậy là mai anh về. Anh nói cho mình nghe. Tiền bạc không phải lúc nào cũng có, em phải phòng khi thế này, thế khác. Có bao nhiêu đưa anh hết bấy nhiêu. Rồi khi cần xài lại không có. Rồi thằng cha mắc dịch nào đó làm bộ ra tay giúp đỡ, thì kể như anh mất mình luôn. Lỡ mang ơn người ta rồi.
- Mình nói cái gì đâu không? Hổng có thằng cha nào mà em mang ơn bằng cái thằng cha đang nằm kế em. Thế mà em muốn trả ơn thằng chả còn không muốn chịu nữa kià.
- Trả một lần thôi, trả hoài làm sao trả nổi, đẻ cho anh hai thằng con trai rồi chớ bộ.
- Cái gì? Ờ há em quên. Thôi nằm yên để cho em thương mình coi.
Trong khi cô ấy đang mân cái thân thể còm nhom của tôi, thì những gì Trung nói văng vẳng bên tai. Tôi biết tấm lòng của bạn bè gởi đến cho tôi là đúng. Nhưng tôi không thể nói thành lời. Cô ấy toàn tâm toàn ý với tôi. Sự đơn giản trong tâm hồn, sự chân chất trong tình yêu, sự hy sinh không điều kiện. Thân thể cô ấy, hơi thở cô ấy và bằng hết một tấm lòng. Cô ấy đã dồn nén lại từng phút từng giây, rồi dâng hiến hết cho tôi không một chút đắn đo. Chỉ một thứ thôi, tôi cũng đủ hồn xiêu phách lạc rồi. Huống hồ chi tới ba bốn thứ. Nhất là cái hơi thở của cô ấy, lúc bình thường thì chỉ thơm thơm, nhưng khi đến bên tôi và thở gấp thì cái mùi thơm ấy lại đậm hơn và lại tìm ngay mũi tôi mà phả vào và tất nhiên làm cho tôi chìm nhanh hơn.

Khi cô ấy đưa con đi học. Tôi ra sau hè, tất cả mọi cái càng lúc càng thêm đầy ra, có thêm những giàn bầu với những chiếc lá xanh non và bông hoa màu vàng, những liếp rau có thêm nhiều loại nữa. Có mấy cây chanh, cây bưởi, cành lá quắt queo vì phèn. Cô ấy trồng cái thứ này để làm gì nhỉ? Và miếng ruộng, đi dọc theo bờ mẫu xem coi cô ấy chăm sóc ruộng nương như thế nào. Quả tình tôi chỉ có cái miệng, nhưng nếu làm những việc như thế này thì có lẽ còn lâu. Bờ mẫu thì chỉ có cỏ trên mặt, còn hai bên thì không một cọng nào bò ra chen vào lúa được. Có những đoạn như vừa mới chặt xong. Tôi biết đó là dấu dao chớ không phải dấu phảng. Những dấu dao trên bờ mẫu ấy như cứa vào lòng tôi. Đáng lý ra nó phải là dấu phảng mang đầy tính cách của đàn ông hay đúng hơn là của tôi. Nhìn thấy vài vạt lúa có cỏ mọc xen vào, tôi lội xuống nhổ. Nhưng cũng không nhiều lắm, mười lăm công tầm cắt mà tôi chỉ mất không đầy hai tiếng đồng hồ thì sạch sẽ. Dù lúa chỉ mới lột mình nhưng tình hình nước nôi như thế này và mã luá này là lúa trúng đây. Tôi nghĩ là cô ấy thuê, nhưng không phải ai cũng có thể thuê người làm vừa ý mình. Bà vợ ngang hông của tôi giỏi thật. Tôi vào tới hè thì đã gần mười giờ. Thấy cây len dựng bên vách, tôi vớ lấy và đến đào những rãnh nhỏ, sâu khoảng hơn một lớp len, chung quanh mấy gốc chanh, gốc bưởi rồi tìm những rơm rạ mục lấp xuống, rồi phủ đất lên. Tiếc là không có một ít vôi hay apatic để hạ phèn nhanh hơn.
Tôi bước vào nhà và nghe tiếng cô ấy đang trao đổi việc mua bán gì với ai đó. Không rõ cô cho heo ăn từ lúc nào, mà con heo nái và bầy heo con im thin thít. Tôi chợt nghĩ ra sao trong nhà không thấy có bồ lúa. Một trăm giạ lúa cô ấy bán và mang cho tôi thì chắc chắn không phải là tất cả số lúa cô ấy có. Chẳng lẽ cô ấy bán hết hay vẫn còn cho vay. Không thể, bởi vì tôi biết cô ấy nghe lời tôi không điều kiện. Tôi bổng chợt nhớ mình bậy hết sức. Hôm qua tới nay mà không một lời hỏi thăm ai cả. Tôi vội xuống cầu ao rửa tay chân rồi vào nhà. Mấy người mua hàng nhìn tôi ngạc nhiên, dò hỏi. Cô ấy bảo:
- Ba mấy đứa nhỏ đó.
Họ gật đầu chào tôi dè dặt, rồi đưa mắt nhìn lên tấm ảnh. Tôi chào lại và không biết nói gì, nên lên võng nằm hút thuốc. Khi những người này đi thì có những người khác tới. Cứ thế luôn tay. Quầy hàng của cô ấy trong khá quy mô. Còn mấy ngày nữa tới Trung Thu, nên bánh trái, nhang, đèn xem ra đắt hàng. Tôi nằm đó ngắm nhìn cô ấy buôn bán, xem cũng được lắm. Tính tìm một việc gì đó để phụ giúp nhưng tìm hoài không ra, tôi bèn vào nhà bếp. Tất cả cơm nước, thức ăn không biết cô ấy đã chuẩn bị xong từ bao giờ. Một nồi canh rau ngót, ui cá rô kho tiêu, chảo tép rang và lỉnh kỉnh nhiều thứ khác. Tôi đang đứng tần ngần nhìn ngắm, thì cái mùi của cô ấy đến bên tôi nhẹ như cơn gió. Tôi không quay lại, nhưng choàng tay ôm lấy cô và hôn cô bằng tất cả sức lực mà tôi có. Cô dãy dụa và ú ớ. Nhưng rồi cũng vào cái khuôn phép của cảm xúc thôi. Khi cô ấy đáp trả thì quả tình tôi không ngờ nó mãnh liệt đến thế. Đến khi chúng tôi buông nhau ra, mặt cô ấy cúi xuống đỏ bừng, rồi len lén nhìn tôi, nói nhỏ :
- Mình làm cho em Coi em nè.
Cô ấy đưa tay bới lại mái tóc vừa bị tôi làm xổ tung ra. Tôi đưa tay ngăn lại. Mái tóc dầy, đen nhánh, óng mượt và dài quá thắt lưng. Tôi vuốt mái tóc đưa ra phía trước ngực cô và nhìn nó như bị thôi miên. Cái nắng chói chang của buổi chiều hôm đó và một mái tóc bị hất ngược ra phía sau chấp chới trong cái nắng chiều. Rồi một bựng khói và một tiếng nổ chát chúa. Tất cả biến mất và bây giờ lại hiện diện ở đây rực rỡ, nồng nàn, cuốn chặt lấy tâm hồn tôi và cuộc đời tôi. Nó như giòng sông ấy, êm đềm dẫn dắt tôi về những thoáng hạnh phúc mong manh và sau đó là nỗi nhớ nghìn trùng. Ôi hạnh phúc quý giá biết dường nào. Muốn được nó phải đổi lấy biết bao là thương nhớ. Tôi nhìn cô ấy và cảm nhận được một tình yêu vô bờ mà cô đã dành cho.
- Mình nhìn gì dữ vậy. Cô hỏi và lại một lần nữa khuôn mặt ấy đỏ bừng lên.
- Mình đẹp ác thiệt.
- Mình đúng là quỷ. Và cô ôm chầm lấy tôi, tỏ rõ một thái độ rất chân thật của một người đàn bà khi được người mình yêu thương khen đẹp. Tôi nhẹ nhàng gỡ tay cô ấy và hỏi:
- Đất này mà mình trồng chanh, trồng bưởi làm sao mà có trái nổi.
- Em trồng để lấy lá mà.
- Để làm gì?
Cô ấy nhìn tôi, mặt đỏ lên:
- Để tắm, mùi mồ hôi của em rất khó chịu. Em sợ mình chê em.
- Mình khùng thiệt. Mồ hôi ai mà chẳng có. Hôi cái gì mà hôi. Nào để anh ngửi xem coi nó hôi đến đâu?
Tôi biết là tôi không thể ôm mãi cô ấy trong vòng tay mình, nhưng tôi cũng biết con người đẹp đẽ này mãi mãi là của tôi. Tôi đang cảm nhận cái hơi hướm quen thuộc kia. Vậy là tôi biết tại sao cô ấy lại trồng mấy cây bưởi, cây chanh ấy. Cô đẩy nhẹ tôi ra, nói nhỏ :
- Thôi đi mình. Em chuẩn bị cơm, con sắp về rồi. Mình ra trước nằm nghĩ đi. Có ai đến mua đồ. Mình kêu em.
Nằm đong đưa trên võng, hình ảnh của vợ tôi hiện ra. Trong lòng tôi nhộn nhạo. Không hiểu mấy thằng cha cố tình vợ hai, vợ ba không biết họ sung sướng chỗ nào. Rồi ghen tương ầm ĩ. Tôi lạnh cả sống lưng. Nhưng bây giờ thì thấm thía. Hai người đàn bà này đã cho tôi hai chai mật ngọt, mà nếu chỉ một chai thôi thì ngon lành biết mấy. Nhưng bây giờ tôi tu cả hai chai, có lẽ là nhiều quá nên dư vị là một cái gì đắng nghét. Ước chi có một thứ phép mầu nào đó có thể vo tròn cả hai thành một thì khỏe cho tôi. May mà… Cô ấy sẵn sàng chấp nhận mọi thứ để có tôi, dù chỉ là có trong nỗi nhớ. Vợ tôi thì chưa biết gì. Nhưng, nếu biết rồi thì thái độ vợ tôi ra sao? Đàn bà nào mà chẳng ghen tuông. Mà đã ghen thì hình thức nào cũng khó chịu. Đấy chỉ mới nghỉ tới thôi là muốn lên ruột rồi đây, huống hồ gì phải ngoáy tai ra để nghe tru tréo hay rên rỉ, nhưng cái nguy cơ lớn nhất là chiến tranh lạnh. Chưa kể sau này mấy tên nhóc tì lớn lên, nó sẽ nhìn ngắm cha mình bằng con mắt nào? Cái cảnh “cha đi thăm con như chó ăn vụng bột “ mà tôi sợ nhất thì bây giờ lại gặp. Tôi không dám động tới Quyên, tôi cố gắng chối từ Huy. Thế ma cũng không thoát. Cuộc đời trớ trêu hay tự tôi gây ra cho mình cái cảnh trớ trêu.
Một tuần ở lại nơi này, tôi bổng nhiên không còn là tôi nữa. Trong không gian riêng tư. Cô ấy bao giờ cũng đến với tôi theo cái kiểu cách mà từ lâu cô ấy đã thường làm. Sạch sẽ, tinh tươm và không mặc gì cả. Tôi tha hồ nghịch ngợm và cô ấy thì cứ phả vào tôi từng hơi thở nồng nàn. Để rồi tôi phải
     Một tay làm gió đêm hè,
Quạt mo cau đẩy đùa về cơn mơ.
     Ru thì thầm một bài thơ,
Vuốt suông lại tóc cho vừa ý em.
     Một tay kia cố êm đềm,
Sửa ngay ngắn gối cho em kê đầu.
     Biếc xanh khép giấc ngủ sâu,
Nồng nàn hơi thở thấm vào trong anh.
     Ngọn đèn ngủ cứ long lanh,
Quyện hai hơi thở làm thành đêm khuya.
Đêm rằm tháng tám nhưng trời vẫn oi oi như một đêm hè. Quạt cho cô bằng cái quạt lá buông. Tất nhiên không mát bằng quạt mo cau (?) Thôi thì cố quạt đều tay chắc cũng mát. Ôi. Ông Huy Cận. Ôi. Ông Phạm Duy. Hai ông thì quạt ban ngày nên tỉnh táo hơn tôi. Tôi quạt ban đêm nên vừa quạt vừa mơ. Mơ một giấc mơ cụ thể đang nằm êm ái trong tay. Thực tế là mùa Thu, nhưng phải mơ là mùa hè. Thực tế là quạt lá buông, nhưng mơ thành quạt mo cau. Và tôi đang mong một ánh trăng cụ thể đang nghiêng về tây soi qua vách lá. Còn tất cả thì là một sự thật trong cơn mơ. Vâng. Tôi là một tên mơ mộng. “Những mộng mơ của tôi luôn luôn xuống cấp”. Có một khoảng thời gian tôi nghĩ thế. Nhưng khi đã trở thành hiện thực và cảm nhận được hạnh phúc thì tôi mới thấy những cái bình thường nhất, đơn giản nhất lại chính là một điều gì đó rất lớn lao. Và bây giờ. Tôi trở thành một con người hoàn toàn khác. Bình dị và đơn giản. Tôi thực hiện vai trò một người chủ gia đình thực sự, một người chủ gia đình không chê vào đâu được. Từ ban đêm cho đến ban ngày, từ những công việc ngoài đồng cho tới những công việc trong nhà cần tới bàn tay của người đàn ông. Những kệ hàng được sắp xếp lại ngăn nắp. Mái nhà, vách lá, cửa nẻo trước sau. Tất cả mọi thứ đều được tôi mó tới. Những thứ trong ngôi nhà vốn đã tinh tươm thì hôm nay thêm ngăn nắp, gọn gàng hơn. Nhưng có một thứ không bao giờ gọn ghẽ mà càng lúc càng lan tỏa ra. Đó là ánh mắt của cô ấy nhìn tôi. Đêm trung thu, hai vợ chồng và đứa con, không ngồi ăn bánh trong nhà mà lại dọn ra sân. Cô ấy cắt bánh cho cha con tôi, châm trà cho tôi. Và cô ấy thì ăn thứ khác. Cô ấy đang ăn từng miếng, uống từng ngụm thứ hạnh phúc mong manh mà tôi mang đến. Và để hưởng thụ cho bằng hết những gì đang có. Cô ấy không bao giờ nói cho tôi biết cô ấy nghĩ gì khi hay tin tôi ra tù khi tôi gặng hỏi. Ngoại trừ “Em mừng quá không ngủ được…”. Nhưng tôi nghĩ thầm thêm “… rồi em khóc “.

Khi cô ấy đưa tôi ra vàm Xẻo Kè để đón tàu về Rạch Giá. Tôi cương quyết không nhận gói tiền và buộc cô ấy phải cất vào tủ và khóa lại rồi mới đi. Thế là cô ấy vùng vằng mang theo khẳm đứ một xuồng, nào là sự luyến lưu, giận hờn và mấy giọt nước mắt. Mấy giọt thôi mà cũng
Trong khi chờ tàu. Tôi hỏi cô ấy về việc làm ăn. Cô ấy trả lời làm tôi chưng hửng:
- Mình biết hông, em làm thôi hổng có ăn. Cái đó tép, mấy liếp rau, ao cá. Mấy thứ đó của mình chuẩn bị cho mẹ con em, ăn hoài không hết. Nuôi heo, gà, vịt nữa.
Tôi nhìn cô ấy, tôi biết cô không nói dối:
- Thế thì em bán tiệm, rồi làm ruộng để làm gì ?
- Để dành, chừng nào mình muốn xài, mình vô lấy hay em mang ra.
- Mình quả là điên.
Cô ấy cũng không vừa :
- Mình còn điên hơn em. Hổng có tiền, mà vợ đưa không chịu lấy còn đòi đánh đòn em.
Tôi nín thinh. Ra đến sông Cái, cô ấy tìm một cái hói đậu để tránh nắng. Ngồi kế bên tôi, cô ấy hết nhằn nhện vụ tiền, thì lại xoay qua chắc lưỡi hít hà khi nhắc lại cái cảnh gặp tôi tòn teng trên cây thang tre và nhiều thứ nữa Nghĩa là cô ấy tìm mọi chuyện để nói, kể lể, sụt sùi, hờn dỗi.
Chiếc tàu chạy xa dần, xa dần. Bóng dáng cô ấy càng lúc càng nhỏ lại, mái tóc chấp chới trong gió, dáng đứng chấp chới trên sóng. Và hình bóng này chấp chới mãi trong tôi. Trên đường về tôi tự kiểm điểm lại công việc của mình và xác định lại thu nhập. Tôi tự hứa, hàng năm tôi phải chuẩn bị cho hai thằng bé những thứ cần thiết cho những ngày đầu năm học. Ít ra là hai bộ quần áo cùng toàn bộ sách vở và tập viết. Phải cố gắng thôi.

Công việc càng lúc càng nhiều, tôi cố gắng dành dụm mua được cái máy bơm sơn tự chế bằng cái lốc tủ lạnh, nên việc sơn bảng trở nên nhanh chóng và đạt chất lượng hơn. Nhưng khi có một chỉ vàng, muốn mượn thêm một chỉ nữa, nhưng hỏi ai cũng không có vì để dành đeo. Ấy thế mà khi lấy máy, thiếu lại một chỉ thì cái người thợ lạ hoắc ấy lại cho thiếu. Cũng hay. Thế thì ráng cày mà trả. May thay, tôi lãnh được một hơi năm sáu tấm bảng, còng lưng vẽ đúng một tuần là đủ trả. Những đồng tiền kiếm được tôi chuẩn bị cho đứa con sắp sửa ra đời. Một cái bình thủy, cái mùng lưới dành cho trẻ con. Một ít vải cho cô Út may sẵn áo quần, tả lót và những thứ hằm bà rằn khác. Cả xóm và các em tôi, nhìn tôi cười và bảo tôi “Nhà nghèo chưa từng thấy của“. Mẹ tôi thì nhìn con cái, đứa nào, đứa nấy nghèo rớt mồng tơi. May mà còn có được miếng cơm. Vợ chồng Nam làm ăn thất bại, buộc phải bán căn nhà, mà nơi đó cả gia đình chen chúc với nhau gần ba mươi năm. Tôi lại phải đứng ra gánh gồng bao nhiêu điều tiếng để bảo vệ cho mẹ tôi và em tôi. Một mình trong căn chòi có sáu mét vuông, che tạm trên sân của dì tôi. Tôi chờ đợi con tôi bên này, lo lo cho con tôi bên kia.

Phải đến một tuần, sau khi con tôi ra đời, tôi mới lên Sa Đéc thăm vợ và con. Tôi đã may cho mình một bộ đồ mới để đi thăm con. Con bé y chang như tôi, ra đời mà không thèm khóc, bởi vì vợ tôi sinh con lần đầu ở tuổi bốn mươi, mà con bé thì hơi nặng, nên cháu bị ngộp. Nhìn vợ tôi, nét mặt như còn vương lại những đau đớn của ca sinh đầu đời ở tuổi bốn mươi, nhưng thấp thoáng trong đó ánh lên một điều gì đó làm cho tôi chất ngất. Tôi hiểu ra là mình có lỗi, nhưng kèm theo theo đó là một ý nghĩ tự bào chữa. Phải nói là cực khổ thật. Cả gia đình hai bên nội ngoại ai cũng mừng. Và tôi lại một lần nữa lóng ngóng với cái từ “ba“ ở ngôi nhân xưng thứ nhất. Nhìn khuôn mặt của con trong giấc ngủ. Tôi cảm nhận đây là một giây phút thiêng liêng nhất mà tôi có được một lần duy nhất trong đời. Tôi cúi xuống hôn lên trán con. Cái mùi của trẻ thơ. Ôi nó diệu kỳ đến thế ư? Một sức mạnh mới trỗi dậy trong tôi. Bốn mươi hai tuổi. Tôi mở miệng toan nói một câu gì đó, đại loại như “ Con. Ba chờ đợi quá lâu và thế là con đã đến” Nhưng chỉ là trong ý nghĩ thôi, chứ miệng mồm như cứng lại. Ôi. Người ta thì chỉ một lần đầu hơi líu lưỡi một thoáng là đâu vào đó. Còn tôi thì như vậy đó, ba lần ngập ngọng khi xưng “ba” trước những đứa con mình. Sự chuẩn bị để chào đón những đứa con của tôi xem ra không hiệu quả. Dù rằng đó là một mơ ước đến cháy lòng. Ở với vợ con ba ngày, tôi vét sạch tiền trong túi để lại cho vợ tôi, chỉ còn đủ tiền mua một vé xe và một gói thuốc để về Rạch Giá.
Cuộc mưu sinh bắt đầu được tăng tốc. Được giá thì lãnh vẽ đã đành, nhưng nếu thấy lời chút đỉnh cũng chơi luôn. Có cái máy bơm sơn, tôi lãnh luôn sơn nhà, sơn cửa. Một mình, một mình tôi làm tất tần tật. Đầy tháng lên rước vợ con về. Ngôi nhà sáu mét vuông như rực rỡ hẵn lên để chào đón một cuộc sống mới tinh khôi.  Thế là. Đi thì thôi, về tới nhà là tôi rù rì cùng con. Khi bồng trên tay, dần dần để trên vai, rồi lại cỏng trên lưng. Cứ thế, cứ thế mà quên đi những khốn khó, nhọc nhằn. Tôi chợt nhớ đến những lời thầy Vân ngày nào. Quả tình khi nhìn thấy con mình lớn lên, những nụ cười trẻ thơ, những tiếng nói bi bô đầu đời, những bước chân chập chững. Khi được nhìn sự lớn lên một cách huyền diệu và kỳ thú của một đứa trẻ mang giòng máu của mình là một tặng vật tuyệt vời mà tạo hoá đã ban cho con người. Tất nhiên con tôi chưa lớn đến thế, nhưng rồi sẽ như thế. Chỉ tưởng tượng sớm một chút vậy mà cũng hết sức xôn xao. Tôi cảm nhận cái hạnh phúc này và sự cảm nhận đó làm cho tôi trở nên mạnh mẽ, lạc quan. Sự cảm nhận của tôi chỉ có năm chục phần trăm hạnh phúc. Đáng lý là một trăm phần trăm. Một mình trong căn chòi có sáu mét vuông, che tạm trên sân của dì tôi. Tôi nâng niu con tôi bên này, nhớ quay, nhớ quắt cho con tôi bên kia.
Khi con bé giáp thôi nôi, anh em chúng tôi thuê một ngôi nhà gần cầu Nguyễn Trung Trực vừa để ở, vừa để làm ăn. Cuộc sống dần dần thấy được một ít ánh sáng. Nhưng rồi con bé bắt đầu bệnh. Hơn một năm trời con bé cứ nay ấm đầu, mai sổ mũi, lúc khò khè. Tôi vẽ được tấm bảng nào, thì bác sĩ gỡ tay tấm bảng nấy. Đôi khi không đủ vợ chồng Nam phải góp tay vào. Nhưng rồi mọi việc cũng qua. Có những khi ngồi nhẩm tính lại cái quảng đường tôi trèo lên, tuột xuống cây thang tre. Tôi thực sự hết hồn, hơn cả ngàn cây số. Ôi một đoạn đường lắt lẻo, chông chênh. Bổng nhiên tôi nhìn cây thang và thật sự kinh ngạc cho sự nhẫn nại của mình.

Tôi bất ngờ gặp lại Bảy Huỳnh, cái tên đẹp trai, chặt ngón chân cái để trốn quân dịch và rao giảng cho tôi cái mộng ước thành lập “Đại Vương Quốc Đông Dương” lúc còn nằm trong khám lớn. Vẫn phong độ với hàng ria mép được chăm sóc cẩn thận hơn và bộ quần áo hết ý. Anh ta mời tôi vào một quán café và tỏ rõ thái độ quan ngại cho công việc mưu sinh đầy cực nhọc của tôi và cuối cùng anh ta rủ tôi cùng vượt biên ra nước ngoài tìm đường “cứu nước” (?). Tôi thực sự ngạc nhiên, nhưng cảm thấy không nỡ đối với một người đã đặt niềm tin vào mình, dù đó là một niềm tin không giống ai. Tôi từ tốn và cố gắng nói cho anh ta hiểu mà không làm cho anh ta mất lòng:
- Tôi thật tình nói với Bảy Huỳnh là tôi không đi được và cũng không thể làm nổi chuyện đó. Có rất nhiều lý do. Nhưng lý do chủ yếu là đứa con rất cần sự có mặt của tôi, cháu nó vừa giáp thôi nôi, trong khi bà xã tôi thì đã đuối. Việc gì cũng thế Bảy Huỳnh ạ. Tôi không thể nào làm một việc vượt ra khỏi khả năng mình.
- Ông điên à. Ông không có khả năng thì ai có?
Anh ta đặt một câu hỏi chứng tỏ anh ta chưa hiểu điều tôi muốn nói.
- Bảy Huỳnh này. Tôi làm một người chồng, một người cha còn chưa xong, liệu tôi còn làm được cái gì đây? Tài năng thì bé tẹo. Chí khí bằng cây tăm. Thân hình như cò ma. Theo Bảy Huỳnh, tôi trở thành một gánh nặng.
- Ông từ chối thì ông cứ nói. Tại sao lại hạ thấp mình. Tôi đánh giá ông không sai. Ông phải tin như thế.
Tôi thực sự bực bội:
- Bảy Huỳnh này. Anh đã đánh giá sai rồi. Nhưng thôi. Tôi nói thẳng ra là thế này. Tôi từ chối. Một phần vì lý do tôi đã nêu ra, còn có một lý do khác. Đất nước này không cần ai cứu nữa. Tại sao? Chính quyền này họ tự biết làm gì để tồn tại. Bảy Huỳnh có cần tôi giải thích không? Tôi nói thế này và tôi biết chắc là đúng “Chính quyền hiện tại đã nhận ra được những sai lầm trong việc điều hành đất nước. Và họ đang từng bước tìm kiếm và đáp ứng được nhu cầu cuộc sống cho mọi người”. Tôi biết Bảy Huỳnh muốn gì? Nhưng thử nghĩ lại xem, mình làm như thế có nên không? Hơn nữa, có được không? Tôi không nhát gan, tôi không sợ gì cả. Cái đơn giản là tôi biết tôi cần cái gì? Và tôi ra sức thực hiện nó. Nói chung. Tôi chỉ đủ khả năng để đảm bảo cuộc sống cho chính mình và vợ con được cơm no, áo lành một cách lương thiện. Nhiều hơn nữa, tôi không làm nổi. Không làm nổi mà ráng làm thì hại cho mình, cho người.
Anh ta trố mắt nhìn tôi và im lặng, rồi nhè nhẹ lắc đầu chán nản. Tôi cảm thấy nóng mặt:
- Bảy Huỳnh này. Những ngày đầu giải phóng. Cả lủ hè nhau chui vào tù vì cái tội chống Cộng, việc làm tưởng chừng như không hiệu quả. Nhưng thật ra, những hành động ngu ngốc ấy, trong chừng mực nào đó, đã có một hiệu ứng tích cực. Cả một đất nước mới hưởng thụ chưa được mấy giây hoà bình thì phải quay ngoắt đầu lại đối diện với đói nghèo vì sự quá đà của một chính sách quan liêu, bao cấp. Những định kiến về giai cấp về hận thù trong quá khứ của họ làm chúng ta cảm thấy mình bị đẩy vào đường cùng. Cái quyền lợi chính đáng nhất của con người bị tước đoạt một cách thô bạo bởi rất nhiều lý do khiên cưỡng. Lúc đó, việc làm của chúng ta còn thể viện dẫn lý do này, khác. Tôi đoan chắc rằng họ có tự hỏi “ Tại sao mà hòa bình đã đến rồi, ai cũng ngán chiến tranh đến tận cỗ, thế mà người ta chống mình mạnh quá vậy ta? “. Tất nhiên. Ngoài cái cớ đó ra, trong chúng ta còn có một lý do khác cũng cần phải nói ra. Chúng ta chống Cộng là vì mong muốn tranh thủ lấy một thứ lợi lộc nào đó cho bản thân. Và họ đã trả lời được lý do đó. Tất nhiên là họ phải suy nghĩ thật lâu.
Anh ta vẫn chưa hiểu tôi nói gì:
- Ông nhận định đúng. Do đó, khi ông ở lại với cái lý lịch của mình, ông sẽ không thể ngóc đầu lên nổi. Phải làm một điều gì đó cho chính mình.
 - Vâng. Có thể không ngóc đầu lên nổi. Là tại mình không cố gắng. Những gì chính quyền này nói trong những ngày đầu thống nhất đều bị chính họ phủ nhận. Nhưng rồi thời gian ấy cũng đã qua đi. Họ và chúng ta cùng trả giá cho những hành động của mình. Trên cương vị là những người lãnh đạo đất nước, họ gặp không ít khó khăn, những khó khăn đó là khó khăn của cả một dân tộc. Trong đó có cả những khó khăn nội tại của họ. Nhất là phải phá bung ra những suy nghĩ bị đông cứng trong một thời gian dài vì chiến tranh, vì “nuôi dưỡng căm thù”, vì “chuyên chính vô sản”,  vì hàng lô hàng lốc định kiến này khác Cái tự ái của một chính quyền làm cho họ nhận sai lầm mà không mở được miệng nói lời xin lỗi. Nhưng có hề gì, điều quan trọng là ý muốn của họ thể hiện qua các chính sách và những hành động thực tiển đã cho chúng ta biết là họ muốn gì? Bảy Huỳnh có khi nào thử đặt mình vào vị trí của họ chưa, rồi xem coi mình phải làm gì? Chính quyền không phải là một cá nhân, mà là một tập hợp nhiều con người khác nhau về nghĩ suy và tính cách, dù rằng họ gọi nhau là đồng chí, nhưng trong cuộc sống liệu họ có đồng lòng. Và với chúng ta thì lại càng khó có những điều đồng cảm. Đây là một cái khó rất cơ bản. Đừng áp đặt cho họ một tài năng theo kiểu Tôn Ngộ Không với bảy mươi hai phép thần thông muốn gì là làm được nấy. Nếu như có, thì cái phép thuật ấy được gọi là thời gian. Thời gian cho nhận định, cho tìm kiếm, cho thực hiện và cho cả việc nhận ra và sửa chữa những sai lầm. Và họ đang cố gắng làm cho cái “đói không cơm ăn, rách không áo mặc, đau không thuốc uống” trở thành “đói đã có sẵn cơm ăn; rách đã có sẵn áo mặc; đau đã có sẵn thuốc uống”. Thế nên, chúng ta muốn có ăn, có mặc, có thuốc như thế nào là do chính thái độ và hành động chúng ta. Hiện tại, không còn ai cấm cản chúng ta làm điều đó, miễn đừng gạt gẫm, trộm cắp, cướp giật của người khác. Tôi đồng ý là trong một thời gian dài, chúng ta là thành phần bị tác động, bị săm soi, đố kỵ nhiều nhất, vì thế chúng ta có cảm giác bị hay như bị tước đoạt mất cái nhu cầu làm việc cho cuộc sống của chính mình. Nhưng bây giờ thì đã khác. Mọi cái đã đổi thay. Họ đã từng bước đi đúng hướng, phần còn lại là chúng ta?
- Như ông thấy, họ nói là mở cửa, thì mở đấy. Nhưng mở làm sao nào? Tất cả hàng hóa đều nhập, mà hầu hết đều nhập lậu. Cây tăm, gói thuốc lá và hàng lô hàng lốc những món hàng trời ơi. Các cơ sở sản xuất của nhà nước đến tư nhân đều đưa ra thị trường một thứ sản phẩm cũng trời ơi không kém. Ngoài ra, tệ nạn tham nhũng phát triển mạnh mẽ. Dù thế nào thì mọi người cũng khổ.
- Tôi hiểu và tôi đã thấy, đã buồn. Nhưng Bảy Huỳnh hãy tin đi. Những lọng cọng ban đầu rồi cũng chuyển sang sự thuần thục. Trăm hay không bằng quen tay mà. Vấn đề tham nhũng à. Việc này dễ giải quyết. Nếu như họ tham nhũng bằng cả một chế độ. Thì chúng ta chống làm gì? Tự họ đào mồ chôn mình. Còn nếu chỉ là những cá nhân mất nhân cách thì những cá nhân đó sẽ bị đào thải thôi. Nói thật với Bảy Huỳnh điều này. Nếu chúng ta ngồi mà săm soi tìm kiếm những sai lầm của một người nào đó, chúng ta sẽ gặp ngay thôi, hàng khối là đàng khác. Kể cả những người đạo cao đức trọng, cả bảy Huỳnh và tôi nữa. Huống chi là của một chính quyền. Nhưng có khi nào chúng ta thử làm ngược lại xem. Tìm những tích cực của họ ấy. Chắc có lẽ cũng có đôi điều chấp nhận được? Còn lại là thái độ của chúng ta? Chúng ta là những người kém cỏi tài năng, nếu góp tay vào không được thì thôi, đừng làm ngược lại.
- Ai cho ông góp. Cái lý lịch cảnh sát Sài Gòn cộng thêm tội phản động làm cho ông đứng vào vị trí hủ mắm treo đầu giàn. Ông hiểu điều đó chứ?
- Tôi hiểu quá đi chứ. Họ đang luôn luôn để mắt đến tôi mà. Tám năm năm cò bót cũng đủ cho tôi một kinh nghiệm để biết có bao nhiêu cặp mắt đang nhìn sau gáy mùnh. Chính vì thế, tôi đang cố gắng để có được một điều mà tôi mong muốn. Sống yên bình để nuôi dạy mấy đứa con bằng chính những giọt mồ hôi của mình. Bởi vì, nó trong tầm với của khả năng tôi và hợp với đạo lý của con người. Họa là họ điên khi đi đối phó với một người như thế. Theo tôi, lúc này mà cố tình tạo dựng ra một cuộc chiến tranh, chí ít là một sự bất ổn thì điều đó là một tội ác. Trước nhất là tội ác đối với bản thân mình và gia đình mình. Bảy Huỳnh này. Muốn như thế thì làm sao mà được hả Bảy Huỳnh? Chúng ta gần năm mươi rồi. Hãy cố gắng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của chính bản thân mình đang đòi hỏi đi. Có thể những gì tôi nói thì hơi nhỏ mọn đấy, chỉ biết có bản thân và gia đình nhỏ bé của mình thôi đấy, nhưng nó cần thiết cho cuộc sống. Sự no ấm của gia đình, bao giờ cũng kèm theo sự giàu có của tâm hồn. Không cần phải giúp ai, không cần hy sinh, đóng góp gì cả, chỉ như thế thôi là chúng ta đã đủ chân thành để nói lên lời yêu nước rồi. Bảy Huỳnh phải biết mình cần cái gì và muốn cái gì? Thì Bảy Huỳnh mới có thể phấn đấu. Tại sao lại muốn một cái không phải là của mình và không bao giờ là của mình?
- Nhưng ông đã quên rằng cuộc chiến vừa qua đã cướp mất của ông rất nhiều thứ. Tuổi trẻ, tương lai và những tháng ngày tội tù lảng nhách, giờ đây ông đang đối diện với đói nghèo. Trước mắt mọi người, ông là thằng tù, một thằng tù mang cái tội phản quốc, dù ông rất yêu đất nước này. Ông phải làm điều gì đó cho mình chứ?
- Tôi đang làm đây. Chính vì thế mà tôi không cần chiến tranh. Yêu nước đâu nhất thiết phải hàng ngày phải ra rả kêu lên. Thằng nào nói yêu nước ra rả hàng ngày thì thằng đó chẳng yêu đếch gì ai cả. Hắn chỉ yêu mình thôi. Tôi bị mất mát quá nhiều, nên không thể đem cái quỹ thời gian và cái sức lực ít ỏi còn lại để đặt cược vào một cuộc chơi mà tôi biết chắc là mình thua. Bảy Huỳnh phải biết rằng; trong chiến tranh không có điều gì tốt đẹp cả. Nó làm cho đất nước thêm đói nghèo. Đói nghèo cơm ăn, áo mặc; đói nghèo lòng nhân ái; đói nghèo những ước mơ. Khi những thứ đó ập vào một số phận, nó làm cho con người không còn là con người nữa, mà chỉ là một con thú hoang dã đội lốt người. Nói gì thì nói, một mình tôi không thể tạo dựng được hòa bình hay gây ra chiến tranh. Nhưng tham dự một cuộc chiến tranh thì dứt khoát là không bao giờ, dù với tư cách gì và ở phía bên nào. Chẳng những thế, tôi còn phải dạy cho con tôi như thế. Tôi ích kỷ đấy, nhưng là một thứ ích kỷ đẹp, tôi đang cố gắng ích kỷ theo kiểu đó. Và trong mơ hồ, tôi mong mọi người hãy ích kỷ như tôi. Còn mấy tay Cộng Sản này thì Bảy Huỳnh không phải lo. Họ chiến thắng nhờ vào nhân dân. Hơn ai hết, họ hiểu sức mạnh vô địch ấy. Họ đã trả một giá rất đắt cho một thời tào lao, nên họ đã biết rõ hơn cách tồn tại của mình. Tôi thách đấy, nếu mấy tay này trở lại cái thời ngăn sông cấm chợ thử xem. Đứt bóng ngay tức khắc. Lý tưởng lý tiếc gì khi mà cái lý tưởng ấy không tạo nổi một chén cơm. Mọi người no, mình no. Khỏi tranh giành. Mọi thứ đều ổn. Thú thật với Bảy Huỳnh. Tôi rất yêu đất nước này, nhưng yêu cụ thể như thế nào thì tôi không biết. Bây giờ tôi chỉ biết một điều là không phùng mang trợ mắt với ai để có thể không ai phùng mang trợn mắt với mình. Hay là ông lo sợ tôi không thể yêu nước mà không có tư cách của một quan làng ư?
- Chắc thế rồi. Ai cho ông làm?
Thế thì đã rõ. Tôi cười to:
- Ông khéo lo. Bộ làm quan sướng lắm à? Quan trên ngó xuống người ta trông vào, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng. Lương ba cọc ba đồng, mó vào tiền nhà nước thì đi tù, chí ít cũng mất ngủ. Ông ngồi ngẫm nghĩ mà xem mấy ông chức lớn mà dám một mình ra quán thịt cầy là tôi cùi. Mất tự do thấy mẹ.
Bảy Huỳnh trố mắt nhìn tôi và im lặng. Hình như Bảy Huỳnh đã hiểu ra, nhưng không biết có phải Bảy Huỳnh hiểu là tôi nói gì hay là tôi đáng sợ. Bảy Huỳnh tiếp, sau một lúc im lặng khá lâu:
- Ông còn nhớ những gì ông đã nói với tôi lúc ở tù?
- Tôi đã quên. Bởi vì nó không ra làm sao cả.
Một thoáng ngần ngừ. Rồi Bảy Huỳnh thở nhẹ:
- Thôi, kể như tôi không nói gì với ông vậy. Đề nghị này ông chấp nhận được chứ?
Tôi như trút được một gánh nặng:
- Tất nhiên. Bảy Huỳnh yên tâm. Dù sao chúng ta cũng cùng chung một thời khốn khó. Những gì chúng ta nói với nhau chẳng qua là một quan niệm sống, một ý hướng sống. Có thể  đúng, có thể sai. Tôi không khuyên Bảy Huỳnh, lại càng không tranh luận. Tôi chỉ nói quan điểm của mình. Thế thôi. Để chấm dứt và quên đi những gì chúng ta vừa trao đổi. Tôi đọc tặng cho Bảy Huỳnh một bài thơ Đường và bản dịch của tôi.
Bảy Huỳnh trố mắt nhìn tôi:
- Dịch thơ Đường?
- Vâng. Một bài thơ tình. Phỏng dịch thôi.
              KIM LŨ Y
“ Khuyến quân mạc tích kim lũ y.
“ Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
“ Hoa khai kham chiết trực tu chiết,
“ Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

 

         Áo công danh bám mà chi,
Chàng đừng quên tuổi xuân thì. Nhớ không?
         Hoa xuân hái lúc hương nồng
Kẻo thôi hái phải cành không. Ngỡ ngàng...[viii]
Bảy Huỳnh trố mắt nhìn tôi, rồi cười. Nhưng đôi mắt thì như mờ lại:
- Ông ra chiêu này là tôi vô phương chống đỡ. Mà ông dịch cũng dữ thiệt. Có ý đồ hẵn hoi. Tác giả chỉ khuyên người yêu nên trân trọng lấy tuổi xuân, còn ông dịch thì lại như là lời phiền trách người yêu quên lãng tuổi xuân. Ông muốn nói gì với tôi vậy?
Tôi không trả lời mà hỏi lại:
- Lúc này Bảy Huỳnh còn dịch thơ Đường không?
Bảy Huỳnh có vẻ trầm ngâm:
- Đây là món khoái khẩu nhất của tôi mà. Nhưng lâu quá rồi cũng không có dịp để mà đọc những bài thơ mình thích, huống hồ gì có thời gian mà dịch. Ông cũng chơi trò này à.
- Không. Chữ Hán tôi biết được có hai chữ. Như vậy thì làm sao mà dịch.
- Thế thì ông dịch bài này ra làm sao?
- Chẳng dịch gì cả. Chỉ căn cứ vào bản dịch thoát về ý nghĩa từng câu, rồi từ đó chuyển sang thơ. Thế là xong. Nhưng tôi lưu ý Bảy Huỳnh, khi tôi viết thế chỉ là tự nhắc nhở mình đừng nên mơ mộng lung tung.
Bảy Huỳnh nhìn tôi cười:
- Ông láo thật. Ông cho công danh là hư ảo?
Tôi biết Bảy Huỳnh muốn nói gì và tôi giả ngây:
- Láo chỗ nào nào? Tôi đã thật thà nói là tôi làm như thế. Chớ tôi có nói là tôi dịch bằng sự tinh tường chữ Hán của tôi đâu? Còn công danh thì tôi cũng khoái tỷ lắm nếu như có được. Mà khi mình không có được mà cứ lơ mơ với nó thì chẳng hư ảo là gì?
Cả hai cùng cười, những nụ cười sảng khoái có thật. Bảy Huỳnh chợt hỏi tôi:
- À. Ông nói ông biết hai chữ gì? Ông nói lại.
- Chữ Phúc, vì ngày tết người ta thường mua về dán ở nhà. Chữ Song Hỷ thì đám cưới nào cũng có.
Bảy Huỳnh nhìn tôi cười:
- Tôi không tin ông chỉ biết bấy nhiêu. Ông nói thế là để che dấu một ý đồ chơi tôi. Hai chữ đó chỉ xuất hiện khi người ta vui vẻ. Như vậy chứng tỏ rằng ông chẳng còn gì phải ưu tư. Thì ra ông vẫn vậy. Tôi nhớ lúc ở khám lớn, ăn độn bo bo, mỗi lần đi cầu rặn muốn lòi con trê. Thế mà ông dám gọi là “cao lương… mỹ vị “ cộng thêm việc ngủ có lính gác, đi có công an dẹp đường. Cuộc sống như thế không vương giả là gì?
Tôi phì cười:
            - Bảy Huỳnh suy luận hơi xa rồi. Chẳng qua là tìm một thứ gì đó vui vui để quên đi những cái buồn buồn. Thế thôi.
Bảy Huỳnh có vẻ trầm ngâm;
- Hình như ông không phải là một người thái quá.
- Tại sao?
- Nghe ông nói mà tôi biết. Người ta vui hoặc buồn hay vui quá, buồn quá. Còn ông thì vui vui, buồn buồn. Ngữ cảnh của ông chỉ là một cơn gió thoảng qua.
Tôi im lặng và Bảy Huỳnh lại đọc cho tôi nghe cả nguyên tác một bài thơ của Lý Bạch và bản dịch của anh:

XUÂN NHẬT TÚY. KHỞI NGÔN CHÍ

Xử thế nhược đại mộng,                    
Hồ vi lao kỳ sinh ?
Sở dĩ chung nhật túy
Đồi nhiên ngọa tiền danh
Giác lai miện đình tiền           
Nhất điểu hoa gian minh
Tá vấn thử hà nhật ?
Xuân phong ngử lưu oanh
Cảm chi dục thán tức
Đối tửu hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi minh nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.           
            Lý Bạch
                    LỜI CỦA XUÂN SAY
    Đời như giấc mộng bành ky,
Chẳng ai xui dại tội gì bon chen?
    Suốt ngày say mẽm mèm mem,
Sải chân nằm ghếch trước thềm. Có sao?
    Liếc nhìn sợi nắng xiên vào,
Tiếng chim kêu réo lao xao hoa vàng.
    Hỏi chi ngày tháng lan man,
Con oanh mãi gọi đầy tràn gió xuân.
    Ngó đời tất bật bèn than,
Ngó mình nâng chén mà lâng lâng mình.
    Cao giọng hát, tặng trăng thanh,
Chùng lời ca lại khối tình đi tong.[ix]
Tôi bật cười:
- Ôi trời. Bảy Huỳnh dịch như thế thì quả là coi trời bằng vung. Nhưng đọc lên nghe đã thật. Bảy Huỳnh này. Kiếm vài công đất, cất cái chòi, làm ruộng rẫy gì đó và một bà vợ. Tìm chỗ kê cái bàn, thế là ngồi dịch thơ được rồi đấy. Mà cần gì cái bàn nhỉ? Kê lên đầu gối không chừng lại mượt mà hơn. Công danh là hư ảo thiệt rồi? Nếu không làm sao mà Lý Bạch nói và sống như thế và Bảy Huỳnh dịch như thế?
Bảy Huỳnh cười cười:
- Ông đúng là hết thuốc chữa. Luôn luôn đánh vào chỗ hiểm. Thôi. Tôi hỏi ông. Ông thích thơ Đường từ bao giờ.
- Khi đọc Hoàng Hạc Lâu Thôi Hiệu và bản dịch của Tản Đà[x].
Bảy Huỳnh tròn mắt nhìn tôi:
- Tôi cũng thế.
Không khí thật sự thoải mái khi chúng tôi đi vào thế giới tuyệt đẹp này. Và Bảy Huỳnh hứng chí đọc cho tôi nghe một bản dịch Hoàng Hạc Lâu của anh:
Con hạc vàng năm xưa bay mất biệt,
Để lầu buồn ngơ ngáo giữa trời không.
Hạc bay đi mà đếch thèm trở lại,
Trời hiu buồn chở mây trắng chạy rong.
Hàng cây đứng xập xòa soi bóng nước,
Cỏ thơm đầy bãi quạnh rối lung tung.
Quê hương ở nơi nào chiều đỏ choét,
Khói sương rầu rã ruột tỏa trên sông.[xi]
            Chấm dứt bài thơ dịch bằng thứ ngôn ngữ tưng tưng. Bảy Huỳnh lại hỏi tôi:
            - Ông vẫn làm thơ?
            - Vẫn làm. Nhưng không ra sao cả.
            - Nghĩa là vẫn có thơ. Ông đọc tôi nghe xem.
            Thế là đành phải đọc:
- Hãy sống với… rót tràn ly say đắm
Hãy sống cùng… chuốc cạn chén nồng hương
Bàn tay em dù lỡ nhịp nghê thường
Vẫn lay động lòng ta cơn bối rối
- Hãy sống với… mặc tháng ngày trôi nổi
Hãy sống cùng… đổ ước vọng đầy trăng
Bờ môi em đừng tô nữa màu son
Cho ngọt lịm nụ hôn dành riêng ấy
- Hãy sống với… bằng ước mơ nồng cháy
Hãy sống cùng… dù nói nửa lời yêu
Khuôn ngực em gọi tàn úa nắng chiều
Vẫn cứ mãi thơm tho từng hơi thở
- Hãy sống với… ly rượu nồng dang dở
Hãy sống cùng… dù đắng giọng bon chen
Bằng tình yêu cuộc đời sẽ đẹp hơn
Ta cũng sẽ như em mà tươi thắm
- Hãy sống với… rót tràn ly say đắm
Hãy sống cùng… chuốc cạn chén nồng hương
Bàn tay em múa lại điệu nghê thường
Lay  động  lại  tình  yêu  cơn  bối  rối
            Tôi vừa dứt. Bảy Huỳnh hỏi ngay:
            - Nghĩa là ông sống như thế? Sống cùng một ước mơ lở dở nào đó trên cơ sở của tình yêu.
            - Vâng. Tình yêu giữa con người với nhau. Bởi vì trên nhân gian này không có ai sống một mình được cả. Hãy sống cùng người mình yêu mến bằng những ước mơ nào đó. Hãy sống với mọi người chung quanh với một đồng thuận yên lành. Nếu chúng ta sống khác đi thì sống làm chi. Robinson buộc phải sống một mình trên hoang đảo. Nhưng ông ta vẫn sống cùng một ước mơ. Và sống với anh chàng Friday rất chân thành. Nghĩa là trong cuộc sống. Tôi nghĩ, không thể sống một mình. Muốn cũng không được. Mà muốn thế để làm chi? Buồn lắm Bảy Huỳnh ơi.
            Bảy Huỳnh chợt hỏi tôi:
            - Ông cho tôi biết ai dịch bài Thu Hứng của Đỗ Phủ mà ông đọc cho tôi nghe khi còn ở khám lớn.
            - Tại sao ông cứ thắc mắc mãi thế. Có điều gì không ổn chăng?
            - Ổn. Rất ổn là khác. Tay này thâm thật, thay vì làm một bài thơ cho riêng mình thì ông ta lại nhờ lời của ông thi thánh. Nhưng phải nói là chính ông mới đúng. Đem đến cho tôi một bức tranh xưa vẽ cảnh bây giờ.
            - Ông điên rồi Bảy Huỳnh à. Đừng so sánh kiểu đó. Cuộc sống chẳng qua là sự lập lại. Nhưng lập lại cái kiểu đó thì buồn đến nao lòng. Tôi nghĩ là Đỗ Phủ cũng chẳng bao giờ muốn cái cảnh đó lại tái diễn đến nhiều lần như thế trên cõi đời này và cũng rất nhiều nơi chứ không riêng gì ở Trung Quốc.
            - Ông vẫn chưa cho tôi biết tên người dịch.
            - Ông biết để làm gì? Để tìm gặp à.Tôi không nói với ông đâu. Con người ấy nói rằng “ Thơ thường được viết ra để nói về một nỗi buồn. Nhưng chưa có một bài thơ nào buồn hơn bài thơ này. Tôi hối hận khi dịch nó. Trước khi cái cảnh này hiện ra thì còn có biết bao nhiêu cảnh tượng khủng khiếp hơn rất nhiều”. Đấy, ông có còn muốn biết nữa không. Với lại, nỗi buồn đó giờ đã cũ mèm rồi.
            Bảy Huỳnh im lặng nhìn tôi. Chúng tôi nhìn nhau không nói gì thêm nữa. Rồi chia tay và không dám hẹn ngày gặp lại. Tôi biết chắc là chúng tôi đã làm cho cuộc gặp gỡ này được chia thành hai mảng buồn, vui. Không hiểu anh nghĩ gì? Nhưng tôi thực sự lo ngại cho Bảy Huỳnh, nếu cái ảo tưởng ấy còn mãi trong anh thì cuộc sống của anh sẽ gặp vô vàn bất trắc. Anh không nhận ra được cái cơ bản của hai nơi mà anh đang lựa chọn: Cái gần, mà anh muốn rời bỏ thì anh không hiểu, không chịu hiểu, dù rằng dễ hiểu. Cái xa, nơi anh muốn tới, thì anh không biết mà làm như đã biết, dù không thể biết. Và hởi ơi. Trong cuộc đời này. Có rất nhiều người như vậy. Trong đó có tôi đã một thời như thế. Ôi mua cái tivi mà không biết nó hiệu gì? Giá cả bao nhiêu? Chất lượng như thế nào? Thì quả là điên nặng. Nhưng thôi. Dù sao thì tôi và anh đã có những ngày cùng nhau gậm nhấm nỗi đắng cay về sự ngu ngốc của mình, nhưng những nghĩ suy thì rất khách nhau. Ôi. Tại sao phải gặp lại nhau để làm gì cho bận lòng như thế. Tôi buộc phải cố gắng hết sức mình để có thể từ chối anh một cách hợp lý và hợp tình. Tôi hy vọng qua những bài thơ ấy sẽ là một độc chiêu đủ sức thuyết phục được anh. Tôi sẽ nhớ mãi anh với những bài thơ Đường. Tôi hy vọng anh hiểu thấu đáo bài thơ của Lý Bạch mà anh dịch bằng cái giọng điệu tưng tưng. Nó sẽ lớn dần và trở thành động lực cho anh. Tôi và anh chỉ có một điểm chung, nhưng lại có quá nhiều điều khác biệt. Dù sao cũng cám ơn anh.
Sau lần gặp Bảy Huỳnh, thỉnh thoảng tôi cũng gặp những người trước kia từng quen biết trong tù. Khi trở về, mỗi người có một cảnh sống riêng, một suy nghĩ riêng. Gặp nhau thì cà phê, cà pháo, rồi thì tôi cố lái câu chuyện về hướng làm ăn, sinh sống, thậm chí tào lao, để tránh phải lặp lại cái cảnh như lần gặp Bảy Huỳnh, hoặc là để khỏi phải nói những chuyện về HO hay ODP gì đó. Tôi khẳng định như đã từng khẳng định, không đi đâu cả. Ở lại đất nước này để hoàn thành một chuyện lớn nhất của đời mình. Nuôi dạy con cái cho đàng hoàng. Chí ít là cũng không để cho người thân hay hàng xóm láng giềng mắng vốn. Tới ba đứa lận. Nhưng tránh điều này tôi lại gặp phải điều kia. Cái tính thích đùa của tôi càng ngày càng được nâng cao công lực. Tôi trở thành một tay nói tiếu lâm có hạng. Từ những chuyện để cười chơi, không biết tự bao giờ, tôi trở thành một tay chuyên kê tủ đứng vào họng thiên hạ. Cũng may là còn biết chút kềm chế nên cái tủ đứng của tôi làm bằng bột mì.

Tôi đã có được riêng cho mình một ngôi nhà trong con hẽm nhỏ. Vượt chỉ tiêu trước một năm. Ngôi nhà chỉ có mười mét vuông. Tôi cất cao lên và kê một cái gác, bên trên ngủ, bên dưới nuôi một con heo nái. Ngôi nhà trông như cái chuồng bồ câu, tuềnh toàng không có đủ tiện nghi. Điện, nước vẫn chia hơi, chia giòng. Và con gái tôi cũng chấm dứt những cơn khò khè, nóng sốt. Nhưng sau những giờ hý hoáy với cọ, với sơn hoặc trèo lên tuột xuống cây thang tre. Tôi tiếp tay cho vợ tôi chăm sóc con heo nái. Tất nhiên là không lời lãi gì, nhưng khi xuất chuồng bầy heo con thì cũng được món tiền kha khá để mua cái nọ, sắm cái kia. Bảy tháng sau tôi mua ngôi nhà ngang cửa với giá mười hai chỉ vàng mà chỉ trả trước có ba. Sở dĩ được như thế là vì người cần bán mà chẳng có ai cần mua. Sau mấy tháng còng lưng ra vẽ vời và mẹ tôi không biết dành dụm, dấu đút nơi nào mà cho tôi được hai chỉ. Thế là trả xong và lên kế hoạch sửa chữa. Ghê thật y như cất nhà lầu. Tôi cũng mua được cái ti vi màu, tôi gói ghém đóng thùng cẩn thận cái tivi trắng đen, xem như là một kỷ niệm quý giá của tình bè bạn, mà lần đầu tiên về nước, vợ chồng thằng Vân mua cho. Một chút ấm nồng vây quanh, vợ chồng con cái dán mắt vào và nôn nao chờ đợi ngày chủ nhật xem bộ phim Oshin. Oshin trong những ngày đầu khốn khó vì đói nghèo, mặt mày xám ngoét vì cái tivi đen trắng. Còn bây giờ tạo dựng được một cơ ngơi đầy màu sắc như cái tivi mới ấy? Chỉ Oshin thôi, chớ tôi thì còn biết đến bao giờ. Nhưng tôi hiểu ra là, cái gì mà chính mình tạo ra được bao giờ màu sắc cũng đẹp hơn. Ít ra là dưới mắt mình. Xin lỗi mày nghe Vân, về cái tivi ấy. Sau những giờ miệt mài với sơn cọ, tôi đi vào giấc ngủ với cái cảm giác “đây chính là ngôi nhà của mình, chỗ ngủ của chính mình“. Những đêm mưa hay những khi mệt mỏi vì một ngày làm việc mệt nhọc, tôi chui vào giường, trùm mền lên tận cằm, cái hơi ấm trong người lan tỏa. Và vợ con tôi bên cạnh. Tôi chợt nhớ những ngày tháng nổi trôi, ngủ bụi, ngủ bờ, ngủ ngoài mái hiên hay trong nghĩa địa khi còn đi lính. Ngủ bất cứ nơi nào có thể ngã lưng trong nơm nớp âu của những tháng ngày vong gia thất thổ. Hoặc trên vạt tràm con, rồi bệ xi măng trong những ngày gỡ lịch. Giờ đây, tôi có tấm nệm hơi êm êm, cái mền hơi âm ấm. Rồi trong cái ấm êm ấy đôi khi chợt nghĩ, ở một nơi tạm bợ nào đó, có những người đang co ro vì cái lạnh của gió mưa, vì cái lạnh lẽo của kẻ xa nhà, vì cái lạnh tê của kẻ không nhà. Vừa ái ngại cho họ, vừa tận hưởng cái hạnh phúc nhỏ xíu  của mình. Không. Phải nói là lớn lao. Bởi vì bao nhiêu năm hiện diện trên đời. Khi tôi hiểu được cái lẽ giản đơn nhất trong cuộc sống thì sức sắp mỏi và tóc sắp bay màu. Cuộc đời không hờn giận một ai, chỉ có con người hờn giận cuộc đời. Chẳng những thế còn thân thiết và trao cho nhiều điều khoái trá. Con người, trong đó có tôi, đã làm nhiều việc oái oăm. Nhưng giờ đây, tôi đang cảm nhận cái hạnh phúc của mình. Trong cuộc đời, tôi nói không biết cơ man nào là lời cảm ơn, không phải vì tôi lịch sự, mà vì cuộc đời đã cho tôi từng chút một. Từng chút, từng chút thôi, để cho tôi từ từ cảm nhận và sung sướng và hạnh phúc. Mỗi một lần nhận, mỗi một lần cảm ơn. Mỗi một lần cảm ơn, mỗi một lần hạnh phúc. Bổng dưng tôi nhớ lại những ngày đầu đất nước mới thống nhất. Đi đâu cũng thấy, cũng nghe câu khẩu hiệu ” Lao động là vinh quang “. Nhưng bây giờ thì không thấy nữa. Và tôi cười thầm với ý nghĩ; Mình thì chắc chẳng vinh quang gì rồi, nhưng sau bao nhiêu năm ngủ bụi, ngủ bờ, ngủ tùm lum tà la, nay có được một ngôi nhà của chính mình thì cũng đã quá đi chứ. Nếu không tòn teng suốt trên cây thang tre thì làm khỉ gì mà có được? Cần gì tới việc dẫn câu khẩu hiệu đó để tự lên gân. Chỉ cần đọc lại hai câu thơ tôi viết ngày nào xem ra cũng đủ. “Sống mà đếch đổ mồ hôi. Làm sao biết được cuộc đời ngon cơm”
Dù vậy. Nhưng cuộc sống tình cảm của vợ chồng tôi càng ngày càng lạnh đi vì khó khăn trong cuộc sống, cực nhọc cho riêng tôi và tính cố chấp của vợ tôi. Con bé là niềm vui duy nhất và là sợi dây vững chắc làm cho chúng tôi cố kềm chế lại. Thỉnh thoảng mẹ tôi từ nhà những đứa em tôi ra ở với vợ chồng tôi đôi ngày như là để chia đều hơi ấm của mình cho từng đứa con một thời bà ấp ủ trong lòng, nhìn cảnh lạnh nhạt của vợ chồng tôi, mẹ tôi vào cuộc bằng một lời nói như là một câu châm ngôn “Người ta nói nghèo khó, chớ không ai nói giàu khó bao giờ. Vợ chồng con làm ngày nào, ăn ngày nấy, bữa đủ, bữa thiếu. Thế thì chưa đủ khó khăn hay sao mà cứ cằn nhằn nhau mãi”. Tôi im lặng và lầm lũi với công việc của mình. Cố gắng mua sắm những thứ tiện nghi tối thiểu, mà khả năng tôi có thể, cho vợ con. Sức khỏe của vợ tôi càng ngày càng xấu đi. Tôi thì nhận ra, nhưng cô ấy thì không. Nói thế nào cũng không nghe. Nhìn vợ tôi mặt mày tái xanh khi đi chợ về. Tôi vừa thương, vừa giận. Nghèo khó đã làm cho cô ấy đuối dần và tính cố chấp lớn dần. Lần hồi, gần như tôi có thói quen đi mua sắm tất cả mọi thứ trong nhà, là từ cái chén, đôi đũa cho đến bịch bột ngọt, xà bông. Một việc mà đáng lý ra người đàn ông không ngó tới. Bởi vì, nếu cô ấy tự mua lấy thì có hai việc xảy ra. Mua ít, nên phải mua hoài và cái giỏ đi chợ hàng ngày sẽ tăng thêm trọng lượng. Và kế nữa là cô ấy chọn những thứ rẻ nhất, rồi không sử dụng được, mà nếu được thì chẳng bao lâu. Sự đỡ đần của tôi làm cho cô ấy có phản ứng ngược. Giải thích thế nào cũng không nghe. Và vợ tôi, ngày hai bữa cơm, giặt giũ và cằn nhằn tôi vì tiêu hoang và không tin vào cô ấy. Nếu khác chăng là kềm chế lại bớt khi có mặt mẹ tôi. Hoặc là khi bà ngoại của cháu từ Sa Đéc xuống thăm con, thăm cháu.
Có một nỗi buồn gì đó vương vướng trong lòng làm tôi không ngủ được, nằm ngó lên nóc mùng nghe những rì rầm của đêm phố phường, đêm phố phường không bao giờ yên tĩnh, dù sau một cơn mưa. Tiếng xe máy vụt qua rồi trả lại cái rì rầm. Tôi chợt nghe tiếng xực tắc của xe mì gõ. Một thoáng lạ lùng, sau đó là một chút nôn nao khi quá khứ hiện về. Đã lâu lắm rồi cái âm thanh này tôi không nghe thấy, có lẽ do tôi ngủ sớm. Thị xã này của ngày xưa, cũng như các thị xã khác của ngày xưa trên đất nước này: tiếng xực tắc của xe mì gõ; tiếng guốc gỗ rột rạt giờ tan hát; tiếng xộc xạch của ông mù đấm bóp giác hơi, tiếng rao của bà xẩm bán che mè đen, hay những gánh hàng rong nào đó vang lên giữa vắng lặng của đêm khuya. Những thứ đó đã xa rồi, xa thật rồi. Cũng như ngày tuổi nhỏ của tôi đã thật sự xa rồi. Cái quá khứ mịt mù nghèo khó, nhưng bình dị và êm đềm xiết bao. Tiếng xực tắc mỗi lúc một gần hơn. Tôi chui ra khỏi mùng, mở cửa, men ra đường. Cơn gió lạnh mang đầy hơi nước làm tôi tỉnh táo. Con đường Nguyễn Trung Trực sáng choang đèn cao áp, những túi rác nằm ngổn ngang hai bên lề bị cơn mưa làm cho con đường thêm nhớp nháp. Tất cả đều vắng lặng, chiếc xe mì nghi ngút khói đứng dưới cột đèn mang dáng vẻ cô đơn, chịu đựng. Người đàn ông hơn tôi chừng dăm tuổi, nhưng khắc khổ hơn nhiều đang ngồi trên cái ghế nhựa hút thuốc và thằng bé con khoảng hơn mười tuổi đang cầm hai thanh tre mà ở đó phát ra những tiếng xực tắc đều đều, âm thanh đưa lời gọi mời đơn giản ấy vang xa trong đêm vắng. Tôi bước đến, nói nhỏ:
- Ông anh cho tôi tô mì.
Ông đứng dậy, đẩy cho tôi cái ghế đang ngồi và im lặng làm công việc của mình. Tôi đứng nhìn quanh quanh. Loáng một cái ông đưa tôi tô mì nghi ngút khói. Có lẽ là đói hay tại vì tô mì khá ngon, nên tôi ăn rất nhanh. Đưa trả lại ông cái tô, tôi nhận lại một ly trà nóng và một câu hỏi như là lời chia sẻ:
- Tuổi tác cứng rồi. trong bụng hơi lưng nên khó ngủ?
Tôi nhìn anh gật đầu xác nhận:
- Mưa gió thế này, bán khá không anh?
Ông trả lời giọng tưng tưng:
- Khá thì ăn cơm, không khá thì ăn mì. Đàng nào cũng có mà ăn.
Tôi bật cười trước cái kiểu trả lời bất cần như thế. Có hai chiếc xe rề lại, hai nam hai nữ, kêu bốn tô hủ tiếu mì, ông lại làm công việc của mình, cũng nhanh thôi. Không đầy năm phút. Tôi nhìn ông làm việc, nhanh chóng, thành thạo, nhưng cái vẻ nhẫn nại, chịu đựng lại toát ra trong từng động tác. Khi đưa xong cho khách ông quay lại tôi :
- Anh uống thêm nước
- Vâng
Ông lấy cái bình rót nước cho tôi rồi nhận điếu thuốc tôi mời. Tôi hỏi :
- Nếu bán hết, ông anh kiếm được bao nhiêu?
- Hai ba chục.
- Chị nhà có làm gì không?
- Chẳng làm gì cả, mà cũng không xài phí gì? Mỗi ngày chỉ tốn cho bà ấy một nén nhang. Mà cũng có bữa tôi quên. Giọng ông lạnh tanh mà chứa đựng một nỗi buồn thật sâu, một nỗi cay đắng thật đầy.
- Anh được mấy cháu?
- Có đứa nào đâu. Thằng nhóc gõ lóc cóc là con bà hàng xóm. Không có chồng mà có thằng con. Hay thật. Thằng nhóc được bảy, tám tuổi. Bà ta vớ lấy ông nào đó không biết, thằng nhỏ không chịu đi theo. Tôi không hiểu tại sao nó lại chạy theo tôi. Cũng lạ! Bà ấy rãnh nợ, bán nhà, bỏ con đi biệt vụt. Thôi, con ai đẻ sẵn, mình nuôi. Từ đó đến giờ, ba bốn năm rồi không thấy về thăm. Ban ngày nó đi học, tối chạy theo tôi gõ lóc cóc. Cũng hay.
Nghe ông nói, tôi thoáng giật mình. Suýt chút xíu thằng nhóc đi ăn mày, lớn lên thì phá làng, phá xóm. Tôi nói:
- Vậy là ông anh hên đấy. Thôi dưỡng nhi đãi lão.
Lại một câu nói bất cần:
- Không biết tới ngày nó đãi được thì lão có còn đủ sức để nhận không?
Tôi cười:
- Hãy tin đi rồi sẽ được.
- Tin nhiều thứ lắm rồi ông anh ơi mà có được cái nào đâu? Tin mình mà còn không được nữa là
- Ông anh cứ tin đại một thứ gì đó, để có cái mà yên tâm. Đại khái như là một ngày nào đó ông sẽ có một cái quán mì. Thôi. Ông anh tính tiền cho.
- Một ngàn.
- Cái gì? Tôi ngạc nhiên.
- Một ngàn. Ông nhắc lại.
- Bán như vậy lấy gì lời mà ăn. Cha nội?
- Ông anh này lạ. Thế ông muốn bao nhiêu? Mì gõ ông ơi. Bán mắc, ai ăn.
Tôi móc tiền trả và cảm nhận được sự chịu đựng, sự nhẫn nại toát ra từ trong lời nói ấy. Chính câu nói đầy chịu đựng ấy đã cưu mang được một tương lai. Có một linh cảm cho tôi xác định như thế.
Trở vào nhà, chui vào mùng và giấc ngủ không chịu đến. Tiếng xực tắc đã nhỏ dần rồi mất hẵn, đêm vẫn rầm rì, và lời nói phớt đời của ông mì gõ mãi khá lâu mới buông tha tôi.
Từ đó thỉnh thoảng những đêm xót ruột. Tôi chờ tiếng xực tắc vọng vào. Tiếng gọi mời đơn giản và cái giá cũng rất giản đơn không như cuộc mưu sinh và cuộc đời của cha con ông mì gõ (?).

Sau bao nhiêu năm, cái thị xã nhỏ bé này nằm yên như ngủ. Những nội thương của nó hình như đang có được những động thái chữa trị và bắt đầu có hiệu quả. Cơ thể nhỏ bé ấy bắt đầu động đậy từ cái đầu. Và cái động đậy đầu tiên mà tôi nhận thấy là những từ như “lính ngụy“ hay “thằng, y, thị, hắn“ để khi gọi những nhân vật lịch sử có những hành động không hay, hay không thích, hoặc các viên chức của chính quyền Sài Gòn đã bớt đi rất nhiều, từ “lính ngụy” cũng dần dà biến mất. Thỉnh thoảng xuất hiện thì lại mang cái dáng vẻ trơ trẻn, lạc lỏng. Cũng phải thôi. Hơi đâu mà nhắc hoài chuyện cũ. Với lại, hổng lẽ cứ mãi ăn nói theo cái kiểu ba trợn, hỗn láo hoài coi cũng kỳ. Hàng hóa nhiều hơn, có chất lượng hơn. Những chiếc khăn rằn quấn cỗ, những đôi dép râu cũng đi vào quá khứ. Đôi khi xuất hiện trên sân khấu như là một màn trình diễn méo xẹo. Méo xẹo vì làm bộ nhớ chứ thật ra là không muốn nhớ.
Những chủng loại hàng hóa, bắt đầu là hàng tiêu dùng, mang dấu “Made In Viet Nam“ xuất hiện càng lúc càng nhiều. Là một tay hay ngắm nghía lung tung. Tôi ôm một mớ rơm vào lòng cho rậm bụng, khi nhìn thấy chữ Viet Nam không bỏ dấu. Tức muốn cành hông. Tốn thêm bao nhiêu mực cho hai cái dấu. Đúng là vô duyên. Nhưng vẫn chưa bực bằng trên tivi. Khi mà một ai đó cần phải có câu nói bằng tiếng Anh mà trong đó có hai từ Việt Nam. Nghe họ nói mà muốn cành hông. Trong khi cố gắng phát âm tiếng Anh thật đúng chuẩn Oxford hay Cambridge thì khi đến hai từ Việt Nam thì họ lại buông hai tiếng “Viét Nàm”. Đến cái từ Việt Nam mà người ta cũng muốn nói cho giống tây. Quả là điên nặng, khùng nặng hay là ngu nặng. Trong quá trình thay đổi, cái cũ mất đi thì cái mới thế vào. Mà thế bằng cái kiểu này thì chó thật. Ôi tôi có mang cái tư tưởng dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi không nhỉ? Khi mà hàng ngày người ta đang rao giảng hội nhập, hòa nhập. Đôi khi thấy lố, hoảng quá thì thêm vào “Hòa nhập chớ không hòa tan “
Tình hình kinh tế càng lúc càng dễ thở hơn, nhưng cũng phức tạp hơn. Cái thị xã bổng dưng chật hẹp lại. Nhà cửa mạnh ai nấy xây, trụ sở cơ quan mạnh ai nấy cất. Cất vội vàng, không quy củ, thầy thợ thì ai cầm được cây bay, thì người ấy xây. Nhưng đặc biệt là hàng rào. Những cái hàng rào thanh mảnh điểm xuyết hàng dâm bụt, bùm xụm, kim quýt… với vài cọng mồng tơi, tơ hồng không còn nữa. Tất cả bị triệt tiêu không thương tiếc và thay vào đó bằng cái tường rào thô kệch và xấu xí. Ngôi trường Nam Tiểu Học thì mái ngói đã thay bằng mái tôn, hàng rào cũng bị thay bằng cái tường rào trông như pháo đài, chỉ khác là không có mấy lỗ châu mai. Trường Nguyễn Trung Trực, trường nào cũng thế. Bệnh viện, cơ quan cũng thế. Ôi buồn. Bổng dưng tôi thấy nhớ. Quá nhớ va hí hoáy viết trên khăn giấy:
      Ôi thôi. Nhiều quá tường rào!
Cái  hàng  rào  của  thuở  nào.  Xa  xôi…
      Gỗ  hay  là  cọc  đá  thôi,
Trời cao cao với lòng người mông mênh.
      Nhìn qua ngó lại mà nên… 
Bây  giờ  vào  cõi  lãng  quên  mất  rồi.
      Còn đâu mấy cọng mồng tơi,
Trái  tim  tím  đỏ,  lá  thời  tím  xanh.
      Cho giòng mực viết thơ tình,
Có  câu  ngồ  ngộ, suýt thành ca dao.
      Cái hàng dâm bụt hôm nào,
Lá  xanh  hoa  thắm  dạt  dào  ước  mơ.
      Cho  ai  ai  đó  ngẩn  ngơ,
Gởi  sang  bên  ấy  bài  thơ  vụng  về.
      Và  ai  tà  áo  vân  vê,
Chạy nhanh cho tóc xô về bên ai.
      Tường rào sao dựng lên đây,
Để che chắn cái bầy hầy bên trong.
      Hay ngăn những cái bung xung,
Chỉ cho nó chạy long rong bên ngoài.
      Vô tình che nỗi đắm say,
Cho bên trong với bên ngoài cách ngăn.
      Cái liên tồn quá khó khăn,
Bên ngoài chẳng biết bên trong có gì ?
      Dây tơ hồng cũng mất đi…
Còn gì để nối bên ngoài, bên trong phường phố. Không gian đã hẹp lại càng chật hẹp hơn. Ngoài con đường Nguyễn Trung Trực ra, những con đường còn lại trong thị xã vẫn cứ lam nham nhưng tràn ngập xe gắn máy, loại nào cũng có, giá nào cũng có. Tất cả trở nên một mớ bòng bong. Và để làm cho giảm đi cái chật hẹp ấy, người chặt bỏ những cây xanh. Chặt từ trong khuôn viên từng nhà và rồi tới những cây thuộc dạng công cộng. Phố phường thoáng ra nhưng nóng, khô, thô và nhiều bụi, nhiều muỗi, nhiều rác hơn. Ôi buồn. Thế rồi, không hiểu sao người ta lại bắt đầu trồng cây lại và cha chung không ai khóc. Cây mất, cây còn, cây quặt quẹo. May mà còn lại một ít, để cho ai đó buồn buồn, rồi đứng nhìn, rồi ngẫm nghĩ, rồi ngậm ngùi chơi. Thỉnh thoảng gặp đó đây, những cây được chăm sóc tốt thì lại là cây kiểng, mất đi dáng vẻ tự nhiên. Thậm chí còn có cây giả, hoa giả. Lộng lẫy mà vô hồn. Bổng nhiên tôi thèm cái màu xanh bạt ngàn của cây lá. Tôi nhớ con cào cào, nhớ con chuồn chuồn, nhớ tổ chim với những con chim non há mõm đợi mồi.
Trong khi đó sự bùng phát trở lại các tệ đoan xã hội. Đỉ điếm, cờ bạc, số đề, cá độ bóng đá, hụi ngày, hụi tháng, cho vay nặng lãi phát triển gần như công khai. Chuyện ông lên, bà xuống chiếm một vị trí đặc biệt trong việc thỏa mãn những yêu cầu không chính đáng của mọi người. Tôi quả tình không hiểu vì sao lại thế. Các anh công an bổng nhiên hiền ra một cách kỳ cục. Mặt trái của sự đổi mới làm tôi thật sự khó chịu. A. Kỳ nhỉ? Cái gì cũng khó chịu. Nghĩa là làm sao? Tôi trở nên cố chấp như thế từ bao giờ?
Báo chí, sách vở, các văn hóa phẩm nhiều hơn. Nhưng lẫn lộn trong đó cái mầm độc hại cũng không ít. Nếu không muốn nói là quá nhiều. Đạo văn, ăn cắp bản quyền, chôm chỉa bài viết, bản tin loạn cào cào. Cái giá bìa không mang một thông tin cần để móc tiền ra trả mà gieo vào lòng người mua sự bực bội. May mà ở đâu cũng vậy, nên riết rồi quen (?!). Và một phút bất chợt, trong thâm tâm tôi nghĩ là hình như những người như Thu Huyền lại có đất sống. Nếu thế thì lại phải buồn hay mừng cho chị ấy đây. Phức tạp. Những nội dung của nó thì lại đáng phàn nàn hơn. Gần hơn phân nữa các ấn phẩm có nội dung nhão nhoẹt, nếu không thì cũng tào lao xích đế. Thấy cái tựa rất kêu, nhưng đọc hết nội dung thì rặt một mùi nước ốc, bẩn mắt, dơ mồm. Nhớ những ngày đầu mới thống nhất, các ấn phẩm văn hoá hầu hết đều thô về hình thức, cứng về nội dung, nhưng chắc cú là trong đó có một điều gì đó để nghĩ suy. Suy cho cùng thì cái gì mà khô và cứng ít làm dơ tay, dù có thể làm đứt tay, nhưng vẫn hơn những cái gì lỏng và nhão. Tại sao không có những cái nhẹ nhàng êm ái mà không phải làm cho ruỗng mục tâm hồn? Con mọt trong tôi khổ sở biết bao khi tìm một thứ gì đó hợp gu để gặm. Dù vậy tôi cũng cố thỏa mãn mình. Báo thì mua báo tháng, vì chỉ như thế mới đúng giá bìa. Sách thì tìm mua sách cũ, mắc rẻ cũng không sao? Bởi vì sách cũ, cái giá ấy không nói lên được điều gì. Từ đó tôi có thể tạm quên sự bực mình khi gặp cảnh trớ trêu, giá bìa in một đàng, nhưng khi trả tiền thì một nẻo. Những sản phẩm mang tính văn hóa mà cách chuyển nó đến mọi người, xem ra không văn hóa. Điều này làm tôi nổi quạu. Tôi đã nhiều lần bị chửi te tua vì cứ chăm chăm vào cái giá bìa. Cứ thế, tôi lơ lửng giữa những cái cố hữu của mình, lửng lơ trong mọi việc. Có phải chăng tôi đang đứng lại bên lề nhìn tất cả mọi người đang ồn ào, tấp nập, gấp gáp đi qua? Có phải chăng cái tuổi tác đã hằn sâu trên thân xác và tâm hồn thì đầy rẫy những kỷ niệm. Có phải chăng những thứ đó đã làm nặng bước chân? Tôi vẫn còn đủ tỉnh táo để nhận ra rằng: Không phải thế. Tôi vẫn thực hiện những ước mơ của mình là gì? Vẫn cố gắng tinh tươm hóa trong cung cách và môi trường sinh hoạt của mình và vẫn kiếm tiền. Thế thì cái gì làm cho tôi dị ứng trước những đổi thay của cuộc sống? Tại sao tôi không thích nghi nổi dù đã cố gắng bằng hết sức lực đang suy kém dần theo tuổi tác.

Công việc của tôi thì càng ngày càng khá hơn. Nhưng điều làm cho tôi bực bội nhất, cái gì cũng có tiền cò. Ông con trai đi kêu tôi làm tấm bảng cho bà già cũng đòi tiền cò! Ông chồng kêu tôi sơn cửa cho vợ cũng đòi tiền cò! Một công nhân viên kêu tôi làm bảng hiệu cho cơ quan cũng đòi tiền cò! Không chấp nhận thì không có việc làm, mà chấp nhận cái kiểu đó làm cho tôi cảm thấy mình làm sao ấy. Nhưng cuộc sống không cho phép tôi nghỉ ăn, nghỉ xài. Đứng trên bình diện pháp lý, thì việc này quả tình chỉ nhỏ như móng tay, nhưng nếu trở thành thói quen là một điều trái với đạo lý. Nhưng những thu nhập còm cõi của họ, nhất là các công nhân viên chức, chỉ vừa vặn cho một chầu café sáng và hai bữa cơm đạm bạc cho chính bản thân, thì họ sống làm sao đây, khi mà còn phải cưu mang cho cả một gia đình? Việc tìm thêm thu nhập ngoài lương là một điều tất yếu. Cô giáo giờ ra chơi bán cho học sinh của mình yaourt, đá bọc. Chị cán bộ khi tan sở về nhà tranh thủ nuôi heo. Anh công nhân tan tầm chạy honda ôm hay làm thêm một công việc gì đó? Thậm chí có những việc trái với đạo lý ở đời hoặc không đúng luật pháp. Bài thơ của Nguyễn Thái Dương viết về người thầy giáo đạp xích lô ngoài giờ là một sự đắng cay, mà một con người còn tự trọng đang gồng mình để chịu đựng. Nhưng cuộc sống thì đánh giá họ như thế nào? Trong khi cái giá trị của cuộc sống lại được hầu hết mọi người công nhận bằng biểu hiện ở bên ngoài. Và nó cuốn mọi người vào, kể cả những người không muốn. Ôi cái áo không thể làm thành thầy tu. Nhưng chẳng lẽ tu mà không mặc áo.
Tìm kiếm thêm tiền để sống khá hơn, thì lại có nhiều cách. Nhưng cách nào cho ngay ngắn kèm với sự tinh tươm thì quả là điều khó. Thật khó trong giai đoạn này. Khi mà hàng trăm thứ nhu cầu đang thò bàn tay vào những cái túi lép kẹp, và thoáng một cái, trống trơn. Thế là đành lựa chọn cái ngay ngắn để trở nên gàn dở, hay muối mặt chọn cái tinh tươm khoe mẻ để lần hồi rồi quen đi. Quen đến nỗi, chuyện tào lao bắc xế cũng trở thành nghiêm túc. Và tôi cũng thế, sự bực bội không biết bị biến mất tự lúc nào. Và rồi những khi ngồi nghĩ lại thì phải rất lâu tôi mới nhận ra mình. Lại thêm một lần nữa cái đầu bé tẹo của tôi không hiểu. Mọi việc cứ thế, phơi dần ra những mặt trái của nó. Và khi đã không còn bức xúc với cái mặt trái của bức tranh đời thì mọi người cảm thấy mình dễ dàng hơn trong việc kiếm sống. Và rồi cũng chẳng biết đó là một nỗi buồn hay một niềm vui.
Tất nhiên, đi theo đó những mơ mộng làm giàu nảy sinh. Điều này đúng quy luật. Nhưng buồn thay, làm giàu bằng mọi giá bắt đầu có đất sống. Một mảnh đất hoang hóa lâu ngày đầy những rơm khô cỏ mục, được gieo sạ tứ lung tung. Hoa thơm thì ít, mà cỏ dại thì nhiều. Thậm chí, có những lúc toàn là cỏ. Mà loại cỏ này mà đem nuôi bò, bò cũng chết. Tôi lại bị tác động, nhưng lần này thì cái tính lơ đễnh của tôi đã một lần nữa cứu tôi. Và tôi đã thực sự đổ mồ hôi cho chính mình. Tôi vẫn cứ tà tà với chiếc xe đạp, cây thang tre và những lon sơn, bó cọ. Tôi thoát trong đường tơ kẽ tóc. Còn việc tiền cò ư ? Được thôi. Mười phần trăm là tối đa. Dù đơn hàng đó ít hay nhiều.
Mọi người nói quá nhiều cái từ “Kinh tế thị trường“. Nói để chuẩn bị cho cung cách làm ăn một cách nghiêm túc thì quá ít. Mà nói để biện bạch cho những hành động ba trợn thì nhiều. Cả cái quan điểm “Khách hàng là Thượng Đế“ (?) cũng bị viện dẫn một cách khiên cưỡng. Bởi vì Thượng Đế thì có dám nói gì đâu? Mua lộn, mua lầm, thậm chí bị lường gạt thì âm thầm tự an ủi “Thôi dại một lần cho biết“. Khách hàng của tôi đa số là những người phục vụ “Thượng Đế”. Chỉ có Thượng Đế mới biết họ phục vụ như thế nào? Thế nên lắm chuyện. Ví dụ như họ đặt tôi làm một bảng hiệu với chất liệu thật xịn, nhưng phải cái giá thật rẻ, mà tôi thì không biết ăn gian. Thế là không làm được. Thực hiện một lô bảng với một giá nào đó, nhưng khi xuất hóa đơn thì giá phải gấp rưỡi hoặc gấp đôi, thế là không thèm làm. Dở ẹc (?). Hoặc khi làm xong rồi bị vạch lá tìm sâu để bớt tiền, thế là nổi quạu, không giao. Lỗ. Rốt cuộc, kẻ bán, người mua, kẻ đi thuê, người làm thuê… đều là Thượng đế. Thượng Đế là mình. Và khi có dịp thì các Thượng Đế tha hồ mà chí chóe cãi nhau. Trong khi đó, tội nghiệp cho cuộc sống, trong đó cả những “thượng đế là mình”, tiếp tục chấp nhận, tiếp tục đổ mồ hôi và chịu đựng những oái oăm? Bổng nhiên tôi nhớ những bố lếu, bố láo mà mình nói với các bậc tu hành. Thượng đế có nghĩa là Tôi Không Biết. Không ngờ nói bậy nói bạ thế mà trúng ác. Cái may cho tôi là còn có những giọt mồ hôi. Những giòng thơ thẩn trôi dần theo những giọt mồ hôi ấy. Chỉ một vài chữ rơi trên manh giấy con con và ý tưởng thì cũng bé con con như thế. Cũng đỡ cho cuộc đời, không có thêm rác rưởi (?). Cứ thế, cuộc sống trôi đi. Và tôi, nếu không bức rức chuyện mình thì cũng chuyện chung quanh. Lại nhìn ngó ba bề bốn phía, rồi nhận định lung tung nữa rồi.
Bổng có thằng bạn từ thời lính lác lù lù xuất hiện. Không hiểu làm sao mà hắn biết được tôi ở trong cái hóc bà tó này để chui vào mà tìm. Nhìn thấy bộ vó tinh tươm của hắn tôi nghe tủi tủi trong lòng. Đấy, thấy chưa? Cái bề ngoài đã tác động vào tôi. Hắn ồn ào mời tôi đi nhậu, rồi hỏi thăm nhau thì ít, mà khoe khoắn thì nhiều. Hắn đang ở Sài Gòn, làm cái nghề “Ai mua gì cũng bán, Ai bán gì cũng mua“. Sau vài chai bia đắng nghét, hắn đưa ra một đề nghị:
- Mày làm cho tao một cái mộc âm bản, để in bằng sơn lên tường. Cứ làm cho sắc sảo vào. Rồi tính bao nhiêu thì tính.
- Nhưng nội dung và kích thước thế nào tao mới làm được. Chưa hiểu gì nhưng tôi cũng nói
- Tất nhiên. Nội dung thế này. “ Khoan, cắt bê tông. ĐT. 090 “, kích thước 20x40cm. Một cái nữa “ Trị bệnh trĩ, bệnh yếu sinh lý. Gia truyền. ĐT. 090”, kích thước 30x40cm.
Tôi trợn mắt nhìn hắn:
- Bộ cái xứ Sài Gòn, không có người làm chuyện này hay sao mà mày mò về đây tìm tao.
Nốc sạch ly bia, hắn cười hề hề :
- Có hai lý do. Thứ nhất là ở trên ấy, mấy thằng có nghề thì không chịu làm. Dân ba trợn thì làm xong in lên, chữ ngả xiêu ngả tó. Thứ hai, nay sẵn dịp gặp mày. Thôi thì bạn bè giúp nhau cho có qua có lại. Mày có tiền xài, tao được việc
Tôi chưa kịp trả lời thì có tiếng chuông reo. Hắn móc cái điện thoại di động to bằng bắp chân rồi alô đâu chừng mười phút. Không hiểu bên kia nói gì, mà liệu có nói gì không? Mà hắn cứ trả lời hết chục triệu này thì sang dăm mười cây khác, làm một thằng túi không lưng túc như tôi cứ ù ù cả hai tai. Xong hắn vội kêu tính tiền, rồi nhét vào túi tôi một trăm ngàn gọi là đặt cọc và miếng giấy ghi hai cái nội dung, rồi hẹn ngày đến lấy sẽ đưa thêm, mà không cần biết tôi có nhận làm hay giá cả ra sao. Khi dẫn xe ra đường, hắn nói:
- Mày đi honda ôm về vậy. Tao có chuyện gấp.
Thế là hắn vèo đi. Và tôi thì ôm một cục tức nho nhỏ trong lòng. Dư vị của chai bia còn đắng nghét. Tôi chợt hiểu ra là. Bia mình mua uống ngọt, bia uống chùa đắng nghét. Ôi trời ơi. Ngó xuống mà coi. Tôi ba trợn mất rồi.
Sau ba ngày, hắn trở lại. Nhìn hai cái mộc âm bản, rồi thấy sẵn sơn cọ, hắn quẹt quẹt sơn lên và in ngay xuống nền xi măng. Nhìn những giòng chữ hiện lên. Hắn cười tít mắt:
- Đúng là tao gặp mày là một điều hên. Chữ nghĩa thế này mới là chữ nghĩa. Mày biết không? Đời bây giờ, bất cứ điều gì cũng phải có cái bộ vó tinh tươm cái đã, rồi sau đó tha hồ mà lu bu. Chữ nghĩa cũng vậy, phải cho đẹp mới bắt mắt thiên hạ. Đã nói quảng cáo mà. Thôi. Lấy thêm một trăm nhé. Tao về Sài Gòn ngay đây. Chậc. Lu bu quá, về chuyến này không ghé thăm được ông bà lão. Lần nào tao về ổng bả cũng hỏi tao có ghé thăm mày. Thôi về trển rồi gởi tiền qua bưu điện vậy.
Thế là hắn dọt. Thái độ kẻ cả của hắn với tôi, vô tâm dành cho cha mẹ, mà làm ra vẻ hiếu thảo. Lần này, hắn quăng vào lòng tôi một cục tức bành ky làm tôi câm họng, không nói được tiếng nào. Vừa tức giận hắn, vừa buồn cho mình. Vì cái gì, mấy trăm bạc, nể lời bè bạn hay vì mấy chai bia mà tôi đã làm cho cuộc đời thêm nhếch nhác? Suốt một buổi chiều, không một cây cọ nào được nhúng vào sơn. Ôi những nét chữ viết ngược mà tôi học lóm của thầy tôi ngày còn bé, khi đi theo các chú, các anh in bột những tờ truyền đơn chống Pháp. Rồi khi lớn lên, tôi lại đem ứng dụng vào chuyện ruồi bu. Tôi chợt cười khan khi nhớ lại câu nói của hắn còn văng vẳng bên tai. Và buồn cho hắn. Nhưng cũng có được một tiếng cười. Cười như mếu. Dẫu sao cũng một tiếng cười. Không lẽ vẽ chữ đẹp chẳng qua chỉ là để lu bu sao? Thầy tôi đâu có dạy thế?.
Trong cư xử, trong sinh hoạt, trong làm ăn, tôi là một kẻ bất thường vì sự ngay thẳng đến cố chấp? Cái tật ấy làm tôi luôn luôn thất bại? Nhưng về mặc khác, xem ra tôi có giá. Dù rằng chỉ là một cái giá rất bọt bèo. Ông bà có nói một câu “có thực mới vực được đạo“. Mà tôi thì như thế đấy, đường kiếm cơm xem ra chẳng suông sẽ gì? Nên đạo làm người mà tôi mò mẫm đi theo thì… hơi quái.

Hai năm rồi tôi không đến, một đôi lần cô ấy ra Rạch Giá thăm tôi. Chúng tôi đưa nhau ra khách sạn. Nhưng cái không gian chật chội ấy không phải là của chúng tôi. Những món ăn quanh đó không phải là khẩu vị của chúng tôi. Không gian, mùi vị không phải thiên nhiên làm miệng mồm chúng tôi nhàn nhạt. Nhưng nhớ quá, nên tìm đến nhau trong cái môi trường gượng ép ấy. Chúng tôi thật sự không thoải mái. Những cảm xúc vô hạn của ái ân dù có, nhưng vẫn không che khuất nỗi ngậm ngùi. Có một lần cô ấy nói với tôi:
- Em thấy người ta cũng hai vợ như mình vậy. Nhưng người ta chẳng làm gì cả. Chỉ ăn nhậu và đi chơi. Nay ở bà này, mai về với bà kia. Hai bà thay phiên nhau cung phụng.
Tôi phì cười :
- Tại người ta là tiên. Còn anh là người phàm. Chừng nào anh thành tiên thì hai bà vợ anh muốn cúng gì thì cúng.
Cô ấy bụm miệng tôi :
- Mình nói bậy không? Thôi, mình muốn sao cũng được. Nhưng mình cực quá mình ơi.
- Ai biểu ham thì ráng chịu. Nói chơi với mình vậy, chớ thật tình thì anh muốn thế. Dù có cực khổ một chút nhưng an tâm. Anh chịu cực như vậy là vì các con, mình biết không?
Cô ấy dụi đầu và ngực tôi. Im lặng. Tấm thân thông thoáng ấy bị bó chặt trong không gian một căn phòng nhỏ hẹp, có cái nhiệt độ hoàn toàn nhân tạo, làm cho sự rung cảm mà cô ấy nhận được ở vòng tay tôi có một điều gì như là tức tưởi. Thân thể ấy, làn da ấy và cả một tấm lòng ấy là của gió mát, của nắng hồng, của trăng xanh, của cả tiếng thì thào của cây lá quanh quanh. Nó luôn luôn rung cảm trước thiên nhiên khoáng đạt cùng với đôi tay ham hố của tôi.
Một đôi khi có dịp đi ngang chợ Thứ Ba tôi ghé thăm cô Chín và Hòa, gởi cho ba cô ấy và bác Năm vài trăm gram trà, café, một vài gói thuốc. Cho con một ít tiền hay những món cần thiết và một vài sự chuẩn bị cho hai thằng bé vào những lúc khởi đầu năm học mới. Cũng có đôi lần chúng tôi gặp nhau ở đó. Để rồi nhận lại được những lời cằn nhằn và cả những giận hờn, yêu thương của cô ấy với sự tiếp tay của cô Chín. Giận hờn không phải vì chuyện tôi không thường đến mà vì tôi hao tốn khá nhiều cho việc học của hai thằng bé(?!). Nhưng dù sao lời tự hứa ngày nào, tôi cũng đã, đang và sẽ cố gắng thực hiện. Ban đầu tưởng là khó khăn, nhưng sau đó, tôi chợt nhận ra là cũng khá dễ dàng và thuận lợi. Vì khi làm việc này, tôi cảm nhận được mục đích sống của mình có ý nghĩa hơn và cái quan trọng nhất là tôi kềm chế được những sa đà trong chén rượu mộng mơ và không biết tự bao giờ tôi không còn nốc café thay nước lã.
Còn một tháng nữa Hòa thi tốt nghiệp. Tôi phải rất cố gắng mới có thể thu xếp để về Xẻo Kè. Đây là lần đầu tiên tôi chủ động tìm đến với một lý do đúng theo trái tim mình. Quá nhớ. Thế là tôi lại phải qua giòng sông ấy. Từ ngày ra tù, mỗi lần tôi qua giòng sông này, thì cảm giác lần sau có vẻ nhẹ nhàng hơn trước kia. Tôi cố nén những ray rứt của riêng mình để tận hưởng cái khoáng đạt của giòng sông. Tôi đến nơi khá sớm, khoảng hơn mười giờ. Tôi biết hôm nay Hòa sẽ về nhà. Ba mẹ con ra đón tôi. Hai thằng nhóc, lúc này không còn nhóc nữa rồi. Chúng mừng rỡ đón tôi nhưng có vẻ chừng mực hơn. Tôi choàng tay qua vai chúng. Hơi ấm của tuổi trẻ bao giờ cũng làm cho người lớn tự tin hơn. Những đứa con của tôi, không hiểu chúng có cảm giác thế nào khi được cha mình ôm vào lòng, nhưng với tôi thì đó là hạnh phúc. Và cô ấy, không rõ xõa tung mái tóc tự bao giờ, và một cơn gió nào vắt vài món tóc qua vai tôi. Hạnh phúc như lớn thêm, lớn thêm bởi những sợi tóc mong manh ấy. Vào nhà, tôi đưa mắt nhìn quanh. Ngôi nhà thì vẫn vậy nhưng chật chội hơn. Hàng hóa nhiều hơn. Và cái vị trí của tấm ảnh mang khuôn mặt của tôi thì có vẻ hơi cực kỳ. Tôi chợt nhói lên trong lòng, mình quan trọng với họ thế sao? Liệu có xứng đáng không? Thằng Hậu bổng la lên:
            - Má. Ba mua đồ nhiều quá má ơi.
Thế là ba mẹ con túm tụm bên giỏ đồ. Mỗi món được lôi ra là một tiếng reo và ba mẹ con quên đi một vài người vừa đến mua hàng. Đến khi họ nhắc. Cô ấy mới bẽn lẽn đi bán. Còn hai thằng nhóc con thì cứ lôi ra và cứ hét hò. Nhìn họ lòng tôi rộn rã. Đây là lần đầu tiên tôi đến, mà có một cái gì đó xách trên tay. Trong khi cô ấy đang xì xào với những người mua hàng, thì tất cả được bày biện lên cái bàn. Cô ấy trở lại mở cái hộp. Ba cái đồng hồ cho ba mẹ con. Cô ấy đeo vào cho hai thằng nhóc và giữ lại cái của mình. Cô ướm cái đồng hồ trên cổ tay và nhìn tôi, miệng thì cười mà hai con mắt thì ươn ướt. Hai thằng bé thì so giờ hai cái đồng hồ. Tất cả đều quên mấy xấp vải. Còn tôi và cô ấy thì chìm trong mắt nhau.
- Mình mua làm gì mà nhiều thế. Mẹ con em đâu có thiếu.
- Vậy mình muốn anh phải tay không xuống đây hoài chắc?
- Có sao đâu? Chị và con lúc này có khỏe không mình?
- Mình yên tâm. Anh biết trồng trầu mà.
- Anh trồng trầu hả. Không đi vẽ bảng nữa à?
Trồng trầu thì phải khai mương. Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.
- Mình đó nghen. Nhưng mà em nói trước. Khi nào mình về em có gởi quà cho con. Mình không nhận không được với em. Ừ. Mà mình ơi. Bên nhà sao hả mình. Mẹ có khỏe không. Chị và con nữa. Rồi mấy cô,mấy chú
- Tất cả đều khỏe cả. Chỉ có mẹ là phải chăm sóc nhiều hơn.
- Mình nói cho lấy có.
- Vậy chớ nói cho đủ hết là tới chiều. Muốn biết rõ thì lấy mo cau bó đít rồi ra.
- Ai chớ em cũng dám lắm à nghen, mấy lần em tính dẫn con ra đại. Mẹ, chị và mấy cô chú cằn nhằn một chút rồi thôi. Cùng lắm là cúi xuống cho mẹ đánh vài roi thì mẹ hết giận. Còn có mình năn nỉ nữa mà.
Tôi thật sự hoảng. Những gì cô ấy nghĩ thì đúng đến chín chục phần trăm. Nhưng với vợ tôi thì không đơn giản như thế. Tôi đành phải nói lãng qua chuyện khác:
- Thôi không giỡn nữa. Hôm nay anh đến là xem coi mấy con học hành thế nào. Thằng Hòa sắp thi tốt nghiệp. Hai đứa lại ba bảo này
Hai thằng bé đến và tôi bắt đầu công việc của mình:
- Hòa con học hành sao rồi?
- Con đạt loại giỏi. Thưa ba.
- Thế thì tốt. Nhưng ba nói cho con nghe. Thi cử bây giờ đủ trò gian lận. Con phải tham dự kỳ thi này, một cách nghiêm túc. Tuyệt đối không quay cóp. Đậu hay rớt không quan trọng. Đậu cao hay đậu thấp. Không phải là điều đáng quan tâm. Cái quan trọng nhất là con tiếp thu kiến thức như thế nào. Học thì để biết tính toán làm ăn, để làm người hữu ích. Thế thì: Biết mà không có bằng, có bằng mà không biết. Bây giờ ba hỏi con. Con chọn cái nào
- Thưa ba, con chọn cái trước.
- Thế thì tốt. Nhưng đừng nói theo ba, dù sao biết mà có được cái bằng để chứng nhận cái biết thật sự của mình thì vẫn hay hơn. Thế nên ngay từ bây giờ con hãy cố gắng ôn tập lại những gì mình đã học. Không phải cố nhét vào đầu, mà kiểm tra lại những cái mà mình hiểu lờ mờ hay chưa hiểu. Rồi khi vào phòng thi, hãy mang tâm trạng thoải mái. Đậu thì học tiếp, không đậu thì về phụ má con chăm sóc nhà cửa ruộng nương. Hiểu ý ba chưa?
- Dạ. Con hiểu.
- Con dự định thi vào trường nào nếu tốt nghiệp?
- Thưa ba. Thầy hiệu trưởng khuyên con nên thi vào Quản trị Kinh Doanh.
- Thi vào đâu cũng được con ạ. Cái quan trọng là con thích, con quan tâm tới nó thì con mới có thể phấn đấu được. Bây giờ thì Hậu này. Con nghe ba nói gì với anh hai không?
  - Thưa ba con nghe.
  - Con năm nay học lớp tám phải không. Năm tới con thi chuyển cấp. Phải cố gắng ngay từ bây giờ. Những điều gì không hiểu, thì hỏi anh hai con. Năm nay con được xếp hạng mấy?
  - Thưa ba. Con được xếp hạng tư.
  - Thế môn toán của con thì sao?
 - Nhờ anh hai chỉ, con bớt ẹ rồi.
 - Vậy thì được. Ba mua cho tụi con mỗi đứa hai bộ quần áo. Hai bộ đồ tốt thì để cho anh hai con. Hai bộ vừa vừa thì cho con. Không phải ba ít thương con, mà tại con mau lớn, nên không mặc lâu được. Biết không ?
  - Dạ. Con biết ạ.
  -Vậy thì ngoan. Con có nghịch với má không?
 Thằng nhóc nín thinh. Tôi biết những gì đã xảy ra. Cô ấy và thằng Hoà không nói gì. Tôi quay sang:
- Mình thương con và chiều con là đúng, nhưng phải có chừng mực. Thằng Hòa nó lớn, tính nó trầm tĩnh lại thương em. Còn mình thì phải nghiêm khắc một chút. Thôi hai con đi chơi.
Khi hai thằng nhóc dẫn nhau đi đâu đó. Cô ấy nhìn tôi có vẻ lạ lùng:
- Mình coi vậy mà cũng khó ghê hén? Làm mấy đứa nhỏ hết hồn. Em cũng muốn run theo.
- Anh có khó đâu, chỉ dặn dò con thôi. Bộ thằng Hậu muốn ngang nào được ngang nấy à.
- Đâu có.
- Khi anh hỏi, nó nín thinh nhìn mình. Là anh biết ngay.
- Em đánh con không được.
- Ai biểu mình đánh. Khi đã nói không. Thì nó có quậy cách gì cũng không. Thôi anh nói vậy thì liệu mà dạy con. Bây giờ là việc của em. Nếu con thi đậu, việc học tiếp của con phải chuẩn bị ngay bây giờ. Nếu có gì thì phải cho anh hay thật sớm.
- Em đâu có biết. Không phải em sợ hao tốn. Tùy mình và con. Cha con mình tính sao em lo vậy.
Cô ấy luôn luôn trao cho tôi cái quyền lực của một người chủ gia đình. Nhưng tôi thì không làm được, yêu thương và bổn phận, thứ nào cũng nữa vời.
- Mình còn phải lo cho chị và con ở ngoải. Mình thương mẹ con em như vậy là quá rồi. Chồng người ta về đòi tiền vợ thấy mà ham. Chồng gì gặp khó khăn, đưa cho hổng thèm lấy còn cằn nhằn.
- Cha. Cái này ngộ à nghen. Sao hồi đó mình không ưng cái thằng cha bị mình cho muỗi cắn đó. Nuôi đã luôn. Rồi đày hai thằng con anh, anh về quậy cho tới bến. Thôi. Hổng có nói lăng nhăng nữa. Ba má sao rồi. Bác Năm nữa? Ừ trong giỏ có một ít trà, càfé và thuốc hút. Em gởi cho ba và bác Năm.
- Dữ hôn, mới nghe rể quý của ổng hỏi thăm à. Ừ. Mình biết hông. Bác Năm với Ba cứ cằn nhằn mình hoài về cái vụ mình gởi tiền, trà, thuốc... Nhưng nhằn thì nhằn chứ ba cũng vui lắm. Ba mời mấy người thân thiết trong xóm rồi khoe là của thằng chồng con út gởi. Bác Năm cũng thế. Ừ còn mấy bộ quần áo mình gởi nữa, em phải năn nỉ gần cả năm ba mới chịu may. Mình cũng biết nịnh ghê. Rể ngang hông mà cũng coi bộ cũng được hén.
 - Mình nói cái gì không? Anh hỏi ba có khỏe không?
- Ừ hén. Nói vậy chớ ba khỏe lắm mình khỏi lo. Anh chị tư mấy năm nay lúa trúng dữ. Mình biết hông? Hồi lúc mới gặp mình. Ba về nói với anh tư, vụ anh ban miếng đất đó. Vậy mà ba bốn năm gì đó ảnh qua coi, lúc đó ảnh lo giận tụi mình. Tới chừng qua thấy lúa đều ran ảnh khoái quá. Về nhà, hai vợ chồng, mấy đứa con ban hai mùa mới xong. Em phải qua tiếp mấy ngày, rồi chỉ cho ảnh chỉ hốt mô cỏ, rơm mục rãi lên chỗ gò mới ban ra. Anh tư cũng nói là ai cũng biết vậy nhưng làm thì ngán quá, mà mướn máy cày ban ra thì lại không tiền. Anh tư còn nói mình coi vậy mà dữ thiệt, dám phơi mình ngoài nắng hơn cả tháng trời. Mà em hỏi thiệt, mình sao gan quá vậy? Hay mình thương em.
 - Hổng lẽ người ta nuôi, ngày thì cho ăn cơm, tối lại cho ngủ chung, rồi ở không à? Bấm gan làm đại vậy, chớ mệt muốn đứt hơi.
- Mình đó nghen. Cứ nói xấu em không. Mà em đâu có kêu mình làm. Chắc mình cũng tính là làm xong rồi bỏ em luôn để khỏi bức rức chớ gì?
- Ừ. Vậy đó, rồi thì sao?
 - Tới chừng nhớ lại hai thằng con, cái hổng bỏ. Phải vậy hông ?
 - Ngu sao bỏ.
 - Vậy thì em kêu anh Tư qua quậy. Mình biết ảnh nói làm sao không ? Ảnh nói thằng chồng mày có vợ mà hổng có con mà mày hổng bắt luôn. Ba chửi cho ảnh một trận te tua. Ba còn hăm ảnh, nếu mình về mà ảnh qua quậy là ba từ ảnh luôn. Mình biết ảnh nói sao không? Ảnh nói “Bộ thằng đó ở trên rơi xuống hay sao mà tới ông già cũng mê nó“  Nói thì nói vậy, chớ nghe nói mình về ảnh cũng hỏi thăm dữ lắm. Còn hăm sẽ nhậu với mình một trận tới bến. Nếu gặp mà ảnh có rủ nhậu, thì mình uống ít ít thôi nghen mình. Uống rượu nhiều hổng có tốt đâu? Ủa mà em đâu có thấy mình nhậu hồi nào đâu. Ở xóm này có mấy ông nhậu quắc cần câu, nóng quá chịu không nổi, nửa đêm mò xuống mương ngâm nước, rồi ngủm luôn. Còn thằng cha mà bị em cho muỗi cắn đó, quỷnh cà ná té xuống đất nhập thổ, đớ lưỡi gần cả năm mới nói được.
Tôi trố mắt nhìn cô ấy:
- Còn có ông nào nhậu đã về đánh vợ không?
- Có chớ sao không? Mà mình hỏi chi vậy?
- Vậy thì mình chỉ anh. Anh tới học.
Tới phiên cô ấy trố mắt nhìn tôi :
- Mình mà nhậu say về đánh em là em la làng. Thôi. hổng nói chuyện đó. Vụ của má nè, mấy năm nay năm nào cũng mượn anh Tư, em mỗi người vài chục giạ. Ba nhìn má có nửa con mắt. Em rầu muốn chết. Tính kêu má về ở với em. Ba nghe được, ổng la dậy trời. Ba nói em mà muốn nuôi má thì đem thằng Hoà thằng Hậu nhận nước xong rồi hãy nuôi. Em thụt luôn. Thôi mỗi năm đong cho má vài chục giạ cho xong chuyện.
- Còn bác Năm.
- Bác Năm thì cũng khỏe. Lâu lâu có qua thăm em và hỏi thăm mình. Nhưng lúc này bác Năm coi bộ yếu. Lần nào bác qua em cũng đưa tiền bác ấy xài. Lúc bác nhận, lúc thì không. Mỗi lần mình gởi cho bác Năm món gì là bác ấy rưng rưng muốn khóc. Chắc nhớ anh Thuật. Nhưng lúc này Bác ấy cũng vui vui rồi. Anh Thuật, ảnh có một đứa con, năm nay hăm mấy rồi. Hồi năm ngoái, vợ anh Thuật dẫn hai vợ chồng nó qua nhìn ông nội. Tội nghiệp bác Năm, ổng chưng hửng. Tới chừng rõ ra bác Năm mừng muốn xỉu. Nghe nói anh Thuật được phục hồi lại rồi, được công nhận là liệt sĩ, cũng nhờ anh năm Đất, chồng sau của vợ anh Thuật đấu tranh dữ lắm mới được. Thôi, cũng mừng cho bác ấy. Nhưng nghĩ tới nghĩ lui, em bực bội mình với anh Thuật không nói nổi. Khi không nhét vô bụng người ta một thằng nhóc, rồi một ông thì ngủm, một ông thì lo đi ở tù. Thiệt là bạn bè của mấy ông sao mà giống hệt nhau.
Nghe cô ấy huyên thuyên mà tôi vui buồn lẫn lộn, mỗi con người có một số phận thì đã đành. Nhưng cái số phận gì mà oái oăm. Niềm vui bao giờ cũng đến muộn. Mỗi người một nỗi buồn riêng, một niềm vui riêng. Có thể na ná như nhau, nhưng sự cảm nhận thì chẳng ai giống ai bao giờ. Chính tôi cũng vậy. Tự mình gây ra bao nhiêu hệ lụy, để rồi bây giờ chết cứng. Bổng tôi nhớ hai câu ca dao mà tôi trêu cô ấy lúc nãy. Cái câu trên nó đúng bao nhiêu. Thì cái câu dưới nó trớt qướt bấy nhiêu. Miệng mấy bà thì luôn bảo cho đồng, nhưng ai cũng muốn phần hơn. Đố thằng cha nào hai vợ mà thương đồng cho nổi. Ông trời mà có thêm bà Đông Vương Mẫu thì chắc cũng trớt quớt thôi. Sợ hổng chừng lúc đó, chắc thiên hạ te tua, lúc thì nắng bể đầu, khi thì mưa thúi đất. Bà nào cũng quyền uy hơn cả trời.
 - Mình này. Mình mua quần áo cho em chi nhiều vậy? Quần áo này ở đây đâu có bận.
- Mình lạ thật. Con trai lớn tồng ngồng, sắp sửa sui gia tới nơi. Mình phải may dăm bộ đồ dài để ai mời đám tiệc, cưới gả gì đó mà đi với người ta, Không đi, mai mốt cưới vợ cho thằng Hoà thì mình viết thiệp mời ai?
- Ờ há. Hồi đó tới giờ, ai mời đám gì em cũng gởi không? Nhưng mình mua làm chi cho tới bốn bộ.
 - Mình tệ thật đó. Nay mặc bộ này, may mặc bộ kia. Có một bộ mặc hoài coi sao được.
- Cũng tại mình không khéo dạy vợ. Bây giờ trách ai?
- Bây giờ dạy. Nghe không?
- Hông. Em mà làm bà sui kỳ chết. Mà sao mình cứ mặc áo trắng không vậy? Em thấy trong giỏ đồ của mình.
- Anh đen thui, mặc áo màu xấu hoắc.
- Hổng dám xấu đâu? Xấu mà em thương à.
- Thôi. Ai mua xăng dưới sông kìa.
Hiện tại cuộc sống của ba mẹ con cô ấy càng lúc càng vững vàng hơn. Hình như đó là một sự bù trừ nhỏ nhoi cho sự mất mát lớn lao của ba mẹ con cô ấy. Sự xuất hiện của tôi bên họ như là một thứ tình cảm hư ảo. Tôi không thể đến với cha mẹ và anh em cô ấy với dưới bất cứ danh nghĩa nào. Dù rằng họ chấp nhận tôi. Tôi không thể dẫn con tôi về cho chúng biết bên nội chúng là ai.
 Tôi bước xuống bờ sông. Thấy gần hai chục phuy xăng, dầu mà cô ấy bày bán và tôi thực sự lo. Lỡ một cái là ba mẹ con Tôi không dám nghĩ tiếp. Cô ấy đang vô tư chuyện vãn gì đó với mấy người mua. Tôi nhìn quanh và cố suy nghĩ xem mình phải làm gì để giải quyết vụ này. Hay là bảo cô ấy dẹp.
  Lúc lên nhà thì thằng Hoà đã dọn cơm ra. Vợ chồng con cái xúm nhau ăn. Nhưng hình như nói nhiều hơn ăn. Dù rằng bao giờ cũng thế. Bữa cơm ở nơi này luôn làm tôi ngon miệng. Ăn cơm xong tôi kêu cô ấy và thằng Hòa ra chỗ đặt mấy phuy xăng và nói :
   - Một ngày mình bán được chừng bao nhiêu?
  - Đủ thứ, khoảng hai ba trăm lít. Cô ấy có vẻ phấn khởi. Có bữa cả ngàn.
  - Nếu dẹp không bán nữa, có ảnh hưởng gì tới cuộc sống mấy mẹ con không?
   -  Đâu có sao. Mà sao lại phải dẹp hả mình?
  - Anh nói mình nghe. Nếu mình bán nữa thì phải làm theo những gì anh chỉ. Còn thấy không thể làm được thì nghỉ. Chớ như vầy nguy hiểm lắm. Có việc gì thì chết anh.
  - Thì mình chỉ đi, rồi em làm. Chớ bỏ uổng lắm. Mỗi ngày lời gần cả trăm ngàn. Em tính số tiền này để dành, sau này con nó học hành, thì đỡ lo cho mình. Em nuôi con lớn, cho con ăn no, mặc lành thì được. Nhưng chuyện học hành của con thì mình tính chớ em có biết gì đâu?
  - Ai nói với em như vậy ?
  - Thì mình nói chớ ai? Nghe nói thằng Hòa không được đi học là mặt mày mình xanh lè. Chạy táo tác lo cho con.
  Tôi thật sự ngạc nhiên. Trong cái ý nghĩ đơn giản của cô ấy, những gì tôi muốn đều đúng, nhưng đầy rắc rối, thế nên bằng mọi cách, cô ấy giúp tôi, đỡ đần cho tôi. Tôi bảo hai mẹ con phải làm như thế nào cho đạt mức an toàn tối thiểu. Tôi vẽ ra những kiểu cách phải làm, và ước tính chi phí phải bỏ ra. Rồi giải thích cho mẹ con cô ấy cặn kẽ là tại sao phải làm như thế. Khi hai mẹ con đã hiểu. Tôi hỏi tiếp :     
 - Như vậy hai mẹ con làm được không ?
  Thằng Hòa nói ngay :
- Ba nói thì con hiểu và làm được rồi đó. Nhưng không hiểu má có đủ tiền không?
Cô ấy nhìn tôi tỏ ý ngạc nhiên :
- Em có tiền. Nhưng chắc phải chờ con nó thi xong, mới làm được. À mà sao cái gì mình cũng biết hết vậy?
- Thôi. Đừng có hỏi cái việc đó. Từ đây đến khi làm xong những điều anh dặn. Mình phải thật cẩn thận. Nhất là những thứ phòng chống cháy phải lo ngay. Nhớ dặn dò mấy ông chạy vỏ vọt lại đổ xăng dầu gì đó đều phải tắt máy và không hút thuốc. Nếu không chịu thì không bán.
 Cô ấy tròn mắt nhìn tôi ;
- Mình mà không nói thì em chẳng biết gì. Hồi đó tới giờ bơm tuốt luốt. Ai hút cứ hút, em bơm cứ bơm.
Tôi nổi gai ốc. Nhưng mẹ con cô ấy thì cứ vô tư. Tôi bảo cả hai lên nhà. Hai thằng nhóc lại chúi mũi vào nhau với việc học của chúng. Nhìn thái độ học tập của các con tôi yên tâm. Tôi thì suy nghĩ tìm một cách nào đó để thực hiện những bảo đãm an toàn cho mẹ con cô ấy. Thực ra, hầu hết ở vùng quê người ta cứ vô tư mua bán như thế và khi sự cố xảy ra thì lại cũng vô tư tự an ủi mình “ Trời kêu ai nấy dạ“. Nhưng với tôi thì thật sự tôi chẳng yên tâm chút nào. Cuối cùng tôi cũng tìm ra giải pháp tạm thời, có thể thực hiện ngay. Tôi kêu cô ấy lại :
- Mình này. Anh thật sự lo. Từ đây đến ngày con thi tốt nghiệp còn hơn cả tháng. Nên bây giờ. Anh tính như vầy. Em đi thuê ai biết đào đất, ngày mai anh ở lại với mình để giải quyết cho xong mấy cái phuy xăng dầu này anh mới yên tâm.
- Hồi đó đến giờ em vẫn bán.  Có sao đâu?
- Đúng là mình coi trời bằng vung. Xảy ra chuyện thì anh có nươc chết theo mẹ con mình luôn.  Mình phải nghe anh. Không được cãi. Tôi nghiêm mặt.
- Í ẹ. Mình dữ quá. Tới giờ em mới biết. Thôi để em đi kêu. Nhưng mà mình phải chỉ à nghen. Hòa coi bán hàng dùm má. Má có lệnh phải đi kêu người đào đất.
 Cô ấy chạy đi, tôi nhìn theo và hai thằng bé thì cười rúc rích.
Khi cô ấy trở lại và có một người vác len đi theo. Chào hỏi nhau xong, tôi dẫn anh ấy ra chỗ trại chứa mấy phuy xăng. Và chỉ cho anh đào một vành đai chung quanh trại, cao, sâu bao nhiêu và nện cho dẽ dặt. Như vậy nếu khi xảy ra sự cố thì xăng dầu không tràn ra. Khi anh ta bắt đầu tôi còn chỉ cho cô ấy những điều cần thiết phải làm để đề phòng và khi xảy ra chuyện thì phải làm sao. Cuối cùng, tôi nói :
- Khi xảy ra chuyện là em và các con phải rời xa nơi này càng xa càng tốt. Không được tiếc của làm càng. Khi về ngoài ấy anh mua bình chữa lửa gởi vào.
- Em đâu biết xài?
- Thì anh ghi cách sử dụng cho thằng Hòa. Con nó chỉ lại cho mình.
Bổng cô ấy hỏi tôi :
- Mình nè, nếu muốn làm một cây xăng như ngoài chợ thì phải làm sao?
Tôi, tròn mắt kinh ngạc:
- Mình tính làm cây xăng?
- Thì em hỏi mình vậy mà.
- Việc này anh không rành lắm, khi nào mình cần, anh nhờ bè bạn giúp.
Nhưng cái tôi yên tâm nhất là từ trại xăng đến nhà những năm mươi mét. Lúc này tháng bảy. Trời thường hay mưa. Nên tôi nghĩ nên trồng một hàng dâm bụt trước nhà vừa làm cho ngôi nhà ấm lại và có thể ngăn được lửa.
Tất cả những gì tôi cần làm cho cô ấy, tôi đã làm xong. Ba ngày ở đây. Tôi nhận lại ở cô ấy một sự chăm sóc, chìu chuộng mà cô ấy đem hết sức ra để thực hiện. Điều muốn nói thì Cuối cùng cũng bị dập tắt như bao nhiêu lần trước, và có lẽ sẽ tịt ngòi luôn. Mái tóc vẫn tự do bay lượn theo những bước chân cô ấy và luôn ban phát cho tôi cái mùi hương đã bao nhiêu năm rồi làm tôi mê đắm nhớ về. Tôi hỏi cô sao không bới. Cô ấy đỏ mặt mà không nói. Tôi hiểu bà vợ này muốn gì. Cũng có đôi lần tôi tự hỏi. Đã là đàn bà thì ai cũng có một cái gì đó để cằn nhằn, hờn trách chồng mình. Thậm chí là khi chẳng có can cớ gì. Huống hồ chi quan hệ của chúng tôi thì lại có hàng trăm cái cớ.  Thế mà cô ấy chưa bao giờ có với tôi. Cô ấy biết chắc là anh em thằng Hòa rất quan trọng trong cuộc đời tôi. Nhưng cô ấy để cho tôi tự biết chứ chưa bao giờ kêu gọi ở tôi bất cứ một trách nhiệm nào. Không hiểu trong lúc không có tôi ở đây và với nỗi nhớ quay quắt thế kia, cô ấy có giận hờn, oán trách gì tôi. Tôi nghĩ chắc là có. Nhưng liệu có bật thành lời rồi đổ lên đầu hai thằng bé. Tôi nghĩ chắc là không.
Nhìn ngắm cái cửa hàng của cô ấy. Chà, coi bộ phát triển quá rồi đây. Nhưng có vẻ hơi lộn xộn. Đụng đâu để đó, hàng mà bán chậm là hư hỏng như chơi. Đó là chưa kể đến việc chuột bọ, côn trùng. Chắc phải làm cho cô ấy mấy cái kệ hàng đây. Nhờ làm bảng hiệu lâu năm, nên tôi chỉ cần nhìn qua là biết phải làm sao và kích thước thế nào cho phù hợp. Về là thực hiện ngay thôi.
Tôi trở về Rạch Giá với công việc của mình. Nhưng điều cần phải làm ngay là đến cửa hàng gỗ đặt cho cô ấy mấy cái kệ hàng, kẽ mấy bảng tiêu lệnh phòng chống cháy, cấm lửa, không hút thuốc rồi tìm mua mấy bình chữa lửa CO2, Foam, ghi cách sử dụng, cách bày trí hàng hóa rồi gởi tàu xuống chợ Thứ Ba cho cô Chín nhờ chuyển lại. Và nhận ngay lời cám ơn được gói ghém trong giọng điệu cằn nhằn gởi qua điện thoại.

Cuộc sống càng lúc có những điều gì đó không ổn định. Đồng tiền liên tục bị phá giá. Cuộc sống lại nảy sinh ra một thành phần mới. Thân nhân Việt Kiều. Những người một thời bỏ nước ra đi, qua bao nhiêu năm tích cóp, nay được phép trở về thăm quê hương. Sau những buớc thăm dò, nay họ lủ lượt trở về và tạo nên một lớp nhà giàu mới. Một loại nhà giàu mà phần lớn là vô công rỗi nghề, ăn xài bạt mạng bởi những đồng tiền do người khác đổ mồ hôi. Cũng có một số khác thì chí thú làm ăn, nhưng ít thôi.
Trong khi hàng hoá trong nước cung chưa đủ cầu, do đó hàng lậu tràn vào sau một thời gian thăm dó. Đủ loại thập vật binh tàn. Từ chiếc xe hơi second hand đến viên thuốc cảm. Tâm lý vọng ngoại có dịp bùng phát mạnh mẽ, sau một thời gian âm ỉ. Những thứ bát nháo, xuất hiện càng lúc càng nhiều. Báo đài hè nhau la làng nhưng coi bộ không ép phê gì mấy.
 Thỉnh thoảng vì công việc làm ăn, tôi phải tới lui các quán nhậu. Thực sự những việc này, cũng như các đám tiệc, đối với tôi là một cực hình. Phải ăn những thứ mình chẳng muốn ăn, uống những thứ mình không muốn uống. Nhưng chua chát nhất là phải nghe những chuyện mình không muốn nghe, nói những điều mình không muốn nói và khốn khổ hơn phải làm ra vẻ lõi đời, đi tiếp tập hai. Những tệ nạn xã hội, nhất là mãi dâm, phát triển đúng theo quy luật cung cầu. Từ “ôm” ban đầu là một thuộc tính của việc thiếu thốn phương tiện giao thông. Nên những ai có chiếc xe gắn máy bèn sử dụng đưa rước ai đó trong những giờ rỗi rảnh để tìm thêm cho mình một thu nhập chính đáng và đáp ứng những yêu cầu chính đáng. Xe ôm. Dần dần có một ít người cảm thấy sống được rồi thành một nghề hẳn hoi. Nhưng cái từ “ôm” ấy lần hồi lan sang một lãnh vực mới làm nhói lòng người. Bia ôm, rồi café ôm, tắm ôm, thậm chí hớt tóc ôm. Vừa hớt tóc vừa ôm. Hai việc này mà làm được cùng một lúc thì hay thật(?) Đấy. Cái tệ nạn xưa bằng trái đất, nó thích nghi một cách nhanh chóng mọi tình huống và đáp ứng đúng phóc những yêu cầu quái quỷ. Và luật pháp thì luôn luôn chạy phía sau. Hụt hơi. Phải chăng điều này là một sự tất yếu của cuộc sống. Những tin tức về HIV-AIDS hình như không làm cho người ta sợ, những quảng cáo bao cao su đủ loại, ban đầu chỉ là mục đích kế hoạch hóa gia đình. Bây giờ thêm mục đích thứ hai, an toàn tình dục. Và ấn tượng nhất là hàng loạt panneaux cổ động sử dụng bao cao su, gắn dọc theo quốc lộ 80 ngang qua xã Vĩnh Trinh, huyện Thốt Nốt. Một xã vang danh cả nước. Cả trên tivi nữa. Tha hồ lựa chọn. Thời đại mới, nhu cầu mới, tệ nạn mới và bệnh tật mới. Nhưng may thay tôi lại là con người cũ, con người dị ứng với phấn son, mà các cô thì trét tô tới bến. Sau một vài lần tham gia tập hai với tư cách người quan sát và chi tiền. Tôi khước từ hẳn những trò này. Công việc làm ăn của tôi có vẻ như chựng lại. Nhưng rồi cuộc sống cũng có một sự lựa chọn của nó. Và tôi có sự lựa chọn của tôi. Tôi tự đặt mình vào một môi trường khác, với những con người khác. Dù gì, trong cái cõi thiên hạ đàm trùng này cũng có người đồng điệu.
Tôi chợt nhớ lại cái cảm giác khi lội qua sông Cái Lớn. Một thứ cảm giác mà lúc đó tôi không bao giờ nhận được vì sợ hãi, vì  lo toan chuyện tử sinh, nhưng nó đã xảy ra và bây giờ lại hốt nhiên hiển hiện rõ ràng. Cũng là nước chảy trong một giòng sông. Nhưng lại có rất nhiều trạng thái khác nhau; độ mặn ngọt, nhiệt độ, tốc độ chảy, và có cả giòng chảy trái ngược. Ôi thiên nhiên quả là có bao nhiêu điều kỳ thú. Và giòng đời thì cũng như thế chăng? Có lẽ như vậy, giòng đời vẫn trôi về tương lai, xa dần quá khứ. Nhưng bản thân ta có quyền lựa chọn một giòng chảy thích hợp cho mình. Bổng dưng cái khái niệm đứng bên lề hay bị cho ra rìa nhạt dần trong tôi. Dù thế nào thì tôi vẫn sống, vẫn lựa chọn một cách sống cho mình. Giòng thời cuộc cứ chảy về đông, về tây hay về một hướng nào, ra biển hay về nguồn. Nhưng tôi vẫn lựa chọn một hướng của tôi và không phải một mình.

Những lo toan cho miếng cơm manh áo và hàng trăm thứ khác, có đôi lúc làm cho tôi không còn nhận ra mình. Nhưng chỉ một thoáng rảnh rỗi, tôi nhận ra trong cuộc giao thời, đúng như ông mười Can đã nói với tôi. Những xung đột cũ, mới làm cho cuộc sống lộn tùng phèo và thiên hạ tha hồ cãi vã, tất nhiên là tôi cũng chẳng dại gì mà tham dự vào. Thế nên, cái tính lơ đễnh cố hữu của mình lại có dịp phát huy. Tôi cố thử làm thơ xem, nhưng sao mà ẹ quá. Ý tứ nhập nhằng, chữ nghĩa lôm côm.
Tôi nhận được thư Hòa báo tin thi rớt đại học. Thằng bé buồn. Tất nhiên. Nhưng trong thư, con nó viết “…Ba vì hoàn cảnh riêng không ở được gần má và các con. Nên việc con không thi đậu cũng là con có dịp thay ba giúp đỡ má và dạy dỗ em con…“.  Hòa còn báo cho tôi biết là nó đã làm lại cái trạm bán lẻ xăng dầu đúng theo những gì tôi dặn, và cô ấy đã cất lại một ngôi nhà mới, lợp lá thôi nhưng nền được nâng cao và lót gạch tàu. Cái cửa hàng tạp hóa trông rất bề thế. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, nhưng cũng buồn cho con. Tính đi, tính lại thì buồn nhiều hơn.
Rạch giá, ngày
Hòa con.
Ba rất buồn khi nghe tin con thi hỏng đại học và con quyết định nghỉ học. Con viện dẫn ra một lý do rất bình thường và hợp lý. Nhưng với ba thì nó không như vậy. Ba xem đó là một sự hy sinh. Ba cám ơn con. Nhưng ba buồn lắm.
 Hòa con. Ba kể cho con nghe về cái cảm giác của ba khi ba nhét cái bằng Tú Tài vào túi. Mặt ba vác hất lên trời và trong lòng thì nôn nao một giấc mộng to đùng và cứ thế ba lăng quăng tìm kiếm cho mình một con đường thật thênh thang để bước đi mà không cần phải làm gì cả, mà cũng chẳng cần biết mình có đủ năng lực để đi trên con đường ấy hay không? Bởi vì ba nghĩ với cái bằng Tú Tài ấy nó sẽ tự mang đến cho ba những thứ ba cần. Nhưng nó không mang đến cái gì cả. Cuối cùng để khi trắng mắt ra thì với những kiến thức mà cái bằng ấy công nhận. Ba phải trầy trà, trầy trật đi kiếm cơm với tư cách của một người ”nửa thầy, nửa thợ, nửa culy“. Tất nhiên ba cũng hiểu là con sẽ nghĩ thế nào về những gì ba viết. Trong thư báo tin nghỉ học của con, con đã tỏ lộ cho ba biết cái ý muốn của con về tương lai mình. Và ba cũng thấu hiểu những gian nan mà con sẽ gặp. Không phải do cuộc đời xô đẩy vào con. Nhưng chính vì cái khát khao có thêm kiến thức để hoàn thiện thêm nhân cách, khả năng của mình, điều này sẽ làm cho con thêm vất vả. Thế nên. Khi viết thư này cho con. Ngoài hai tiếng cám ơn con, ba còn gởi thêm cho con hai chữ Kiên Trì. Trong điều kiện hiện có của ba. Lúc nào ba cũng ủng hộ con.
Ba gởi lời thăm mẹ và các con. Chúc con may mắn và khỏe mạnh và đạt được ước nguyện của mình. Ba của con.
Cái thư được gởi đi mà không có hồi âm. Nhưng ngày qua ngày, tôi nhận được một lời hồi âm bằng chính những hàng động của con mình. Lòng tôi như ấm lại.

Giữa năm 1994. Tôi đưa bé Lương vào mẫu giáo như là một quán tính hơn một ý thức. Bởi vì tình hình dạy và học trong giai đoạn này có những điều mà tôi không hiểu nổi. Dù cố gắng hết sức để tìm một sự cảm thông, nhưng những gì đọc được hàng ngày trên báo, nghe, nhìn trên tivi làm cho tôi cảm thấy hụt hẩng. Đào tạo và dạy dỗ một con người được đánh đồng với chế tạo và sản xuất một món hàng. Mà khổ nỗi tình hình sản xuất thì vẫn còn đang đi theo một quan điểm “Sản xuất cái ta làm được chứ không sản xuất cái xã hội đang cần”. Thôi thì, nhắm mắt đưa chân với cái ý nghĩ “Biết đâu nó sẽ khá hơn trong những ngày tới, hoặc ít ra con nó cũng biết đọc, viết”. Tôi cũng cố gắng tìm mua được chiếc Honda dame thuộc loại cũ nhất nước, để vừa có thể đưa rước con đến trường, vừa có thể đi lại nhanh chóng hơn trong công việc. Nhưng khi mua được xe thì tôi mới chợt nhận ra là mọi người khi tham gia giao thông gần như hầu hết đều không biết luật. Đường phố hẹp, xe cộ nhiều. Mọi người dừng đâu đậu đó, thậm chí khi gặp nhau dừng lại giữa lộ tha hồ đấu láo. Mọi người xem con đường như là của riêng mình. Tai nạn giao thông xảy ra liên tục. Những biển báo giao thông thì thiếu. Tại các giao lộ thì không có hệ thống đèn tín hiệu. Cảnh Sát giao thông chỉ xuất hiện khi có tai nạn và tôi thì vừa chạy vừa run. Cũng may nhờ kinh nghiệm mấy năm cò bót nên cũng hiểu qua loa đại khái, nên cố gìn giữ cho bản thân mình.
Tôi trở thành nhà cung cấp bảng hiệu cho các chương trình quảng cáo của hảng nhớt Castrol. Những đơn hàng liên tục được gởi tới với những yêu cầu khá nghiêm nhặt nhưng được cái là giá cả khá cao và chẳng bao lâu các cửa hàng xăng dầu và các cơ sở nào có liên quan tới xăng, dầu, nhớt đều biết rõ cửa hiệu của tôi. Tôi có thêm một lượng khách hàng khá lớn. Công việc làm ăn khá phát đạt. Và tôi không còn có bất cứ một giây giờ nào cho chính mình. Trong khi đó, mẹ tôi bắt đầu nhận lấy cái hậu quả của sự cực nhọc. Anh em tôi tuy cuộc sống có khấm khá hơn, công việc làm ăn thuận lợi hơn, và kèm theo đó là tất bật suốt ngày. Nhưng chúng tôi cũng cố dành ra một khoảng thời gian nào đó để chăm sóc mẹ. Sự yên vui của mẹ là một động lực mạnh mẽ cho anh em chúng tôi trong công việc. Riêng tôi một mình hai ba gánh. Chuyện của mình thì mình để cho ai. Gồng thôi. Và còn phải gồng nhiều hơn nữa vì sức khỏe của vợ tôi càng lúc càng xấu đi. Tôi bắt đầu tập làm quen với việc một mình phải lo toan trăm thứ trong ngoài và cả việc phải nhìn ngó và nhắc nhở vợ tôi việc ăn uống, thuốc men. Tính cố chấp bảo thủ của vợ tôi được đẩy lên đến đỉnh điểm. Và tôi bình tĩnh làm bổn phận của mình đối với những người thân. Nhưng dù sao thì tôi vẫn có một niềm vui, không phải do công việc làm ăn khá ra mà là do thu nhập của tôi đủ để tôi làm tròn bổn phận đối với những người thân của mình, dù chẳng được là bao, nhưng ít ra tôi cũng không còn là một gánh nặng cho nỗi lo của họ. Con bé cũng đã có một vài ý thức về vai trò của tôi trong gia đình. Tôi thường xuyên nhận được những tin tức tốt về ba mẹ con cô ấy. Ba đứa con tôi chính là một sự động viên mạnh mẽ nhất.
Ngôi nhà tôi mua chưa có một tiện nghi tối thiểu nào. Thế là phải sửa, để ít nhất có một cái nhà tiêu, nhà tắm đàng hoàng. Tiền bạc không có nhiều. Tôi phải tính toán từng ly, từng tí một. Một hầm cầu composite vừa tiện vừa nhanh lại không tốn tiền công xây. Cột gỗ, xây tường cho đỡ tốn… Nhà trong hẽm mà, làm lớn chuyện làm gì cho phí. Nghĩa là mọi thứ được tính toán một cách cẩn thận. Nhưng đến khi mọi việc xong xuôi thì tôi tá hỏa. Gạch ống, gạch thẻ thì cong vênh kích thước không đều. Ciment thì hởi ơi, chất lượng tồi, trọng lượng thiếu. Thế là gồng mình. Cất xong ngôi nhà sau thì sạch vốn. Nhiều khi nghĩ lại thấy tức cười, vì mình quá ngây thơ. Gạch thẻ, gạch ống thời này đâu có ai làm đúng thước tấc bao giờ, mỗi cạnh hụt một hai phân là lẽ thường. Đâu có loại ciment nào mà một bao 50 kg đâu. Điều này làm tôi nhớ lại ngày ông nội mất. Với những viên gạch lượm lặt từ nơi này, nơi khác, với những bao ciment còn nguyên chất lượng. Tôi đã vẽ kiểu và tính toán để xây ngôi mộ cho ông chỉ thừa dăm viên gạch. Nhưng phen này thì thua tới bến. Nhưng thôi. Dù sao cũng kín nắng, kín mưa, có nơi tắm rửa, vệ sinh. Điện không phải chia hơi, nước không phải chia giòng. À còn lắp được cái điện thoại nữa. Quá đả. Ráng vài năm xây luôn ngôi nhà trước. Nhưng gì thì gì, tôi cũng có một cái kệ sách. Lác đác vài cuốn cũ chất lên, lác đác từng cuốn mới theo về. Nhưng khoái nhất vẫn là bộ Kiến Thức Ngày Nay càng lúc càng dày ra. Nghĩ cũng ngộ. Là tạp chí phụ san của tạp chí Văn. Nhưng tạp chí Văn thì tôi chỉ mua được có một số trong một lần lên Sài Gòn. Ôi cuộc đời tôi chẳng lẽ chỉ là một phụ san. Có thể lắm chứ.
Giờ đây, với những tiện nghi đó, dù ít ỏi, cũng đã giảm đi được phần nào cực nhọc cho vợ tôi trong công việc quán xuyến gia đình, nhưng có lẽ là hơi muộn. Vợ tôi sinh con lần đầu ở tuổi bốn mươi, ngoài sự cực nhọc, nghèo khó còn có cả cái tính hà tiện vô lối và sự cố chấp không chịu nổi. Đã vậy, vợ tôi lại không có một chút ý thức nào về việc tự chăm sóc lấy bản thân, trong khi đó thì tôi cứ mãi loăng quăng với công việc. Sức khỏe của vợ tôi càng ngày càng xấu đi, lôi kéo theo sự bẳn gắt, tăng thêm tính cố chấp. Thế là càng lúc, quan hệ của chúng tôi càng lúc càng lạnh thêm. Tôi cố hâm nóng chừng nào thì càng lạnh thêm chừng đó. Một phần do sức khỏe, một phần khác thì có trời mà biết, vợ tôi né tránh tôi, nhưng chăm sóc cho gia đình thì luôn luôn chu tất, nhưng kèm theo là những cằn nhằn. Trong khi nhà cửa thì luôn luôn bề bộn cọ sơn, bảng to, bảng nhỏ. Được cái là chưa bao giờ vợ tôi làm tôi phải xấu mặt với người thân và bè bạn. Cũng không thể trách được. Chúng tôi cưới nhau về, rồi tôi thì cứ “ta bà thế giới”. Tám năm lính lêu bêu, ba năm vong gia thất thổ lềnh bềnh, chín năm tù làm cho vợ tôi mòn mỏi tay bơi qua lại giòng sông ấy, mang cho tôi từng đồng bạc, bánh thuốc, lon gạo, dúm đường, rồi mang ngược trở về một nỗi buồn, một nỗi chờ mong. Thế nên sự so đo đong đếm là phải quá rồi. Trong khi những anh em, bạn bè chung quanh ai ai cũng chỗ nơi yên ấm. Còn ngôi nhà của chúng tôi thì khác cái chuồng bò một chút vì không có bò và cứt bò. Tiền bạc thì cứ đếm đi, đếm lại dùm cho thiên hạ. Tất nhiên, chúng tôi không có lỗi gì với nhau. Nếu có là do chúng tôi tìm đến nhau, rồi cư xử với nhau theo cái kiểu quá trẻ con. Để đến khi trở thành người lớn thì chúng tôi lại cố kềm chế, vì không đủ can đảm nói thật hết cho nhau nghe những suy nghĩ của mình. Trong khi đó cái tính lơ mơ của tôi không còn là bệnh nữa mà đã thành tật tự bao giờ.
Công việc càng lúc càng đẩy tôi sâu vào một lĩnh vực mới. Tin học. Nhưng khi tôi mua một cái máy vi tính, thì tất cả mọi người phản đối ra mặt. Tôi lấy làm lạ, và rồi tôi hiểu ra. Trong khi tôi mua cái máy vi tính vì một mục đích rõ rệt, thì hầu hết những người thừa tiền chỉ mua về để chơi game và lòe thiên hạ. Nếu đó là sự bực mình, thì cái việc tôi đi học sử dụng máy lại là một nỗi buồn khá lớn. Tất cả các cơ sở dạy vi tính không nơi nào đáp ứng được yêu cầu của tôi, bởi vì họ chỉ dạy người ta lòe. Thế là tôi tự mua sách về mày mò. Tôi chập choạng bước đi. Những bước đi kỳ thú. Rồi từ đó tôi có một niềm vui mới. Học hành, một thứ mà từ lâu, đối với tôi chỉ là những giấc chiêm bao để đến bây giờ đã trở nên hiện thực. Vất vả đấy, lôm côm đấy, nhưng đó là một điều mình thích nên cũng không đến đỗi nào. Một chân trời mới được mở ra với những ước mơ cũng mới. Tất nhiên thực hiện được tới đâu là còn tùy theo sự cố gắng của bản thân. Thế là bỏ đi chơi, bỏ xem tivi, xem phim, bỏ cả những buổi tối ngồi nghĩ ngợi ngâm nga ở quán café Có thời gian rỗi thì mày mò, cũng nhờ có cái vốn tiếng Anh học lóm thời bóc lịch, nên dù đọc chữ nọ hiểu xọ chữ kia, nhưng cũng giúp cho tôi được khá nhiều điều.
Trung đến nhà tìm tôi. Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng nói:
- A. Hôm nay thầy hiệu trưởng định đặt vẽ bảng hiệu cho trường phải không?
            Trung không trả lời tôi mà nói:
            - Mày đi uống café với tao. Tao có chuyện cần bàn.
            Thế là hai thằng kéo ra quán. Chưa kịp kêu café. Trung vào đề ngay :
            - Hai thằng nhóc nhà mày lên tìm tao?
            - Để làm gì? Tôi ngạc nhiên.
            - Về việc học hành của thằng Hòa. Nó hỏi tao, nếu muốn học tiếp thì phải làm sao? Tao thấy, nó không có điều kiện học luyện thi mà cứ thi mãi cũng toi công. Mà nếu như nó có gạo bài ở nhà có thuộc như cháo chăng nữa thì cũng khó ăn. Nó chỉ đến thăm tao thôi. Không đưa ra bất cứ một lời đề nghị giúp đỡ nào mà chỉ xin một lời khuyên. Trong khi nói chuyện, tao thấy thằng nhỏ khá quá. Nếu không học hành tới nơi, tới chốn thì tội cho nó. Tao bàn với mày chuyện này. Cho thằng nhóc học đại học tại chức.
            - Nhưng mà nó có là cán bộ, công nhân viên đâu mà học tại chức?
            - Thế mới bàn.
            - Thôi kêu cái gì uống.
            Hai thằng kêu café xong. Trung tiếp:
            - Tao nói, mày nghe. Không vừa ý thì thôi. Chứ tính mày thì tao quá rõ. Việc như thế này. Nếu thằng nhóc là công nhân viên thực thụ thì không thể học được vì quỹ thời gian không đủ. Nhưng làm một bộ hồ sơ theo dạng cán bộ, công nhân viên của một cơ quan nào đó để học tại chức thì có thể. Muốn thế phải có thủ tục “đầu tiên”. Tao không phân trần. Nhưng xác định, thằng nhóc của mày là trường hợp duy nhất mà tao bày ra cái trò này.
            - Vấn đề không phải là tiền. Tao thừa sức để lo. Nhưng cách tìm kiếm kiến thức kiểu này lu bu quá. Mày có gợi ý cho nó chưa? Mà tại sao phải thế?
            Trung cười khì :
            - Đấy tao nói mà. Mày là như thế và tao cũng như thế. Một thày giáo mà bày cái trò khỉ này, tao cảm thấy xấu hổ. Nhưng thấy thằng Hòa, tao tội nghiệp thật tình. Bởi thế cái việc tao muốn bàn với mày là như thế này. Cái lý lịch của nó vướng cái tên mày. Dù bây giờ, người ta nói là không quan tâm, nhưng thực ra là rất quan tâm đấy. Bởi vậy phải chọn một đơn vị nào đó mà người ta ít để ý kèm theo cái thủ tục “đầu tiên ấy”. Tao với mày phối hợp lo. Và sau đó mày làm tờ tự thú với nó trước lúc hoàng hôn là xong. Tất nhiên là tao chỉ bàn với mày thôi. Còn nó thì cứ cắp sách đến trường và chăm chỉ học hành là xong.
            Tôi thật sự khó nghĩ, thằng bé bao giờ cũng xem tôi như thần tượng. Cả bạn bè của tôi, nó cũng xem như thế. Nếu như giải quyết chuyện này theo hướng đó. Nó nghĩ thế nào về người cha ngang hông mà nó hết lòng kính trọng, thương yêu. Đồng ý là vì quyền lợi của bản thân nó. Nhưng lo cho con kiểu này thì hơi quái. Thậm chí là bậy bạ. Với cái kiểu học hành như thế, sau này nó hành xử với mọi người chung quanh cuộc đời của nó bằng một thái độ như thế thì chết tôi.
            - Thôi được, tao suy nghĩ lại Trung. Ngày mai tao cho mày hay.
            - Phải thật nhanh. Đành phải vậy thôi Hiền ạ! Theo thời thế một lần đi. Dù sao cũng chẳng tội lỗi gì? Không chừng vong hồn ba nó còn cám ơn mày nữa là khác. Biết đâu kiến thức mà nó thu nhặt được trong cái trò biển lận này lại hữu ích cho mọi người.
            - Đi đến mục đích bằng cái trò biển lận thì là một người biển lận rồi. Mà một người biển lận thì giúp gì được cho ai? Chỉ tổ báo hại người ta.
            - Thôi. Thì tùy mày vậy.
            Chúng tôi chia tay ra về. Khi bắt tay nhau, không hiểu sao Trung lại nhìn tôi và cười. Một nụ cười nhẹ và rất thật thà như bản tính của nó. Bước ra đường được dăm bước tôi quên chuyện này.

Rồi lần lượt từng thằng. Thằng Điện, thằng Vân, thằng Cung, thằng Luân, thằng Điểm, thằng Tuân sau bao năm nơi xứ người về thăm lại quê hương. Sau những ngày dành cho gia đình. Bạn bè tìm lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Cứ hết nhậu thì cà pháo, café. Chúng tôi như trẻ lại. Tìm đến nhau nhắc nhớ về kỷ niệm. Cái thời trẻ trung như mới ngày hôm qua, tất cả hiển hiện không thiếu một chi tiết nào. Cho đến khi nhắc tới một thằng đã chết, hay một thằng nào đó mất biệt tăm hơi. Chúng tôi ngậm ngùi cho bạn bè. Rồi khi bọn nhỏ, mà có nhỏ gì lắm đâu, đến khoanh tay chào chú bác. Chúng tôi mới giật mình nhận ra là mình già rồi. Tôi kể cho tụi nó nghe về những đoạn chông chênh của mình ngay tại quê hương. Tụi nó kể cho tôi nghe về những xót xa, cay đắng của những kẻ sống nhờ. Về những nỗi nhớ nhung mơ hồ, nhưng quá đủ để nát lòng. Những đầy đủ về vật chất, dù rằng được đổi bằng mồ hôi nước mắt và sự ê chề. Điều đó không đủ sức xóa hết những xót xa thầm kín bên trong, mà còn làm cho mỗi chuyến trở lại quê nhà đầy thêm sự nặng nề, bức bối. Chỉ được cái là không phải đi qua một quảng đời phong ba, bão táp như tôi.
Sau những chầu nhậu tới bến mừng ngày gặp lại. Tôi lấy chiếc xe cà tàng chở Tuân đi thăm lại phố phường. Đã có những đổi thay theo cái quy luật là lẽ đương nhiên. Nhưng làm sao những u hoài không trở về với những người đi tìm kỷ niệm? Chúng tôi ghé một quán café không quen thuộc và thấy mình trở thành một người xa lạ trên chính nơi mà mình đã lớn lên, đã gắn bó. Sau những nhắc nhớ một thời học trò, một thời lính lác. Tuân kể cho tôi nghe những khó khăn của mình trong những tháng ngày nơi xứ lạ quê người:
- Mày biết không những ngày đầu tiên bên ấy. Khi nhận sự giúp đỡ của những người xa lạ. Họ thì rất thật lòng. Nhưng tao cảm thấy làm sao ấy. Lạ người, lạ cảnh, lạ quê, lạ luôn tiếng nói. Tất cả đều không quen thuộc. Tao không rõ mình ra làm sao nữa? Đến khi có miếng bỏ vào mồm, cắc ca củm để dành, lúc đó bình tỉnh lại thì nỗi nhớ quê hương làm tao quay quắt. Nhưng rồi cuộc sống thì phải cố gắng thôi. Trên đất nước mình. Dù lúc đó hay cả bây giờ. Mày mang cái cảm giác là công dân hạng hai, hạng bét. Nhưng ít ra mày cũng tìm được một cái gì đó thuộc về mình. Nhưng bọn tao bên ấy thì không. Không có cái gì thuộc về mình cả. Chỉ có một thứ duy nhất là sự sống cộng với một nỗi buồn. Trên cái đất nước lộng lẫy ấy không có cái gì dành cho bọn vong gia thất thổ như bọn tao cả. Chúng tao làm việc cật lực nhằm để nuôi dưỡng một một ước vọng mơ về một nơi mình đã bỏ để ra đi. Những thằng cùng chung cảnh ngộ tìm đến nhau, nếu chỉ có một chút sa đà là tiêu liền tức khắc. Thế nên. Ngày hôm nay còn về được nơi đây, còn một chút nhớ nhau về tình bạn bè. Kể là tao may mắn. Thực ra có rất nhiều thằng, sau bao nhiêu năm xa xứ. Khi trở về quê hương nó xem những bạn bè từng một thời khốn khó như là một gánh nặng. Nhưng thôi Hiền ạ, con người mà, mình đâu có cái quyền bắt người khác phải theo ý mình và đổi lại thì cũng chẳng ai buộc được mình theo ý họ. Bởi thế, những cơ cực khi đi kiếm đồng tiền, những nhọc nhằn trong thương nhớ quê hương, những tập tành làm quen với cuộc sống. Rồi khi có được chút ít thì việc tự kềm chế cũng là một điều khổ sở không kém. Mày biết không? Không một ai chia sẻ. May mà vợ con tao qua kịp, nếu chậm một một chút nữa, tao không biết mình sẽ ra sao? Cái tao mà tao sợ nhất chính là tao không còn là tao nữa. Ấy vậy mà. Khi trở về đây, tao cũng lại không phải là tao. Cái cảm giác mình là một người từ trên trời rơi xuống, đón nhận những yêu chiều một cách quá đáng của người thân làm tao ngộp thở. Mà lý do của sự yêu chiều này thì mày chắc cũng biết rồi. Mua cho tao cái nệm để nằm, cái máy lạnh để mát và hằm bà rằng thứ nữa… Nhưng tao phải trả tiền. Tao trở thành một kẻ xa lạ với một nơi từng thân quen, cái nơi tao tha thiết nhớ mong, nôn nao khi tìm về và bây giờ xót xa khi nhìn thấy. Mày biết không? Mấy ngày nay tao thật sự rối rắm về những người thân quen. Đây là lần về nước thứ hai của tao. Những lời đề nghị giúp đỡ vượt quá khả năng tao. Bao nhiêu năm xa xứ. Dành dụm được bao nhiêu. Về hai lần là sạch trụi. Mày là bạn bè thân thiết, tao mới nói. Chứ nếu ai khác, thì tao cũng ngậm tăm thôi. Bởi nếu nói ra thì nhiều khi họ bảo mình than van, mình keo kiệt, mà muốn hào phóng thì lấy đếch chi mà hào với phóng. Thấy sòng nhậu bày ra, thèm một ly rượu đế, nhưng họ nhắc về một thùng bia, hớp một ngụm lạnh tanh và nhạt nhẻo tình đời. Thứ chó đó bọn tao uống thay nước lã, ngon lành gì đâu. Tất nhiên, không phải thằng nào cũng ba trợn như tao đâu. Lần về trước tao có nói với mày nên nhận của tao một ít tiền để làm vốn, mày từ chối. Nhưng nếu bây giờ mày hỏi thì tao chẳng biết lấy đâu ra?
- Thôi Tuân này. Không việc gì mày phải lo lắng. Có thì giúp, không thì thôi. Tao quá hiểu những người trong hoàn cảnh của mày, cũng như những người có thân nhân, bạn bè thân thiết là Việt Kiều. Nhưng cuộc sống thì nó là như vậy. Mày còn nhớ cú vượt sông ngoạn mục của tụi mình không? Việc đó mà mình còn qua tuốt, thì mấy cái việc này cũng sẽ qua thôi. Tới bây giờ tao không hiểu tại sao khi tao ra lệnh vượt sông thì không thằng nào phản đối mà còn răm rắp tuân theo, trong khi đó, hằng ngày tụi mình cự cãi um sùm. Và tao không hiểu được tại sao tụi mình qua trót lọt. À mày nói rượu đế tao nhớ ra. Lúc này mày mua ba cái thứ đó lạng quạng là thủng ruột như chơi. Còn đâu thứ rượu nếp Đường Xuồng uống tới đâu ấm lòng tới đó.
Tuân như sáng mắt ra với cái kỷ niệm kỳ thú này:
- Mày nói tao mới nhớ. Cả bọn đều qua bên ấy, trừ mày. Tất cả tụi tao gom lại đủ hết sau mười năm. À thằng Nguyên nó có nói với tao là vợ nó gặp một người quen với mày khá thân thiết. Hỏi thăm mày rất kỹ. Nhưng nó thì không gặp, nhưng lại phải chạy vạy đi hỏi tin tức mày về báo cáo cho vợ. Kỳ này tao về cung cấp đầy đủ tư liệu, chắc nó có thêm điểm với vợ rồi.
- Chắc là một người bạn nào đó thời còn đi học. Nhưng thôi dù sao có người nhắc nhở, tao cũng ấm lòng.
Tuân lại tiếp bằng cái giọng ngậm ngùi:
- Ngày nào thì mày chỉ huy cả bọn vượt sông đi tìm cái sống. Thế mà khi vượt biển thì cả bọn lại lẻ loi từng thằng, còn mày thì ở lại. Việc trước thì khẳng định là quá đúng. Còn việc sau thì tao chẳng biết nói sao đây? Kỳ trước tao về bên ấy nói gặp được mày. Bọn nó mừng lắm, rồi xúm nhau mua một chai Gin để gọi là rượu đế, gọi là nước mắt quê hương[xii], uống một trận te tua tàn tịch, phải ngủ lại nhà thằng Điểm, sáng hôm sau trả tiền gởi xe muốn khùng luôn. Thế là những nguồn tin ba lăng nhăng về mày chấm dứt. Nghe nói vợ đại úy Nhật dẹp cái bàn thờ rồi. Tội cho hai ông bà năm nào cũng làm đám giỗ cho mày.
- Trời đất. Có vụ này nữa sao?
- Thì nghe nói, mày nhường chỗ cho mẹ con chị ấy qua và chấp nhận ở lại. Rồi nghe đồn là mày chết. Thế thì hai ông bà khóc lóc um sùm rồi lập bàn thờ.
- Chẳng qua là tao không muốn đi, nên làm vẻ người hùng. Vậy thôi. Ai dè lại sinh chuyện.
- Hai ông bà bây giờ giàu lắm. Nhưng ở quá xa nên ít gặp. Gặp bạn bè, em út là mừng hết cỡ, là nhậu quên thôi, thấy ai khó khăn thì giúp. Ông ấy chi tuốt nên thằng nào dính ông ấy một lần là chạy. Nhưng cũng có những thằng hay tới lui xin xỏ. Kỳ này tao tìm cách gởi cho ông ấy địa chỉ và số điện thoại của mày.
- Để làm gì? Mày đừng làm như vậy. Khi nào gặp anh ấy. Nếu anh có hỏi thì mày liệu mà trả lời. Và cho tao gởi lời chào. Tao mà nhận được bất cứ món gì của anh chị ấy là mày phải chịu trách nhiệm.
Tuân không trả lời tôi mà chuyển qua chuyện khác:
- À quên. Tao đề nghị với mày, hôm nào tao với mày bao một chiếc vỏ vọt đi qua con sông ấy từ cái khoảng mình xuống sông cho đến lúc lên bờ.
Tôi hỏi nó ai lấy cái poncho laine ra đắp cho Út Giữa. Tuân bảo là nó lấy, vì thấy cái balô của tôi mở sẵn, khi tôi lấy băng cá nhân và thuốc sát trùng. Nó hỏi tôi có gì không? Tôi đánh trống lảng. Đúng là số phận, phải chi nó lấy của nó thì
Chúng tôi nôn nao với ý nghĩ về thăm lại giòng sông, rồi nhắc lại chuyện nọ, chuyện kia của thời xa xưa ấy. Những dại dột, xốc nổi, liều mạng đến đáng yêu, nhưng cũng đáng để toi mạng. Tôi hỏi thăm Tuân về ông Cống Hiến, thiếu tá Thảo. Tuân báo cho tôi biết thiếu tá Thảo thì qua bên ấy không chơi với ai, mà nếu muốn cũng chẳng ai chơi với ông ta. Nên không biết ông ấy như thế nào. Còn ông Cống Hiến ở Úc chớ không ở Mỹ. Nhưng có người nói là ông ấy mất rồi. Tôi chết lặng trong lòng, dù nguồn tin ấy không có gì chắc chắn. Ôi ông bạn già của tôi với một câu nói mà đến giờ này tôi chưa hiểu hết “…Rồi nghĩ lại thiệt là dở ẹc, chuyện xấu dễ như trở bàn tay mà làm còn không được thì lấy gì làm chuyện tốt…”

Trong lúc tôi đi tìm nhà quen để gởi xe. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà thằng Tuân lại tìm ngay anh tư Lụa để thuê vỏ vọt. Anh không nhận ra Tuân, bởi vì khi tôi thực hiện việc ấy cho anh, thì anh và Tuân chỉ nghe nói về nhau chớ chưa gặp lần nào, đến khi gặp tôi thì ba anh em cùng nhau mừng mừng, tủi tủi kéo nhau vô quán tào lao xích đế cho cho đã đời rồi mới xuống vỏ ra đi.
 Gió nhẹ nhàng làm cho giòng sông gợn lên những con sóng nhỏ, chúng tôi hít thở cái không khí mang vị mặn của giòng sông. Hai bên bờ sông vẫn vậy, những rặng dừa nước xanh thẫm chạy đến ngút ngàn. Chúng tôi cùng chỉ trỏ và nhắc lại từng đoạn mà chúng tôi gặp những sự cố khi bơi qua sông. Cùng nói cho nhau nghe những cảm giác khi ấy và cả những nỗi kinh hoàng khi nhớ lại. Rồi những kỷ niệm của thời khốn khó. Mà cái thời khốn khó của chúng tôi hơi dài.
 Chúng tôi tìm một xuồng chài, mua một ít cá đối, một vài con tôm, ghé lại Lô Hào Dầu tìm mua một ít rau, gia vị, một cái cà ràng và mấy ký than. Sau đó chạy đến khoảng giữa Hốt Hỏa, Xẻo Cạn. Chúng tôi cố nhận ra cái nơi mà chúng tôi bắt đầu cho chuyến vượt sông. Không thay đổi lắm, dù rằng hôm đó là đêm tối, nhưng chúng tôi cũng dễ nhận ra. Tuân bảo anh Tư Lụa đưa vỏ vọt tấp vào bờ. Đậu lại bên mép lá, nướng cá, nướng tôm. Tuân lấy ra từ trong cái giỏ mang theo, chai Courvoiser và nói:
- Tao tính uống rượu đế. Nghe mày hù nên mang theo chai này. Thôi thì mày uống đế của Việt Kiều vậy.
- Được thôi. Thử xem đế Tây khác đế Ta ở chỗ nào.
Cả ba cùng cười và gầy sòng trong cái bập bềnh của sóng nước, trong cái lấp lóa của ánh nắng. Cùng nói cho nhau trăm thứ hằm bà rằn. Khi nhắc tới chuyện vượt sông,  Tuân hỏi tôi có biết gì về cô gái hôm đó không. Tôi cười cười, trả lời lấp lửng :
- Tao gặp cô ấy mấy lần, nghe nói bây giờ cũng khá dư dã, đã có chồng và hai thằng con trai xem cũng khá ngon cơm.
- Con nhỏ đẹp thiệt nghe mậy, nhưng dính vết thẹo đó thì quả là hơi rắc rối cho đường chồng con.
- Mày gặp bao giờ mà biết đẹp. Bữa đó tối mò mò. À mà mày làm thầy tướng số bao giờ mà đoán hậu vận của người ta. Rắc rối cái con khỉ. Thẹo ở mặt thì ảnh hưởng gì đến chuyện chồng con Tôi vừa nói, vừa cười.
- Mày không nhớ hôm đó hỏa châu bắn liên tục à. Tao thấy con nhỏ đẹp quá, quên cả hiểm nguy, đứng sổng lưng nhìn.
- Đúng là mày điên.
Tuân bổng trở giọng ngậm ngùi:
- Làm như có gì xui khiến. Lúc đó là lúc cô láng giềng của tao lãnh nguyên một trái 82. Cô bé có mái tóc y chang như cô láng giềng của tao. Không hiểu tại sao bây giờ, người ta lại thích tóc ngắn, mà lại làm cho bù xù. Con nít còn được đi, thấy mấy mụ nái xề làm tao phát ớn lạnh. Vợ tao cũng thế. Giận hết biết. Thôi uống. Nhắc mấy chuyện đó buồn thấy mẹ. Phải chi cô láng giềng
 Rồi cứ mỗi một ly được rót ra xoay vòng thì ly đầu tiên Tuân đổ xuống giòng sông với lời khấn cám ơn Hà Bá ngó lơ để cả bọn qua sông trót lọt. Cứ thế chúng tôi: Hà Bá, Tư Lụa, Tuân, tôi. Cả bốn người cùng say sưa trò chuyện, chén tạc chén thù. Tất cả bồng bềnh trong nỗi nhớ, trong kỷ niệm và cả trong những ước mơ. Tư Lụa có vẻ như nhanh chóng nhận ra, và đồng cảm những gì mà anh ấy tham dự. Là một người lềnh bềnh trên sông nước để tìm chén cơm manh áo. Hơn ai hết anh ấy nhận ra được cái hồn của giòng sông. Từ cái tình cho tới nỗi hiểm nguy. Từ những nhớ mong của đôi bờ cách trở đến cái giá trị đích thực của những chuyến đò qua lại, lui tới trên sông. Anh nói với chúng tôi :
  - Thú thật với hai chú, sau ngày hai chú giúp tôi, tôi kẹt chuyện làm ăn nên theo mấy ông này. Đến khi hết chiến tranh. Làm cán bộ, lương không đủ nuôi bầy con. Làm càn thì không quen, nghiệp vụ thì không có, trình độ thì i, tờ. Thôi về làm ruộng. Ráng cho mấy đứa nhỏ học hành. Bây giờ con cái lớn rồi, đã có vợ có chồng hết. Vợ chồng tôi chia hết ruộng cho tụi nó ra riêng. Mới đây nhờ nhà nước cấp cho ngôi nhà tình nghĩa, nên cũng kín nắng, kín mưa. Hai vợ chồng già. Vợ gánh xôi. Chồng đò dọc, cũng đủ nuôi nhau. Giòng sông này gắn với tôi từ ngày còn con nít. Nhớ những ngày chiến tranh. Mỗi lần qua lại giòng sông là mỗi lần đổ máu, nếu không thì cũng rơi nước mắt. Không phải riêng gì hai chú, mà bọn tôi cũng thế. Hỏi lại thì tụi mình thù hằn gì nhau, thế mà bắn nhau chí chết. Giết qua giết lại, từ cái hận thù mơ hồ, dần dần trở thành cụ thể như những nén nhang đang tỏa ra hương khói. Chắc ông trời cũng không trả lời nổi. Bây giờ thì khỏe rồi. Ai kêu tôi chạy giờ nào, xách vỏ chạy ngay. Không còn cảnh dòm trước ngó sau. Hổng tin hai chú ở đây đi. Tối nay, trời có trăng, mình ra giữa sông đợi nước ròng thả trôi về Rạch Giá. Đã hết biết. Tôi chẳng còn sợ Quốc Gia, hai chú cũng chẳng tè gì Việt Cộng. Cùng lắm là tối nay về bị vợ cạo một phen. Cám ơn hai chú. Nhờ gặp hai chú tôi mới hiểu giòng sông này chính là cuộc đời tôi. Lâu nay, quen quá nên quên lửng.
Tôi thì kể cho Tuân nghe về giòng sông, về những thứ mà giòng sông dâng tặng cho đời. Những loại rau dân dã quê mùa như dớn choại, đọt vừng, móc câu Chỉ có giòng sông này mới cho những con cá phèn ngon nhất, nhiều nhất. Cá úc, chẽm, sữu, lẹp huyết, bóng mú, đối, tôm càng xanh, tép, cua thứ nào cũng ngon lành. Những món ăn đó đã nuôi tôi lớn lên, chúng tôi lớn lên, mọi người lớn lên, với sự chế biến, nấu nướng giản dị, quê mùa không lẫn vào đâu được. Nhưng đủ làm cho những đầu bếp sừng sỏ nhất cũng phải thán phục và những nhà hàng đặc sản dù có nằm mơ cũng không dám nghĩ. Tuân lấy máy chụp ảnh, máy quay phim, chụp quay liên tục, hết nơi này sang nơi khác. Vừa chụp vừa vùa quay vừa nói :
- Về bên ấy. Tao khua cả lủ lại, thằng nào muốn xem, phải chung một chai. Nhất là thằng Nguyên có một đống tin tức về mày.
Anh Tư Lụa thì thỉnh thoảng góp chuyện, khi thì khen rượu ngon, lúc thì khen chúng tôi sống có tình, có nghĩa. Anh cứ nhắc hoài cái vụ bị bắt quân dịch và nhiều chuyện khác. Cả ba cứ rầm rì chén chú chén anh với giòng sông. Chai Courvoiser năm xị hết veo, mặt mày cả ba hồng lên vì nắng gió, vì rượu ấm, vì tình nồng và tất nhiên là có sự góp mặt của một thứ rất trừu tượng nhưng cụ thể vô cùng. Giòng Sông Cái Lớn Lồng Lộng Nắng Gió Thanh Bình.
 Nắng càng về chiều càng rực rỡ, sóng thì vẫn cứ thì thào, men rượu làm cho cho chúng tôi cảm thấy cuộc đời đẹp hơn, hay là sự bình yên đã làm nên điều đó. Có thể cả hai. Chúng tôi làm một chuyến tìm về kỷ niệm bằng việc gặp thêm một người đồng cảm. Và một thoáng ngậm ngùi khi tìm lại ngôi nhà của ông già cho chúng tôi sưởi ấm, cùng bữa cơm với ui nước mắm kho phồng. Ngôi nhà đã khang trang hơn nhưng Ông thì đã đi rồi. Bà vợ già nua cô quạnh, với mảnh vườn mênh mông nhiều cỏ, ít cây. Bốn cái lư hương, một cái cao, ba cái thấp đặt chỏng chơ mà không có bức tranh thờ và di ảnh. Ôi. Người mà đông thì vui, vật mà nhiều thì sung túc. Nhưng lư hương càng nhiều thì cô quạnh càng sâu. Tôi nhìn lên vách lá, ba cái bằng liệt sĩ, bản thân cũng đã hắt hiu lắm rồi mà còn làm cho ngôi nhà tăng thêm hiu hắt. Tôi và Tuân mỗi đứa bốn nén nhang và gởi lại cho bà cụ cô đơn ấy một ít tiền thay thế cho bảy tấm lòng. Bà cụ cầm xấp tiền trên tay với cái dáng vẻ chịu đựng đến hững hờ. Không mừng rỡ. Không ngạc nhiên. Không gì cả. Chỉ còn lại ánh nắng chiều lấp lóa trên sông.
Trở xuống đò Tuân nói với tôi:
- Hiền này. Qua một cuộc chiến tranh, cái hậu quả để lại cho những bà mẹ bao giờ cũng sâu hơn, đau đớn hơn tất cả mọi thương tích trên đời. Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng những bà mẹ thì bao giờ cũng có nỗi đau chung, kể cả những bà mẹ may mắn khi con cái còn đủ đầy. Họ đau trong nỗi đau của cả con cái và của chính mình. Những người cha thì còn có công việc để lãng quên, nhưng những bà mẹ thì cứ quẩn quanh bên những hình ảnh luôn luôn gợi nhớ. Món ăn con thích, tấm vạt con nằm, cả những tấm áo cũ mèm còn sót lại mà con thì mất, thì xa lắc xa lơ hay quắt quay trong khó khăn cơm áo. Bà mẹ Quốc Gia, bà mẹ Việt Cộng. Bà mẹ nào cũng như nhau. Có một thời và hình như còn cả đến bây giờ, khái niệm này đã làm đau lòng mẹ. Nhưng họ là mẹ nên điều duy nhất, mà những người mẹ bao giờ cũng làm một cách vẹn toàn là thương yêu con cái, dù trên nhân gian này có không ít những đứa con trời đánh. Qua một cuộc chiến tranh, bao giờ cũng thế, nó để lại hai điều: Những người đã trở thành nấm mộ, những người này không bao giờ cãi nhau và họ đi vào quên lãng; những người chưa đi vào nấm mộ thì tiếp tục cãi nhau, thậm chí cãi với đồng chí mình, chiến hữu mình. Không biết ở đây ra sao, chứ bên ấy thì cãi hăng lắm Hiền ơi. Điều này làm đau lòng mẹ khi mà con cái chẳng thuận hòa. Hôm tao ghé tìm mày, tao có ngồi nói chuyện với bác gái. Bà y như mẹ tao, thấy con nghèo thì lo con đói đã đành, thấy con khá thì lo con gặp bất trắc, thấy con gần thì nhớ con xa. Những lời trấn an của tao hay của mày dành cho các bà mẹ của mình, của bạn bè là điều vô ích. Lo lắng, ưu tư cho những đứa con là một điều kiện sống của những bà mẹ. Đó là trong hoàn cảnh bình thường. Huống chi thế hệ của chúng mình là thế hệ chịu biết bao nhiêu nỗi nhọc nhằn, cay xót, mất mát. Thế hệ chúng ta vẫn vô tư đi trên con đường khó khăn, sinh tử của mình, mà mấy ai hiểu một cách tường tận lẽ đúng sai. Trong khi đó, bất cứ điều gì xảy ra cho chúng ta cũng làm thành nỗi đau cho các đấng sinh thành. Bây giờ chiến tranh đã không còn. Nhưng mày biết không? Tao mập mạp, yên lành, con cái nên người, có chút đỉnh bạc tiền khi về xứ. Nhưng vẫn là nỗi lo canh cánh của mẹ tao. Tội nghiệp bà cụ ban nãy, bù đắp nào có thể làm bà quên đi những đứa con mà bây giờ chỉ còn duy nhất một cái tên trên những tấm bằng liệt sĩ. Nhúm giấy bạc mà chúng mình gởi lại cho bà không giải quyết được chuyện gì cả, ngoài việc làm cho tụi mình yên tâm. Hiền. Mày có biết không? Có những bà mẹ khác nữa, đau đớn biết nhường nào khi thấy nắm xương tàn của con mình không biết xiêu lạc nơi đâu hay bị người ta xúc phạm. Mày có biết không? Từ xưa đến nay, trên khắp thế giới này, hầu hết các cuộc chiến tranh đều được gây nên bởi những người không có vai trò làm mẹ. Nên họ không bao giờ thấu hiểu được nỗi đau của người làm mẹ.
Tôi yên lặng, bởi vì không biết nói gì? Câu nói cuối cùng của Tuân như là một tiếng sét, nó làm tôi bất động khi nghĩ đến những con người ngồi trên cái vỏ vọt đếu là đàn ông. Tiếng máy vẫn nổ, tiếng sóng vẫn rì rào và tiếng của Tuân thì đã trôi theo cùng tiếng gió trên sông.
Bước lên bờ chúng tôi gởi lại tiền cho anh Tư Lụa theo như thỏa thuận. Nhìn xấp tiền, anh lấy tay gãi gãi đầu rồi lập bập:
- Nói thật với hai chú. Trong cuộc đời đò dọc, đò ngang của tôi. Đây là một chuyến đi mà tôi khoái nhất, đã nhất. Hai chú cho phép tôi hùn vào cuộc rong chơi này chút đỉnh, bằng cách là xin miễn nhận tiền.
- Vợ con còn phải ăn nữa cha nội. Tuân nói, Hùn vào cuộc vui này bằng một cách chia sạch với tụi tôi chai rượu là được rồi. Anh nhận đi cho cuộc vui chúng ta trọn vẹn.
Anh ấy tần ngần cầm lấy xấp tiền:
- Thôi hai chú ghé nhà tôi. Bà xã tôi giờ này chắc về rồi, bà ấy mà gặp lại hai chú là mừng lắm. Biết bao lâu rồi mới gặp. Bà ấy cứ hỏi thăm hai chú hoài.
Thế là chúng tôi ghé lại nhà anh. Chị tư nhận ra tôi ngay, nhưng Tuân thì chị hơi ngờ ngợ, đến khi nghe anh tư nhắc. Chị nhào tới câu cổ cả hai, hét to lên:
- Mèn ơi, mấy chục năm rồi. Tôi hỏi ổng hoài mà ổng nói không gặp mấy chú, không biết phiêu bạt xứ nào. Tưởng chú Tuân ở xa thì thôi. Ai dè chú Hiền ở kế một bên. Thôi hai chú ngồi chơi. Tôi đi làm mấy món gì đó cho mấy chú nhậu với ổng.
Không hiểu chị Tư làm thế nào mà sòng nhậu được dọn lên nhanh như chớp mà toàn là những món bắt mắt trong khi anh tư qua nhà kế bên gọi nhờ điện thoại cho ai đó. Khi vừa dọn ra xong có một tay ăn mặc ngon lành ra vẻ cán bộ dừng xe trước nhà, rồi khệ nệ mang vào một thùng bia, một bọc nước đá. Anh tư giới thiệu:
- Chào chú Hiền, chú Tuân đi con, hai chú mà tao với mẹ mày nhắc hoài đó. Quay qua chúng tôi anh tiếp. Thằng này là thằng con thứ ba của tôi đó hai chú, bây giờ nó là một phó chủ tịch xã ở huyện An Biên, hôm nay nó về thăm nhà.
Chúng tôi chào nhau và gầy sòng, trong khi chị Tư luôn miệng hỏi thăm này khác. Hít hà, chắc lưỡi khi nghe chúng tôi khổ sở. Cười toe toét khi nghe chúng tôi ngon lành. Ngượng nghịu khi nghe tôi nhắc lại vụ chị hét vào mặt tôi khi anh tư bị chúng tôi dẫn đi, hay là lúc trả tiền dư cho tôi tới mười tám ngàn. Cứ thế, cả chúng tôi có trọn một niềm vui. Chúng tôi lại ngồi rầm rì nhắc lại chuyện này chuyện khác, kể hết cho nhau nghe niềm vui nỗi buồn của từng người. Tất cả đều có chung một cảm nhận là cuộc sống dù có khó nghèo cách mấy, nhưng đã là tình cảm dành cho nhau nó chân thật xiết bao. Mọi người như gần lại hơn. Chú nhóc phó chủ tịch xã nói một câu làm chúng tôi phì cười :
- Vậy mà từ trước tới giờ cháu cứ tưởng mấy ông cảnh sát chế độ cũ giết người như ngóe.
 - Có đấy chú em. Nhưng chỉ một số ít thôi là thiên hạ muốn ngất ngư rồi. Chớ ai cũng thế thì người ta làm sao sống nổi. Nhưng thôi. Dù sao thì ba cháu và mấy chú cũng có một kỷ niệm rất xứng đáng để cho ngày gặp lại nhau cùng vui vẻ. Với lại chú nhắc cháu điều này. Nhận định tốt xấu về một con người, nên xem tính cách, đừng phán xét ở bộ áo họ mặc, công việc mà họ đảm đương
 Rồi đến lúc chia tay, hai vợ chồng đòi kêu taxi cho chúng tôi về. Sợ chạy xe về không an toàn. Từ chối thế nào cũng không được, tôi đành phải bỏ lại chiếc xe cà tàng ở nhà anh. Tôi và Tuân ra về mang theo trong lòng tiếng thì thào của giòng sông.

  Giữa năm 1997. Tôi và Út Giữa đưa thằng Hậu lên Cần Thơ nhập học trường đại học Sư Phạm. Tôi thật sự hạnh phúc. Công việc làm ăn của tôi khá thuận lợi, dư dã chút ít, nên khi đưa con đi tôi hoàn toàn yên tâm. Hơn thế, khi nhìn thấy con mình bước vào ngưỡng cửa của tri thức, mà ở đó con sẽ nhận thêm được nhiều hơn nữa ánh sáng của cuộc sống. Trong chuyến đi, cha con cùng tình cờ đọc được bài báo “ Kiến thức ngày nay là gì ? “ của Nguyễn Vạn Phú trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 213. Cả cha lẫn con thực sự hốt hoảng nhận ra một điều là muốn làm một con người thời hiện đại không phải là chuyện đơn giản. Ngoài những kiến thức ứng xử đúng nhân cách còn phải có nhiều điều khác nữa. Kiến thức là vô bờ, chọn lựa đúng đắn một phong cách sống trong môi trường của mình, thời đại của mình không phải là một điều dễ dàng, nhất là trong cuộc sống đang ngồn ngộn những nhu cầu, những thông tin hấp dẫn. Có biết bao điều mới nghe qua như là chuyện viễn tưởng nhưng nó nhanh chóng trở thành phổ thông, trở thành điều cần kíp để đủ khả năng tham dự, hoà nhập và vươn tới. Nhưng cũng không thiếu những loại kiến thức không hoặc chưa cần và cả những kiến thức dứt khoát phải loại bỏ. Hai cha con bàn bạc cùng nhau đủ chuyện; con thì háo hức bước vào tương lai và cha thì hiểu ra là đang đến ngưỡng hụt hơi và điều đó làm cho khoảng cách của cha con càng lúc càng dang xa. Bởi vì, phía trước của con tôi là một chân trời mới và tôi thì không đủ sức để bường theo. Tôi chỉ nói được với con có hai từ “ Cố gắng “. Nhưng may thay còn có một câu nói của chú chim non:
- Ba. Con sẽ cố gắng. Con là con của ba mà.
Tôi nhìn chú chim non của tôi. Nó không non như tôi tưởng. Mười chín tuổi mà những lần ở trong vòng tay cha chỉ đếm không hết mười ngón tay. Lần đầu tiên trong đời, tôi có cảm giác con mình đã lớn. Ôi hạnh phúc xiết bao. Nhưng kèm theo đó là đôi mắt cay cay cùng những gai ốc nổi suốt sống lưng khi nhớ ra là mình hai vợ. Tôi nói thầm “Con giống ba cái gì thì giống nhưng con đừng giống cái lu bu. Ba năn nỉ con”. Thiệt tình, con người ai cũng lu bu đủ chuyện. Nhưng bao giờ cũng muốn con mình tốt, con mình hay. Không ai muốn con mình xấu, con mình dở. Thiệt là cực khổ cho con tôi khi soi vào tấm gương của cha nó. Chỗ thì dơ, chỗ lại mờ mờ.
Mấy ngày hai cha con rù rì với nhau. Tôi rù rì với con thì đúng hơn. Thằng bé lắng nghe những điều ba nó nói; Dạy dỗ cũng có, năn nỉ cũng có. Nhưng dù gì thì cũng như là một lời xin lỗi con. Cuối cùng nó nói:
- Ba lo chuyện gì đâu không? Con cũng lớn, cũng biết rồi chớ bộ. Ba má muốn con thế nào? Thì con sẽ làm như thế đấy. Nhưng hơn một chút nghe ba.
Tôi nhìn con mà nghe nao nao lòng mà chẳng biết vì sao?
Sau gần ba ngày tất bật, mọi việc xong xuôi. Hậu đã làm xong thủ tục và có nơi trú ngụ của nó trong ký túc xá cùng với việc chúng tôi chuẩn bị đầy đủ mọi tiện nghi, phương tiện cần thiết cho việc học tập. Tôi dặn con đôi điều rồi cùng cô ấy trở về khách sạn. Vừa mở cửa phòng, Út Giữa nói ngay:
- Bây giờ em sẽ tính sổ với mình.
Tôi tròn mắt nhìn cô ấy:
- Tính sổ với anh. Mà mình tính cái gì?
- Thằng Hậu là con của riêng mình hay của cả em nữa?
- Mình lạ chưa? Con của cả hai.
- Thế tại sao cái gì mình cũng dành lo cho nó. Mình dạy dỗ, dặn dò con. Cái gì em cũng chịu hết. Nhưng dẫn nó ra ngân hàng mở sổ tiết kiệm cho nó, để nó rút dần mà xài. Đã thế mà cha con mình còn dấu em. Mình không để cho em lo cho con được cái gì hết. Nó xài cái gì mà gởi tới mấy chục triệu? Mình cho con tiền nhiều quá mình không sợ con nó xài bậy à?
            - À thì ra là vậy. Mà mình cũng ngộ. Cha lo cho con mà còn bị cằn nhằn. Mình biết không? Anh thì có cái tật lơ mơ. Nên cứ sẵn sàng mọi thứ cho con nó yêm tâm học hành. Thôi thì lát nữa anh cộng lại hết rồi chia hai; anh phân nửa, mình phân nửa. Được chưa?
            Cô ấy nín thinh nhìn tôi và tôi không hiểu được là trong ánh mắt kia chứa đựng cái gì? Tôi đành phải nói tiếp bằng cái giọng như phân trần:
            - Mình ơi! Có cặp vợ chồng nào mà thường hay cãi cọ, giận hờn nhau theo cái kiểu vợ chồng mình không? Nhưng gì thì gì, đã là cãi cọ nhau thì không hay rồi. Anh hiểu mình muốn đỡ đần cho anh. Nhưng mình đừng lo, lúc này công việc của anh cũng không đến đỗi nào? Có con thì phải lo. Chẳng lẽ cái gì cũng để cho mình hết sao? Anh là cha của nó mà. Anh gởi như vậy đâu phải để cho con muốn xài sao thì xài. Phải có chừng mực của nó chứ? Sổ tiết kiệm mang tên anh. Anh làm giấy ủy quyền cho con rút mỗi tháng một lần đủ số lượng chi xài, nên làm sao mà con nó rút nhiều được. Hai vợ chồng mình nhẹ lo. Con nó cũng yên tâm học hành. Anh cũng còn phải tới lui, chớ bộ bây nhiêu là xong sao. Thôi cho anh xin một lần. Vuốt giận nghen. Chịu không?
 Bổng trong ánh mắt ấy hiện lên một thứ mà tôi thường hay đọc được. Hạnh phúc, mà cái thứ này, đôi mắt cô ấy đã nói không biết là bao nhiêu lần mỗi khi tôi đến:
- Cho anh xin một lần. Cho anh xin một lần. Phải rồi, có khi nào mình xin hai ba lần đâu. Hết một lần này tới một lần khác. Liên tục. Tiền của mình là cong lưng ra, trèo lên tuột xuống cây thang vẽ bảng, chớ mình có vẽ ra tiền đâu mà con lớn, con nhỏ ho một tiếng là móc ngay.
- Chà cái này ngộ a. Cha lo cho con mà cũng bị rầy.
- Không rầy mình không được.
- Thưa chị Út. Em lỡ một lần.
- Hổng có giỡn với mình đâu. Đã vậy, miệng mồm thì dẻo quẹo. Đang bực mình muốn chết, mà mình mở miệng ra là em xuống một cái ọt. Đã vậy hai thằng con cũng y chang. Mình giành thì được thôi. Em kể như là đẻ dùm, nuôi dùm cho mình vậy. Nhưng em nói trước. Chừng nào muốn rút tiền. Con phải hỏi em. Em cho mới được rút.
 - Bây giờ tính giở trò gì đây? Anh có giành đâu? Em là mẹ nó. Em có quyền mà.
 Cô ấy cũng không vừa:
 - Em có quyền gì? Hai đứa thương mình hơn thương mẹ của nó. Thằng Hòa đó. Một điều ba con, hai điều ba con. Chưa bao giờ em nghe nó nhắc em một tiếng. Ai mà nói nó hổng phải con của mình nó quậy tới bến.
 - Thì cha nào con nấy, mà cũng tại mình ép anh, chứ anh có dụ dỗ gì ai?
- Vừa thôi nghe. Ừ. Em dụ mình đó. Làm đàn ông mà để cho người ta dụ khị mà cứ khoe hoài. Thôi không nói nữa. Em đi tắm xong ra là tính sổ chia hai.
 - Được mình dụ hổng khoe cũng uổng. Rồi, mình muốn tính gì thì tính. Nhưng để anh kỳ lưng cho.
 - Hông.
Nhưng trường hợp này thì nhạc sĩ Ngọc Lễ nói đúng hơn tôi. “Đừng nghe những gì đàn bà con gái nói“
 Tắm táp xong, người ngợm khỏe ra. Chúng tôi xuống nhà hàng của khách sạn, tìm cái gì đó để ăn. Cô ấy có lẽ đã hơi quen quen với môi trường lạ lẫm này, nên cũng bớt đi cái dáng vẻ e dè, mệt mỏi của mấy ngày đầu. Xong, cả hai lên phòng, không đi chơi mà nằm bên nhau nghe tiếng rì rầm của thành phố đang trôi dần về đêm vọng qua khung cửa kính. Cô ấy nói với tôi, giọng buồn buồn. Chắc là lại nhớ nhà, nhớ con:
- Ồn ào quá. Không như ở nhà mình, mình hén. Mình có thấy mệt không? Nếu mà phải ở luôn chắc em chịu không thấu. À. Còn chuyện này nữa. Mình xài tiền cái kiểu gì vậy. Đi gọi xe hơi, về gọi xe hơi. Bước xuống thấy mình trả tiền là em đi hết nổi.
- Vậy chớ để mình đi bộ giữa cái nắng chang chang. Anh chịu nổi à?
- Em biết mình thương em. Nhưng nhiều tiền quá, làm em nhót ruột. Mình có được đồng tiền là phải dang đầu ngoài nắng suốt ngày.
            Nghe cô ấy nói. Tôi chợt nhớ tới cảm giác của tôi khi cùng cô ấy và con buớc lên taxi. Cái nét quê mùa của cô ấy, bị cái hào nhoáng của phố phường cộng thêm cái vẻ mệt mỏi xanh xao vì không quen đi xe và cả những cái nhìn lạ lẫm thoáng qua. Tất cả làm cho tính cách ấy phô bày ra không thương tiếc. Tôi cảm thấy nhộn nhạo trong lòng. Rồi khi thấy cô ấy lóng cóng đi vào khách sạn và những nơi phải tới như trường học, quán ăn… Tôi cảm thấy mình có lỗi khi nghĩ “một người tôi cần và hết lòng thương yêu mà quê mùa như thế sao?“. Giờ đây thì chỉ còn hai chúng tôi trong cái không gian rất riêng, dù không quen thuộc. Tôi hiểu ra rằng; cô ấy và cái nơi quen thuộc, tĩnh lặng kia thật sự cần thiết cho chúng tôi xiết bao. Ở đó có đầy đủ mọi thứ cần thiết cho tình cảm và cuộc sống của chúng tôi. Tất nhiên là đối với mọi người thì cái nơi ấy nó buồn nát ruột ra. Nhưng với chúng tôi thì khác. Nó như là một dưỡng chất làm cho chúng tôi thăng hoa. Rồi như là một quán tính, tôi áp mặt mình vào mái tóc của cô ấy và hít thật sâu cái không khí của riêng tôi. Tôi không hiểu tại sao mái tóc ấy lại có một mùi như thế. Bao nhiêu lần rồi tôi định hỏi cô ấy gội đầu như thế nào, gìn giữ mái tóc ra sao mà nó mùi thơm và mượt mà như thế? Nhưng lại quên, có lẽ lần này chắc cũng quên. Có một lần tôi đã mua cho cô nào xà bông tắm, dầu tắm, nước hoa toàn là hàng hiệu với số lượng mà nếu chỉ một mình cô sử dụng thì có đến cả năm. Cô ấy mừng rỡ thật sự. Nhưng chưa bao giờ tôi ngửi được cái mùi của các loại hóa mỹ phẩm thơm phưng phức kia trên người của cô. Cô ấy bao giờ cũng là của tôi như từ thuở ban đầu. Tôi chợt nhớ những cây bưởi, cây chanh lá quắt queo vì trồng trên đất phèn. Tôi biết bên trong những cử chỉ ngờ nghệch khi ở môi trường xa lạ, bên trong bộ quần áo quê mùa kia là một thân thể tràn đầy sinh lực, là một tấm lòng đầy khát vọng yêu thương chỉ dành cho tôi. Tôi đã từng và luôn luôn đón nhận từ con người ấy biết bao cảm xúc tuyệt diệu, tôi đã từng nhận ở tấm lòng ấy biết bao dâng hiến nồng nàn. Cô ấy cho và nhận cùng một lúc bằng một bản năng. Luôn luôn đòi hỏi được cho, luôn luôn khát khao được nhận.
Bổng dưng tôi lấy làm lạ với mình. Tôi đã đi gần như là cùng trời cuối đất. Nơi nào cũng tới, chuyện gì cũng qua. Thậm chí có lắm khi cũng liều lĩnh đến những nơi không phải của mình. Cái gì cũng bị cuốn hút, rồi háo hức nhảy vào. Cố gắng thích nghi và cũng nhanh chóng quên đi. Cô ấy thì không quen đã đành. Còn tôi hàng ngày quay quắt với nợ áo cơm trong môi trường lắm ồn ào như thế này. Vậy mà cũng vẫn không quen, có quen chăng là quen chịu đựng. Hóa ra cái ước muốn của tôi nó đơn giản làm sao? Nhưng hởi ơi, muốn được nó lại là điều không đơn giản.
 - Mình ơi. Không biết tối nay con có ngủ được không hả mình? Còn thằng Hòa nữa, ở nhà có một mình.
 - Anh cũng không biết nữa, nhưng chắc là không. Bởi vì lạ chỗ, vì có bạn mới, vì năm học mới. Nhưng mình đừng lo. Con sẽ quen thôi mà. Còn thằng Hòa nữa, con nó lớn rồi. Nó tự biết nó phải làm gì? Anh chỉ buồn là thằng Hòa dở dang việc học hành.
- Mình ơi. Em lo quá. Từ hồi nào tới giờ không xa con. Không biết khi trái gió trở trời con nó làm sao? Em cũng sợ nó học đòi theo bạn xấu rồi làm sao hả mình? Việc học hành của con thì em làm sao biết. Mình có việc làm ăn gì khi lên xuống Cần Thơ, mình ghé thăm con chỉ dạy nó nghe mình. Em chỉ biết thương con thôi, chớ có biết gì đâu mà dạy dỗ con cái. Nhớ nghen mình. Con mà có chuyện gì chắc em không sống nổi.
Tôi thật sự rúng động và cảm nhận một gánh nặng nữa đè lên vai. Tôi đành gượng gạo trấn an:
- Mình khéo lo. Con mình không sao đâu? Còn việc chăm chút, khuyên dạy con là trách nhiệm và bổn phận của anh. Mình mệt lắm rồi nên cứ nghĩ quẫn quanh. Anh hứa với mình. Anh không bao giờ quên mình, quên con.
Cô ấy không nói gì nữa. Chúng tôi nằm bên nhau nghe một nơi xa lạ rì rầm. Trấn an cô ấy như thế, chứ thật ra là tôi lo. Thằng bé tính tình không khác gì tôi lúc nhỏ. Sự gãy đổ việc học hành dù do hoàn cảnh lúc đó. Nhưng tự thân tôi cũng góp phần vào không nhỏ. Chỉ biết hy vọng và thầm mong con biết nắm lấy cơ hội và cố gắng học hành.
            Có một cái gì đó thúc giục tôi và tôi muốn nghe cô ấy nói, dù tôi đã biết rồi:
            - Mình này. Anh hỏi thiệt mình nghe. Một mình bụng mang dạ chửa, rồi sau đó tay xách, nách mang nuôi hai đứa con cho tới bây giờ. Có khi nào vì quá khó khăn hay buồn tủi mình cảm thấy hờn giận anh không?
Cô ấy như đỉa phải vôi, chồm lên người tôi:
- Bộ mình khùng hả? Như không nói chuyện gì đâu?
- Thì anh hỏi vậy mà. Chắc là có mà mình không muốn nói với anh.
 Cô ấy im lặng một lúc khá lâu mới lên tiếng:
- Em nói mình đừng giận em nghen. Có đó. Lúc con còn nhỏ, nó thường hay hỏi “sao mà ba không về ở với má con mình hả má? Bộ ba hổng thương má con mình hả má?” Đành trả lời qua quýt. Rồi khi ngồi một mình, em giận em tại sao lại thương mình làm chi cho khổ, em giận mình mà không biết giận cái gì, nên muốn khùng luôn. Có chồng mà cũng như không, lui tới như là ma vậy. Dăm ba bữa có, còn thì chèo queo. Đi ra, đi vào có một mình ên. May mà nhờ có công việc quẩn quanh cũng làm cho em quên. Nhưng buồn nhất là những đêm trời có trăng. Con ngủ hết, em ra sau hè nhìn miếng ruộng rồi nhớ mình, giận mình, thương mình Ôi đủ thứ, tùm lum hết. Chịu hết nổi, em ngồi khóc cho đã rồi vô nhà. Rồi hai anh em nó lên Rạch Gía thấy mình đeo tòn teng trên cây thang tre mà không dám kêu. Về nhà, chúng hối em bán lúa mang tiền lên cho mình. Đến khi mình xuống, rồi mình về. Hai anh em buồn hiu gần cả tháng. May nhờ ba và cô chín khuyên nhủ giải bày. Chớ em thì miệng mồm cứng ngắc, có nói được tiếng nào với con đâu. Chỉ biết đi tới, đi lui trong nhà, ngó thấy cái hình của mình. Em muốn leo lên lấy xuống đập bỏ luôn. Nhất là thấy cái hàm râu mà phát ghét. Có lần em lấy xuống rồi đưa lên muốn đập. Nhưng em lại sợ mình vô, mình không thấy tấm hình, mình giận em. Em lại ôm cái hình một hồi rồi đem treo lên. Vậy mà trước khi treo lên còn ráng hun một cái. Đụng phải miếng kiếng lạnh ngắt. Cũng có khi em tính, khi nào mình vô, em kiếm chuyện gây lộn với mình, để mình đập em một trận rồi hai đứa bỏ nhau luôn. Nhất là thằng Hậu, thấy nó giống mình mà em phát quạu. Từ vóc dáng tới tính tình không giống em một miếng. Còn thằng Hòa nữa, nó xem mình như là ông thần. Cái gì ba nó cũng giỏi, cái gì ba nó cũng hay. Thiệt tình con thì mình đẻ, mà nó thương ai đâu không. Tức muốn ói máu. Nhất là cái hôm mình gởi mấy cái kệ hàng và mấy món phòng chống cháy gì đó. Chiều nào nó cũng lấy vỏ vọt của cô Chín chạy về, sắp món này, xếp món kia ba bốn bữa mới xong. Đã vậy mà hai anh em nó còn nói “Ba là số một“ Thấy mà phát ngứa mắt, nghe mà muốn nổ lỗ tai. Vậy mà khi mình tới là em mừng húm, quên hết trơn. Ngộ mình hén. Làm như mình có bùa vậy. Ủa mà sao mình nín thinh vậy?
- Nghe mình nói mà anh phát run.
Những gì cô ấy nói nghe như là nói giỡn, nhưng chất chứa biết bao đắng cay, tủi buồn. Ai nói làm vợ bé sướng ở chỗ nào đâu?
- Vậy thì đừng hỏi. Còn nữa. Mình biết không cái ngày mình được về, mấy mẹ con mừng quýnh. Tội nghiệp con. Chúng thấy mình trên tivi. Suốt ngày hôm sau, hai đứa trông đứng, trông ngồi. Em nhìn chúng, chạy ra chạy vào khi nghe tiếng máy dưới sông. Nhưng rồi, mình không đến. Nhìn con mà không dám khóc. Em nhìn hai anh em nó mà đứt ruột gan, nhưng không biết nói với con làm sao? Nhưng em biết là mình không thể ghé, nhưng con thì cứ chạy ra chạy vào trông ba. Nếu mà hôm đó mình ghé lại thì chắc mấy mẹ con mừng lắm. Nhưng chắc em sẽ giận mình. Dù gì cũng phải về thăm ba má trước. Phải hông mình. Rồi khi con nó lớn lên, lúc đó thì em lại sợ nó oán giận mình. Nhưng nhờ ba và bác Năm, rồi cô Chín nữa giác đác này kia nên cũng chẳng có gì. Chẳng qua là tại em sợ thôi, chứ con mình thì cũng cũng được, mình hén.
Và rồi cảm thấy như chưa bộc bạch hết cô ấy lại tiếp:
- Mình biết không? Cái gì cũng chẳng qua là cái số phận. Em có hai đứa con, mà chửa đẻ chỉ một mình, nuôi nấng, đói no, ấm lạnh một mình. May mà chúng nó ít bệnh hoạn, mà cũng dễ dạy. Còn có mình lui tới, chỉ cho em cái này, bày vẽ cho em cái khác. Hết lòng lo cho con. Mình dạy bảo cái gì, thì làm theo cái ấy, không sai một ly. Mình cho cái gì cũng cố gắng giữ gìn, nên mới được như bây giờ, em chỉ nuôi cơm thôi. Mà mình cũng ác lắm. Thương con thì phải rồi, chớ thương em làm chi mà dữ vậy. Mình thương em nhiều, mà không ở được với em, thì em nhớ mình nhiều chớ biết làm sao? Mà nhớ nhiều thì mệt, thì buồn. Nhưng thôi cũng tại em. Mà mình cũng ngộ nghen. Em xấu hoắc, quê một cục vậy mà mình cũng thương. Tưởng như vậy là xong hả. Nhiều khi nhớ mình quá. Em chẳng biết làm sao, lấy áo quần của mình ra chất chung quanh rồi ngủ, mà có ngủ được đâu? Cái mùi mồ hôi của mình đó. Nó hôi rình, vậy mà hít vào một cái là hết mệt. Nhưng lại làm cho nhớ muốn chết. Tính đi tính lại thì xem ra mình ác với em không biết bao nhiêu mà kể? Chồng người ta khi vợ làm không vừa ý thì chửi mắng um sùm, có khi còn đánh đập. Còn mình thì cùng lắm là nhăn mặt một chút thôi, rồi cứ thương tiếp. Mấy lần mình lấy cây tính đập em, em run muốn chết. Ai dè, hổng đập mà hun không. Nên em muốn giận mình cũng không giận được, tìm cái gì đó để ghét mình, tìm cũng hổng ra. Mình ác với em. Thương mình thì mệt quá, mà ghét mình thì sao mà thiệt là khó hơn lên trời.
Cô ấy chấm dứt những ẩn chứa trong lòng bằng cách dụi đầu vào ngực tôi và thả vào đó những giọt nước. Tôi muốn ngộp thở. Những lời nói không đầu không đuôi, nhắc tới, nhắc lui những hình ảnh buốt lòng. Ôi tội lỗi của tôi không biết nước sông Cái Lớn có đủ rửa sạch không. Mà nếu sạch thì chắc cũng chỉ nửa bên, còn nửa bên vẫn cứ dơ hèm:
- Anh hỏi mình một chuyện nữa thôi. Có khi nào mình nghĩ là sẽ tìm cách để anh ở luôn với mình không?
Cô ấy lặng thinh rất lâu. Cuối cùng cũng nói :
- Có. Những lúc em nhớ mình quá. Nhưng em biết là không được. Có rất nhiều chuyện không được. Em cũng nói thiệt. Em cũng sợ khi mà mình ở luôn với em, sớm muộn gì cũng rầy lộn. Mà tính của em thì lại giận dai. Với lại không biết tính ý của mình, nên thấy hơi kho khó. Thôi cái số em như vậy. Để lâu lâu mình vô, hai đứa lo mừng cũng không có đủ thì giờ, nên hơi đâu mà giận. Mình hén.
Tôi không biết mình ra sao nữa và lại càng không biết cô ấy làm sao nữa. Con cái ngần ấy tuổi rồi. Ôi… kỳ cục thiệt. Tôi đành lảng qua chuyện khác.
- Bây giờ tính sổ nghen.
Cô ấy ngước nhìn tôi :
- Tính gì mà tính. Em đã chuẩn bị đầy đủ cho con. Thế mà mấy hôm nay mình cứ xí phần. Thôi. Con thi đậu, bây giờ nhập học xong là mừng rồi. Cho mình đi theo thôi. Em lo hết. Mai em đưa tiền lại cho mình.
- Không phải tính sổ vụ lo tiền học cho con. Vụ đó xong rồi, không còn phải tính gì nữa. Mình nuôi con lớn, anh lo con học.
 - Vậy chớ vụ gì?
 - Vụ của anh với mình nè.
 Tính làm sao?
- Mình bỏ anh, lấy chồng khác là xong. Có một ông chồng ở kế một bên. Khỏi phải nhớ. Để mai mốt già mới bỏ, lúc đó mình xấu hoắc rồi lấy được ai.
Cô ấy lồm cồm ngồi dậy, mắt mở to hết cỡ, nhìn tôi, lại làm bộ giở giọng chanh chua :
- Đâu mình ngon nói lại một lần nữa coi. Mình nói việc này nhiều lần lắm rồi nghen. Phải rồi. Hai thằng con mình, em nuôi lớn hết rồi, em cũng già rồi, lại quê mùa xấu xí nữa. Muốn bỏ em để đi theo con mẹ nào thì bỏ đi. Chớ em không bỏ ai hết. Em nói thiệt. Mình ở với chị, cho vàng, em cũng không bao giờ dám ọ ẹ. Mình mà lạng quạng với con nhỏ nào khác là con nhỏ ấy chết với em. Một mình em tính không xong. Em ra khai thiệt rồi rủ chị cùng tính.
- Mình tính làm sao?
Giọng cô ấy bổng đanh lại :
- Rạch mặt, cạo đầu bôi vôi, đóng bè chuối thả trôi theo sông Cái.
Chỉ là câu chuyện tưởng tượng. Nhưng mắt cô ấy long lên góp vào khuôn mặt với vết thẹo dữ dằn kia làm cho tôi phát hoảng. Ghê thật. Ánh mắt của những con sư tử cái lúc long lên cũng đến thế là cùng. Tôi nhìn cô ấy, vừa lạ lẫm vừa tức cười, rồi đưa tay choàng vai cô ấy :
- Còn anh thì mình tha.
- Phải rồi. Chồng em mà.
Cô ấy ôm lấy tôi và thực hiện ý định của mình. Và như thường lệ tôi lại phải chiều theo. Đôi môi ấy mọi khi thì e dè chờ đợi và sau đó là hưởng ứng. Vậy mà hôm nay thì nó hoàn toàn làm chủ, ban đầu là những ngập ngừng gợi mở và sau đó thì cuống quýt, dữ dội thả vào tôi những hơi thở thơm tho đến chết lịm cả người. Có lẽ do khung cảnh lạ hay do giải quyết xong một nỗi lo hoặc một điều gì đó, như là vừa trút hết nỗi niềm. Cô ấy tỏ rõ một sự hưng phấn mà tôi không ngờ được. Cô hoàn toàn chủ động trong mọi động thái của mình, rất mực dịu dàng, nhưng sự cuồng nhiệt vượt lên quá đỉnh điểm và luôn kêu gọi sự yêu chiều của tôi. Tôi bị cuốn vào, nhất nhất chiều theo ý muốn của cô ấy bằng hết sự đắm say của mình, cho đến khi mọi thứ bùng lên, cô ấy quấn chặt lấy tôi bằng một sức mạnh mà tôi không ngờ được, nhưng rồi cũng êm đềm lắng xuống. Tôi nhẹ nhàng rời khỏi vòng tay đã buông lỏng ấy. Cô ấy vẫn còn đang đắm chìm trong lạc thú yêu đương. Tôi sửa lại cho cô cái gối kê đầu, vuốt lại mái tóc cho suông sẻ. Hôn cô ấy nhẹ nhàng, ve vuốt dịu dàng. Tôi rời giường, đi tìm một ly nước. Ly nước làm tôi bình tỉnh lại. Tôi đứng tựa lưng vào tường, nhìn thân thể của cô ấy lấp lóa dưới ánh đèn ngủ màu hồng. Cô ấy nằm yên, nhịp thở làm phập phồng khuôn ngực no đầy. Ánh đèn ngủ, dù không sáng lắm cũng đủ sức làm long lanh vài giọt mồ hôi trên trán. Đôi mắt khép hờ, tận hưởng những giây phút tuyệt vời còn sót lại của cuộc ái ân. Suối tóc mượt mà dài như vô tận, chảy lượn lờ theo sự xô lệch, nghiêng ngả của gối chăn. Màu đen tuyệt vời ấy làm rạng rỡ khuôn mặt mang một vẻ đẹp của hạnh phúc, yên bình của cuộc sống. Tôi nhìn ngắm cái thân thể hơi đẫy đà, rắn chắc của người đàn bà quen tay lấm chân bùn. Một màu trắng ram rám nắng hồng tạo nên một cái ngấn, vòng theo viền cỗ áo bà ba, nó không bị cái trắng ngà của hai bờ vai tròn lẳng, khuôn ngực đầy đặn lấn át, mà còn làm tôn thêm vẻ khỏe khoắn và cứng cõi. Đôi chân tròn khỏe mạnh với một thô ráp duy nhất là hai bàn chân vì quen lam lũ. Tất cả màu sắc tuyệt vời ấy đã được ánh đèn hồng làm cho đậm đà thêm. Hơn bốn mươi tuổi, cả một đời quẩn quanh nơi ruộng đồng, chưa bao giờ có cái ý nghĩ sẽ cùng với phố phường, cùng với phấn son. Không có một ý thức nào trong việc giữ gìn thân thể, ngoài sự sạch sẽ, tinh tươm và sinh hoạt giản đơn. Cô ấy luôn luôn như vậy, đẹp đẽ, khỏe mạnh, đầy ắp khát vọng yêu thương, đầy ắp khát vọng yêu đương. Cô ấy đang hạnh phúc, rất hạnh phúc. Hạnh phúc đang trùm khắp cả thân thể đang phô bày trọn vẹn cho riêng tôi. Và tôi cũng thế. Bởi vì mỗi lần tôi ôm thân thể ấy trong vòng tay mình, thì mỗi lần có cảm giác, đó là một phần thân thể của tôi và tôi biết chắc là cô ấy cũng như thế. Và hôm nay tôi và có lẽ cả cô ấy đều nhận ra là; bao giờ chúng tôi cũng có những lần ái ân tuyệt diệu. Chúng tôi có đủ lý do để đến với nhau bằng hết những say đắm của mình. Chúng tôi đáp ứng những cảm xúc của chúng tôi. Chưa bao giờ chúng tôi tách rời nhau ra để cho người này chiều chuộng người kia. Hôm nay cũng thế. Nhưng lý cớ thì lại khác hơn. Mới mẽ và kỳ thú. Có lẽ, từ ngay trong tiềm thức, việc hai đứa con trưởng thành đã tạo ra cho chúng tôi sự hài lòng và những cảm xúc tuyệt diệu này như là một phần thưởng dành cho sự cố gắng của chúng tôi. Có thể đây là lần đầu tiên tôi nhìn một người đàn bà yêu dấu của tôi theo quan điểm tạo hình. Nhìn thấy cây viết trên bàn, một ý nghĩ điên khùng nảy ra trong đầu, tôi muốn ký họa cái hình ảnh tuyệt vời này. Nhưng may mắn thay, tôi chợt hiểu ra là vóc dáng ấy, tính cách ấy và cả những xúc cảm nữa, tất cả đã hằn sâu vào trong tâm hồn tôi. Nên những đường nét kia, dù tôi có tài hoa cách mấy cũng không thể nào thể hiện được ý muốn của mình, huống hồ chi tôi chỉ là một tên thợ vẽ làng nhàng. Thực tình tôi chưa bao giờ nhìn ngắm kỹ càng con người mà tôi luôn luôn nhớ thương này. Mỗi lần tôi tìm đến là quấn quýt lấy nhau, chìm đắm vào nhau, biết nhau qua cảm xúc và sau đó là ngậm ngùi xa cách. Có phút giây nào cho tôi nhìn ngắm được đâu. Thế mà hôm nay, hình như con người của hai mươi năm trước vẫn y như ngày nào, từ thể chất đến tính cách. Vết sẹo nơi mặt cũng thế, nếu có khác thì là giờ đây nó là một dấu ấn của một vị Quân Vương đầy quyền lực ấn trên chiếu chỉ, báo cho mọi người trong vương quốc tình yêu của Ngài biết rằng; con người đó là của tôi và chỉ là của tôi thôi. “Quân tử bất hý ngôn” . Không thể nào thay đổi. Tôi chợt nhớ lại đêm trăng ngày nào. Tôi đã ngắm nhìn cô như thế dưới ánh trăng. Hình ảnh đó đã cuốn hút chúng tôi vào cõi diệu kỳ. Sau đó, cũng lại là trăng, một vệt trăng soi qua vách lá. Vệt trăng nhỏ xíu ấy chỉ cho tôi biết đâu là nơi khởi nguồn và nơi nào là bến bờ hạnh phúc. Giờ đây tôi mới hiểu rạch ròi. Cô ấy là nơi tôi khao khát tìm về và cũng là một lo âu cả đời tôi không thể nào kham nổi. Mỗi lần nhìn cô không một manh vải trên người, tôi có một cảm giác như mình đang bơi trong một thế giới tuyệt diệu đã được thu nhỏ lại. Ở đó đầy những hạnh phúc và âu lo. Tất cả vừa rõ ràng, cụ thể vừa mơ hồ, huyền bí. Tất cả như đang thúc giục tôi tìm kiếm những ước mơ và biến nó thành một thứ gì sờ nắn được, cầm nắm được và khát khao sở hữu. Và tôi chợt nhớ ra cái hơi thở của cô ấy. Cái hơi thở luôn luôn trùm khắp lấy tôi. Bao giờ nó cũng nồng nàn và càng lúc càng đậm đà hơn khi lên đến đỉnh điểm của yêu đương và sau đó là lan tỏa là thấm đẫm vào tôi. Khi gần thì đã đành, mà khi xa thì thoang thoảng gọi về.
Tôi nhẹ nhàng bước đến, nằm xuống kề bên. Giờ đây, như thường lệ, cô ấy lại cuốn hút tôi bằng mùi hương thơm thơm ấy. Nhưng lần này tôi vẫn nằm yên, nôn nao đợi chờ và sẵn sàng cho sự kêu gọi tiếp theo.
     “Chim quyên ăn trái nhản lồng,

Thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi.”

     Em thoang thoảng mùi mồ hôi,
Thêm mùi lá bưởi, cộng mùi hoa chanh.
     Đã  làm  cho  đắm  say  anh,
Cái hương quê ấy thị thành đành thua.
     Vậy  mà  anh  lại  lơ  ngơ ?
Choáng hơi hướm lạ giở trò tham sang.
     Không quen, nên quá ngở ngàng,
Cũng may hương cũ chưa sang mũi người.
     Hết  hồn,  từ  đó  đành  thôi…
Để trăm năm đắm đuối mùi hương em.
Cô ấy trở mình và ôm choàng lấy tôi. Bao nhiều lần trong giấc ngủ, khi trở mình thức giấc việc đầu tiên của chúng tôi là ôm lấy nhau, dụi dầu vào bất cứ nơi nào trên thân thể của nhau và hít cho đầy buồng phổi cái hơi hướm đắm mê. Bây giờ thì cũng thế. Cái mùi vợ chồng quen thuộc đầy hấp lực này, làm cho bài thơ vừa thoáng nghĩ, đã trở nên thuộc làu vì nó trộn lẫn vào một thứ đã trở thành không khí của ân tình. Ôi. Thơ là một thứ ngôn ngữ mơ mộng hão huyền, nhưng luôn luôn được dùng để diễn tả những đắm say có thật. Mùi hương này làm sao bay qua mũi người cho được. Chỉ dành cho tôi mà. Đã có rồi chiếu chỉ của Quân Vương. Vâng chỉ có tôi mới có có thể và có quyền cảm nhận được sự mê say từ thân thể này. Nhưng dù sao, thân thể ấy đang tỏa hương. Bổng nhiên tôi hiểu tại làm sao mà mỗi lần tôi vào là mỗi lần tôi bị cô ấy lấy mất một bộ quần áo. Có lẽ lần này cũng thế. Ôi tại sao tôi không thể cho cô ấy cả tôi mà chỉ cho cô ấy một thứ dư hương chẳng thơm tho gì lắm.
Cuối cùng, tôi hiểu ra. Tạo hóa đã cho con người một tặng vật tuyệt vời. Mùi của bản thân. Mùi của mình cho một người và nhận lại của người đó cũng y như thế. Nhưng con người lại cảm nhận không đủ cái mùi của ai đó và cũng không biết gìn giữ cái của mình. Kẻ thô bỉ thì làm mình trở thành hôi hám. Người tự nhận là lịch sự thì tìm cách triệt tiêu và tự khinh bỉ lấy cái tự có của mình. Tôi đã được dạy cho biết điều này, chẳng tận tường về lý thuyết nhưng lại rất thông thuộc khi thực hành. Nhưng thỉnh thoảng, tôi cũng như phần đông khác bị phân tâm về mùi giả của hoá mỹ phẩm. Nhưng tôi lại bị cái mùi thật của cô ấy đánh gục từ rất lâu mà không hay biết. Cô ấy thì biết gìn giữ một cách rất giản đơn cái mùi của mình, để cho luôn luôn không bị pha trộn một thứ gì khác. Đó là vũ khí của cô. Bổng nhiên tôi nhớ lại bức thư của Napoléon từ chiến trường gởi về cho Joséphine “… em đừng tắm, tuần nữa anh về…” Có ai đơm đặt  một cách quá đáng cho vị Hoàng đế đa tình này không? Có lẽ nào cái hấp lực của cái mùi vợ chồng “ghê gớm” đến thế sao?

Sáng hôm sau. Chúng tôi trả phòng, ra ký túc xá dặn dò con thêm một lần nữa rồi về Rạch Giá. Để làm giảm đi sự mệt nhọc vì sự không quen đi xe, đi xa của cô ấy. Tôi bao một chiếc taxi. Cô ấy nhìn tôi vừa hờn trách vì cho rằng tôi tiêu hoang, vừa hạnh phúc vì được quan tâm chăm sóc, mà cái nào thì cũng lớn như nhau. Và để gia cố thêm cho ân tình đó, cô ấy lại những cằn nhằn về chuyện mà cô cho là tôi lo lắng cho hai thằng bé quá nhiều. Tôi nói ra ý định đưa cô ấy về Xẻo Kè. Nhưng cô ấy đã phải hết sức cố gắng để chối từ. Chối từ quyết liệt. Và tôi hiểu tại sao cô ấy làm thế. Luôn luôn tìm mọi thứ dễ dàng cho tôi. Điều đó có nghĩa là cô chấp nhận thiệt thòi về phía mình.
Nghĩ về những đứa con, tôi yên tâm. Chí ít tôi đã có dịp để thể hiện vai trò của một người cha. Điều quan trọng không phải là tôi lo lắng cho con mình bằng những đồng tiền hay bất cứ một phương tiện vật chất nào. Mà việc tôi cảm thấy nhẹ nhõm là ba đứa con, thì hai đứa đang có những biểu hiện nên người. Nhưng lời cảnh báo của cô ấy làm cho tôi cảm thấy mình cần phải cố gắng nhiều hơn. Nội dung bài báo mà hai cha con cùng đọc quả tình có làm tôi băn khoăn, giờ đây nó lại tác động vào sự cố gắng của tôi. Còn cái nét quê mùa của cô ấy ư. Hãy cứ như thế để cho tôi say đắm. Tôi có ích kỷ lắm không? Sao cũng được. Tôi yêu cô ấy là đủ. Mấy ngày ở Cần Thơ, đôi mắt rực sáng của cô ấy nhìn cha con tôi rù rì với nhau. Ôi có đôi mắt nào đẹp hơn thế nữa.
Nhớ đến vợ con tôi ở nhà, tôi cảm thấy mình luôn luôn có lỗi. Giờ này, hai mẹ con đang nghĩ rằng tôi đi quan hệ làm ăn ở một nơi nào đó, đang trần lưng cực khổ vì gia đình. Cả hai đâu có ngờ là đang bị chia nửa yêu thương. Thà như ba mẹ con Út Giữa, họ biết rõ họ như thế nào trong cuộc đời tôi và cam tâm chấp nhận thiệt thòi. Tôi làm điều gì đó cho vợ con tôi ở nhà, dù hoàn hảo đến đâu cũng không là gì cả. Sự gian dối không thể nào thứ tha. Vợ tôi thì tôi có thể lấp liếm cho qua, nhưng con bé, tôi phải làm gì đây, nói thế nào cho đúng tư cách một người cha?!
Bao nhiêu người đàn bà đi qua đời tôi. Tôi đã biết làm thế nào để tự kềm chế bản thân. Để khi rời xa không để lại những ân hận, những trái lòng, để khi gặp lại là nụ cười vô thưởng vô phạt của một thứ ân tình đã mịt mù trong quá khứ. Nhưng với Út Giữa thì tại sao? Tại ải, tại ai hay tại cả hai. Nhưng có lẽ là chỉ tại tôi thôi. Và tôi không hiểu tại sao lại như thế? Chuyện như vậy, sát một bên mà không một ai hay biết. Hên chăng?
Trong khi tôi đang chìm đắm trong ý nghĩ chua chua ngọt ngọt của mình. Cô ấy tựa đầu vào vai tôi, hỏi nhỏ:
 - Mình ơi. Vợ chồng người ta có như vợ chồng mình không, hả mình?
 Tôi không hiểu cô ấy muốn hỏi gì, nhưng cũng trả lời:
- Đâu có ai giống ai đâu? Mà chuyện của người ta làm sao mà mình biết.
- Vậy mà cũng nói. Nhưng em em thấy em kỳ kỳ?
- Kỳ làm sao?
- Hồi đêm. Mình có thấy em có giống như con mẹ điên không ?
Tôi lại không hiểu cô ấy muốn nói gì :
- Điên. Anh có thấy gì đâu?
Mặt cô ấy đỏ lên, ấp úng nói nhỏ, như sợ tài xế nghe:
- Già rồi, con cái lớn hết mà em như thế. Em sợ mình
- À. Thì ra là vậy. Nhưng có sao đâu? Mọi người chắc cũng vậy thôi. Như vậy mới thương nhau tới già được? Với lại mình thương chồng mình mà, có gì đâu phải sợ.
- Thiệt vậy hả mình? Vậy mà em cứ sợ mình nói em Đã vậy mà hồi gần sáng lúc mình chiều em xong. Em nhìn mình ngủ. Em em 
Trong câu chuyện, đã nhiều lần cô ấy bỏ lửng. Tôi biết tại sao và tôi cảm nhận nỗi xôn xao trong lòng mình. Tôi nhìn bầu trời lướt nhanh qua khung cửa kính. Trời hôm nay thật trong, thật xanh dù là tháng chín mùa mưa. Nhưng cũng có một vài gợn mây. Tôi hỏi cô ấy như muốn xua đi những gợn mây ấy trong lòng:
- Em làm sao?
Cô ấy dụi đầu vào ngực tôi, nói nhỏ:
- Thôi. Em hổng nói.
Tôi biết cô ấy muốn nói gì. Tôi bảo:
- Hổng nói anh cũng biết.
- Mình biết làm sao?
- Mình muốn ăn thịt anh chứ gì. Nhưng thịt của anh dai nhách mà hôi rình mùi nuớc sơn nữa?
            Cô ấy mở to mắt nhìn tôi, ngạc nhiên:
            - Ủa. Sao mình biết. Mà em chỉ muốn thế thôi. Chứ làm sao mà nỡ ăn thịt mình, mình hén. Những lúc như thế, đụng đâu em cắn mình ở đó, tính cắn thật mạnh, nhưng không hiểu sao tự nhiên hai hàm răng ghìm lại, chắc là sợ mình đau. Vậy mà em nói em điên mình hổng chịu. Cái gì của em mình cũng biết hết trơn. Bộ mình thương em lắm hả mình?
            Tôi không trả lời, choàng tay siết chặt cô vào lòng. Và thân thể ấy run lên. Ôi. Phải chi chiếc xe là một căn phòng.





            [i] Lúc đó chưa đổi tên là Cảnh Sát Đặc Biệt.
[ii] Ca khúc Nhớ Một Người của Minh Kỳ
[iii] Một nhân vật nỗi tiếng ăn chơi thời Pháp thuộc
           [iv] Ca khúc của Nguyễn Hữu Thiết
           [v] Ca khúc của Hoàng Thi Thơ
           [vi] Ca khúc của Cung Tiến
           [vii] Ca khúc của Từ Công Phụng
           [viii] Nguyên tác: Đỗ Thu Nương. Bản dịch. Nguyễn Hiền Nhu
           [ix] Bản dịch của Phạm Hiền
      [x] HOÀNG HẠC LÂU
Tích niên dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu ?
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
THÔI HIỆU
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu.
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng bay mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông lạnh cây bày,
Bãi xa Anh vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng tà dương,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
                   TẢN ĐÀ

          [xi] Bản dịch của Phạm Hiền
          [xii] Trước năm 1975. Những người lính Sài Gòn gọi rượu đế là nước mắt quê hương

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét